Tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý?

Huỳnh Anh 2,004 lượt xem
10:00 | 25/06/2026
Tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý, chi tiết ra sao?
Nội dung chính
  1. Tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý?
  2. Tải về bảng tra cứu tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN năm 2026 cho từng đối tượng theo Luật BHXH mới nhất?
  3. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2026 ra sao?

Tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý?

Ngày 17/6/2026, Bộ Nội vụ đã công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (sau đây gọi là dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi) dự kiến có hiệu lực từ 01/3/2027.

>> Tải về dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi

Theo đó, Cụ thể, thông tin tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý như sau:

(1) Đề xuất hỗ trợ tiền đóng BHXH bắt buộc cho chủ hộ kinh doanh và một số nhóm đối tượng khác

Một điểm mới đáng chú ý tại khoản 5 Điều 6 và khoản 9 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được sử đổi, bổ sung bởi dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi là bổ sung chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH đối với một số người tham gia BHXH bắt buộc.

Theo đó, Nhà nước không chỉ hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mà còn hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc các đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

Các nhóm đối tượng này gồm:

Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

Vợ hoặc chồng đi theo thành viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;

Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh;

Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước hoặc phần vốn của doanh nghiệp không hưởng tiền lương.

Đồng thời, dự thảo bổ sung khoản 9 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 giao Chính phủ quy định cụ thể mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời gian thực hiện chính sách.

Đây là điểm hoàn toàn mới bởi Điều 6 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện chỉ quy định Nhà nước hỗ trợ tiền đóng đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

(2) Người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội sẽ không được tham gia BHXH tự nguyện

Khoản 1 Điều 1 dự thảo sửa đổi Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng bổ sung người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội vào nhóm không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

Cụ thể, điểm a khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được sửa đổi quy định người từ đủ 15 tuổi trở lên chỉ được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nếu không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và không phải là người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội.

Đồng thời, điểm a khoản 7 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cũng bổ sung người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội vào nhóm không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

Đây là nội dung mới bởi Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện hành chưa đề cập đến đối tượng đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

(3) Đóng BHXH lẻ từ 1 tháng có thể được tính 0,25 năm khi xác định mức hưởng

Dự thảo sửa đổi khoản 6 Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng chi tiết hóa cách quy đổi thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ khi tính mức hưởng chế độ.

Cụ thể:

- Từ 01 đến 03 tháng được tính là 0,25 năm;

- Từ 04 đến 06 tháng được tính là 0,5 năm;

- Từ 07 đến 09 tháng được tính là 0,75 năm;

- Từ 10 đến 11 tháng được tính là 01 năm.

Trong khi đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện hành chỉ quy định:

- Từ 01 đến 06 tháng được tính là nửa năm;

- Từ 07 đến 11 tháng được tính là một năm.

Như vậy, dự thảo đã chia nhỏ hơn các khoảng thời gian tháng lẻ nhằm phản ánh chính xác hơn thời gian đóng thực tế của người lao động khi tính mức hưởng lương hưu hoặc trợ cấp tử tuất hằng tháng.

(4) Đề xuất bỏ quy định giấy ủy quyền nhận lương hưu chỉ có hiệu lực tối đa 12 tháng

Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo là sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 10 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 theo hướng đơn giản hóa thủ tục ủy quyền trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Theo Phương án 1 của dự thảo, người tham gia và người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội được ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện bảo hiểm xã hội và việc ủy quyền được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.

Đáng chú ý, dự thảo không còn quy định riêng đối với trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ khác.

Trong khi đó, điểm d khoản 2 Điều 10 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện hành quy định văn bản ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ khác chỉ có hiệu lực tối đa 12 tháng kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Đồng thời, văn bản ủy quyền bắt buộc phải được chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực.

(5) Doanh nghiệp không có công đoàn cơ sở được tự quyết thời gian nghỉ dưỡng sức của người lao động

Tại khoản 19 và khoản 20 Điều 1 dự thảo, cơ quan soạn thảo đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 46 và khoản 2 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 liên quan đến chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau và sau thai sản.

Theo dự thảo, thời gian nghỉ dưỡng sức vẫn do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì người sử dụng lao động quyết định trên cơ sở đề nghị của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở.

Tuy nhiên, dự thảo bổ sung thêm trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở hoặc thuộc trường hợp không tổ chức công đoàn cơ sở theo quy định thì người sử dụng lao động được quyền quyết định thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe của người lao động.

So với Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện hành, đây là nội dung mới. Khoản 2 Điều 46 và khoản 2 Điều 60 hiện chỉ quy định trường hợp đơn vị chưa có công đoàn cơ sở thì người sử dụng lao động quyết định thời gian nghỉ dưỡng sức, chưa đề cập đến trường hợp doanh nghiệp thuộc diện không tổ chức công đoàn cơ sở theo quy định pháp luật.

Đáng lưu ý, dự thảo không thay đổi điều kiện hưởng, mức hưởng hoặc số ngày nghỉ dưỡng sức tối đa hiện hành.

