Vì sao tiền điện thoại, xăng xe và các khoản lương doanh số, lương KPI bị truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội?
ĐÃ CÓ: Lịch hoán đổi ngày nghỉ lễ 2/9/2026 kéo dài kỳ nghỉ lễ liên tiếp 05 ngày cho người lao động cả nước
CẬP NHẬT: Doanh thu dưới 1 tỷ được miễn thuế TNDN 2026 quy định tại văn bản nào?
Theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Đồng thời, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội đã có Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH năm 2025 hướng dẫn về tiền lương làm căm cứ đóng BHXH bắt buộc.
>> Tải về Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH năm 2025
Theo đó, tại Mục 2 Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH năm 2025 nêu rõ chi tiết 14 khoản phụ cấp không phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể như sau:
Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội, Bộ Nội vụ nhận được văn bản ngày 01/8/2025 của Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc (sau đây viết là Nghị định số 158/2025/NĐ-CP), Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội có ý kiến như sau:
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 và quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 158/2025/NĐ-CP.
Theo quy định tại các văn bản nêu trên, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định là tiền lương tháng, bao gồm: (i) Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; (ii) Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; (iii) Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
2. Đối với các chế độ và phúc lợi khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ)1, không phải là tiền lương làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại khoản 1 nêu trên.
...
Theo đó, hướng dẫn của Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội nêu rõ các khoản phụ cấp ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động sẽ không phải là tiền lương làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Từ đó, dẫn chiếu quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT- BLĐTBXH hướng dẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động như sau:
Nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động
...
5. Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được quy định như sau:
...
c) Các khoản bổ sung khác theo thỏa thuận của hai bên như sau:
c1) Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương;
c2) Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trả thường xuyên hoặc không thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động.
Đối với các chế độ và phúc lợi khác như thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác thì ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động.
...
Do đó, từ những hướng dẫn trên 14 khoản phụ cấp ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định pháp luật sẽ không phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể như sau:
(1) Thưởng phụ cấp chuyên cần cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động;
(2) Tiền thưởng sáng kiến;
(3) Tiền ăn giữa ca;
(4) Hỗ trợ xăng xe;
(5) Hỗ trợ điện thoại;
(6) Hỗ trợ đi lại;
(7) Hỗ trợ tiền nhà ở;
(8) Hỗ trợ tiền giữ trẻ;
(9) Hỗ trợ nuôi con nhỏ;
(10) Hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết;
(11) Hỗ trợ khi người lao động có người thân kết hôn;
(12) Hỗ trợ khi người lao động có sinh nhật;
(13) Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động;
(14) Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị bệnh nghề nghiệp.
Như vậy, "vì sao tiền điện thoại, xăng xe và các khoản lương doanh số, lương KPI bị truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội?"
Theo đó, việc truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào doanh nghiệp thỏa thuận hợp đồng với người lao động ra sao. Nhưng quy định theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì những khoản chi không đóng bảo hiểm xã hội nhưng doanh nghiệp lại ghi thành những mục riêng trong hợp đồng lao động và được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Giả sử: Doanh nghiệp thỏa thuận hợp đồng lao động với người lao động là 15 triệu/tháng nhưng trong hợp đồng lại thể hiện tổng thu nhập trong tháng bao gồm cả tiền điện thoại, tiền xăng xe, tiền ăn trưa, tiền thưởng sáng kiến, các khoản phúc lợi khác và các khoản lương doanh số, lương KPI,... nên khi cơ quan thanh tra kiểm tra thì doanh nghiệp có khả năng bị truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội.
Do đó, những khoản có tính chất phúc lợi cho người lao động và được ghi riêng từng khoản trong hợp đồng lao động thì không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Thông tư 10/2020/TT- BLĐTBXH.
Ví dụ: tiền điện thoại, xăng xe, tiền ăn trưa, tiền nhà ở, tiền hỗ trợ nuôi con nhỏ, tiền thưởng sáng kiến... (gọi tắt là khoản chi phúc lợi) của người lao động thì phải ghi riêng từng mục với tiền ăn trưa bao nhiêu, tiền điện thoại bao nhiêu, tiền xăng xe bao nhiêu,... nhưng phải được hưởng theo ngày thực tế phát sinh và ghi riêng từng khoản mục như lương 10 triệu, tiền ăn 1 triệu, tiền xăng xe 500 nghìn,... phải ghi rõ và chia theo ngày công thực tế người lao động đi làm.
Tránh trường hợp trong hợp đồng thể hiện một tháng người lao động được hưởng một số tiền cố định nhưng trong tháng lại chỉ đi làm 3 - 4 buổi thì sẽ không phù hợp.
Đối với các khoản lương doanh số, lương KPI bị truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội cũng sẽ phụ thuộc vào khoản chi trả thường xuyên, cố định ở trên bảng lương hay không.
Nếu không có quy chế thưởng/KPI hoặc có nhưng không ghi rõ điều kiện, mức hưởng cụ thể; Thiết kế khoản lương doanh số, lương KPI thành khoản lương cố định trả đều nhưng lại nói là thưởng hiệu suất sẽ dễ bị truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội.