(6) Sổ BHXH điện tử sẽ là hình thức chính, sổ giấy chỉ cấp khi có yêu cầu

Khoản 12 Điều 1 dự thảo sửa đổi khoản 2 Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Theo dự thảo, sổ bảo hiểm xã hội được cấp bằng bản điện tử. Đối với sổ bảo hiểm xã hội bằng bản giấy, cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ cấp khi người tham gia có yêu cầu và sổ giấy có giá trị pháp lý như bản điện tử.

Như vậy, dự thảo đã xác định rõ sổ bảo hiểm xã hội điện tử là hình thức quản lý mặc định, còn sổ giấy chuyển sang cơ chế cấp theo nhu cầu của người tham gia.

Bên cạnh đó, khoản 13 Điều 1 dự thảo còn sửa đổi Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng tăng cường giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, đồng thời giao Chính phủ quy định việc thay thế hoặc cắt giảm thành phần hồ sơ hành chính trên cơ sở khai thác dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

(7) Dự kiến thay đổi cách điều chỉnh tiền lương đóng BHXH để tính lương hưu

Một nội dung kỹ thuật nhưng có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi người lao động là sửa đổi Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 về điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Theo dự thảo sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 73, đối với người lao động hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01/01/2016, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội sẽ được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của mức tham chiếu của từng thời kỳ.

Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội trước ngày Luật mới có hiệu lực sẽ được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời điểm Luật có hiệu lực trước khi chuyển sang điều chỉnh theo mức tham chiếu.

Trong khi đó, Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện hành chưa có cơ chế chuyển tiếp này.

(8) Chính phủ được quyết định giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội xuống 70 tuổi

Một trong những đề xuất đáng chú ý liên quan đến chính sách an sinh xã hội là sửa đổi khoản 3 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

Theo quy định hiện hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan quyết định việc điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Tuy nhiên, theo Phương án 2 của dự thảo, Chính phủ sẽ được trao thẩm quyền quyết định giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội xuống đủ 70 tuổi căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách.

Trường hợp tiếp tục giảm xuống dưới 70 tuổi thì Chính phủ vẫn phải trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Như vậy, dự thảo đã phân định rõ hơn thẩm quyền giữa Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tạo cơ chế điều hành linh hoạt hơn trong quá trình thực hiện chính sách trợ cấp hưu trí xã hội.

(9) Thay đổi thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai về bảo hiểm xã hội

Dự thảo sửa đổi Điều 130 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 liên quan đến thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Theo điểm b khoản 3 Điều 130 được sửa đổi, người khiếu nại có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện tại Tòa án.

Đồng thời, điểm b khoản 4 Điều 130 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cũng xác định Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Trong khi đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 hiện hành đang sử dụng khái niệm "Thủ trưởng cơ quan bảo hiểm xã hội cấp trên trực tiếp".

Việc thay đổi cách quy định này nhằm phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới của cơ quan nhà nước sau quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức.

Tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý?

Tóm tắt những điểm đáng lưu ý của dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cập nhật ngày 17/6/2026 mà doanh nghiệp cần lưu ý? (Hình từ Internet)

Tải về bảng tra cứu tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN năm 2026 cho từng đối tượng theo Luật BHXH mới nhất?

Hiện hành, Luật BHXH mới nhất hiện đang áp dụng là Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 29/6/2024.

Theo đó, căn cứ tại Điều 32 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:

- 3% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ ốm đau và thai sản;

- 22% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Cụ thể, căn cứ theo các quy định tại Điều 33 và 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024; Điều 6 Nghị định 188/2025/NĐ-CP; Điều 43 Nghị định 158/2025/NĐ-CP; Điều 33 Luật Việc làm 2025 thì tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN năm 2026 chi tiết như sau:

Trong đó:

- HT: Quỹ hưu trí, tử tuất

- ÔĐ-TS: Quỹ ốm đau, thai sản

- TNLĐ-BNN: Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

- BHTN: Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

- BHYT: Quỹ bảo hiểm y tế

Như vậy, căn cứ các quy định trên tổng mức đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN năm 2026 vẫn là 32% mức lương làm căn cứ đóng, trong đó người lao động đóng 10,5% và doanh nghiệp đóng 21,5%.

Đồng thời, theo Công văn 526/BHXH-QLT năm 2025 hướng dẫn đăng ký, kê khai bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế. Thì bảng tra cứu tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN năm 2026 chi tiết cho từng đối tượng như sau:

>> Tải về và xem chi tiết bảng tra cứu tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN năm 2026 cho từng đối tượng.

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2026 ra sao?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 01/07/2025, cụ thể như sau:

- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);

- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;

- Đối tượng quy định tại các điểm đ, e và k khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc do Chính phủ quy định;

- Đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được lựa chọn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

Sau ít nhất 12 tháng thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đã lựa chọn thì người lao động được lựa chọn lại tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

Huỳnh Anh
Huỳnh Anh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế khác Xem thêm

Bài viết mới nhất