Thông thường, khoản lương doanh số, lương KPI là khoản chi theo thực tế phát sinh vì những khoản này phải có chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công việc, mà đánh giá hiệu suất công việc thì không thể tháng nào cũng giống tháng nào, không thể tháng nào doanh số cũng bán giống nhau.
Ví dụ: Người lao động được hưởng doanh số 5% hay 10% hay 15%, chỉ tiêu đánh giá thì phải căn cứ vào doanh số được hưởng để từ đó tính ra được khoản lương doanh số, lương KPI cho người lao động
Nếu trường hợp, bảng lương 12 tháng nhưng tháng nào khoản lương doanh số, lương KPI cũng giống nhau, không có mức độ đánh giá về khoản này thì đồng nghĩa là khoản có tính chất cố định và sẽ phải đóng bảo hiểm xã hội.
THỐNG NHẤT: Chính thức thay đổi Lịch nghỉ lễ 30 4 và 01 5 năm 2026 để người lao động được nghỉ liên tiếp 04 ngày
Xem thêm
>>> Những khoản trợ cấp nào mà vừa không tính đóng BHXH, vừa không tính thuế TNCN?
>>> Khi nào khoản tiền ăn trưa không đóng thuế TNCN, không tính đóng BHXH từ 01/07/2026?
>>> Từ 01/07/2026, khoản phụ cấp, trợ cấp nào không tính thuế TNCN, không tính đóng BHXH?
>>> Các khoản thu nhập được miễn thuế TNCN nhưng vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế từ 01/07/2026?
>>> Nghị định 253: Tiền điện thoại, xăng xe, trang phục có được trừ khi tính thuế TNCN không?

Vì sao tiền điện thoại, xăng xe và các khoản lương doanh số, lương KPI bị truy thu và bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội? (Hình từ Internet)
Hành vi gian lận bảo hiểm xã hội bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Căn cứ vào Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tội gian lận bảo hiểm xã hội như sau:
Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;
b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo quy định trên, hành vi gian lận bảo hiểm xã hội sẽ bị phạt tiền và phạt tù tùy vào tính chất của từng hành vi, cụ thể như sau:
* Phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm nếu thực hiện một trong các hành vi sau đây nhằm chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 10 - dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 - dưới 200 triệu đồng:
- Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, BHTN.
- Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan BHXH để hưởng các chế độ BHXH, BHTN
* Phạt tiền từ 100 - 200 triệu đồng; hoặc phạt tù từ 01 - 05 năm nếu: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 100 - dưới 500 triệu đồng;
- Gây thiệt hại từ 200 - dưới 500 triệu đồng;
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
- Tái phạm nguy hiểm.
* Phạt tù từ 05 - 10 năm: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 500 triệu đồng trở lên;
- Gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên.
Mức phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Doanh nghiệp trả lương qua chuyển khoản như thế nào để đúng luật và không vi phạm bảo hiểm xã hội?
Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định về các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
...
Đồng thời, tham khảo thêm Công văn 218/CST-TN năm 2026 hướng dẫn áp dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khi thanh toán tiền lương, tiền công cho người lao động.
Theo đó, từ nay việc trả lương từ 5 triệu đồng trở lên bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được xác định là khoản chi được trừ khi tính thuế TNDN trong kỳ cũng như là được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
Như vậy, doanh nghiệp phải trả lương qua chuyển khoản như thế nào để đúng luật và không vi phạm bảo hiểm xã hội?
Thông thường, khi doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động một khoảng tiền lương mà không phân biệt rõ đâu là khoảng thu nhập cố định phải đóng BHXH theo luật định và đâu là các khoản phụ cấp không phải đóng BHXH.
Do đó, khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động lo lắng rằng phải đóng BHXH 100% cho người lao động hay không?
Để đảm bảo đúng luật, doanh nghiệp nên phân bổ tiền lương một cách rõ ràng. Ví dụ hiện nay tiền lương cơ bản không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP.
Giả sử: Vùng 1 ở Thành Phố Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh đang là 5.310.000 đồng đối với người lao động Vùng 1 thì không doanh nghiệp không được trả lương thấp hơn mức này.
Đối với các khoảng phụ cấp như xăng xe, điện thoại, chuyên cần cũng không phải đóng BHXH nhưng cần quy định rõ theo ngày công và biến động theo hằng tháng trên hợp đồng lao động và trong quy chế lương để giải trình khi cần thiết.
Đối với thưởng hiệu suất phải có quy chế rõ ràng về thưởng cho nhân viên theo mức độ hoàn thành công việc vì biến động theo hiệu quả công việc nên không phải đóng BHXH. Tuy nhiên, để kê khai chi phí này thì doanh nghiệp phải có bản kê khai hiệu suất đánh giá công việc hằng tháng và quy định rõ về việc tính thưởng hiệu suất làm việc cho nhân viên.
Đối với khoản thưởng hoa hồng (nếu có) cũng phải có quy chế thưởng và bảng tính thưởng đi kèm thì mới đủ điều kiện để không đóng BHXH.
Từ những căn cứ trên, khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động nếu trên 5 triệu đồng thì phải chuyển khoản để đúng luật và không vi phạm bảo hiểm xã hội cần phải tính đóng BHXH nếu khoản thu nhập không thuộc Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];