Lao động bán thời gian đã có bảo hiểm xã hội ở công ty khác, công ty cần đóng thêm gì?
Căn cứ điểm a, điểm l khoản 1 và điểm a khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
...
l) Đối tượng quy định tại điểm a khoản này làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất;
...
5. Người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này thì việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định như sau:
a) Đối tượng quy định tại điểm a và điểm l khoản 1 Điều này mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.
Trường hợp hợp đồng lao động đang sử dụng làm căn cứ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng mà hai bên không có thỏa thuận về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian tạm hoãn thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo thứ tự về thời gian có hiệu lực của hợp đồng được ký kết;
...
Theo quy định này thì người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên kể cả trường hợp làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất thì thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khác nhau quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì việc tham gia BHXH bắt buộc theo quy định như sau:
- Đối tượng quy định tại điểm a và điểm l khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì tham gia BHXH bắt buộc theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.
- Trường hợp hợp đồng lao động đang sử dụng làm căn cứ tham gia BHXH bắt buộc đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng mà hai bên không có thỏa thuận về việc đóng BHXH bắt buộc trong thời gian tạm hoãn thì tham gia BHXH bắt buộc theo thứ tự về thời gian có hiệu lực của hợp đồng được ký kết.
Theo đó, người lao động ký nhiều hợp đồng lao động với nhiều công ty thì thì đóng BHXH bắt buộc theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.
- Đối với BHYT, tại điểm b khoản 5 Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT quy định, người thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, c, d, đ và e khoản 1 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024 đồng thời có một hoặc nhiều hợp đồng lao động thì đóng BHYT theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia BHXH bắt buộc.
Theo đó, người lao động ký nhiều hợp đồng lao động với nhiều công ty thì đóng BHYT theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia BHXH bắt buộc.
- Đối với bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tại khoản 2 Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 có quy định đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc. Khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì người lao động được giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo nguyên tắc đóng, hưởng do Chính phủ quy định.
Như vậy, người lao động ký nhiều hợp đồng lao động với nhiều công ty thì đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc.

Lao động bán thời gian đã có bảo hiểm xã hội ở công ty khác, công ty cần đóng thêm gì?
Trường hợp nào không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc?
Căn cứ khoản 7 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
...
7. Trường hợp không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
a) Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng.
Chính phủ quy định đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;
b) Lao động là người giúp việc gia đình;
c) Đối tượng quy định tại điểm m và điểm n khoản 1 Điều này đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động, trừ trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu tối đa 06 tháng quy định tại khoản 7 Điều 33 của Luật này.
Như vậy, trường hợp không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
- Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Chính phủ quy định đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Lao động là người giúp việc gia đình.
- Đối tượng quy định tại điểm m và điểm n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019, trừ trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu tối đa 06 tháng quy định tại khoản 7 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Nghỉ việc rồi mà tháng sau mới trả lương thì có phải khấu trừ 10% thuế TNCN?
Về thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công, khoản 3 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
...
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập, kể cả các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền, các khoản trợ cấp, phụ cấp và thu nhập khác quy định tại Điều 8 của Nghị định này trong kỳ tính thuế.
...
Theo quy định này, thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Quy định về việc khấu trừ thuế TNCN đối với trường hợp chi trả tiền lương cho người lao động sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động được đề cập tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:
Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...
Ngoài ra, tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
...
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 8 của Nghị định này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế trừ (-) đi các khoản dưới đây:
a) Các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội, khoản đóng góp bảo hiểm y tế tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ.
...
Như vậy, trường hợp người lao động đã nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động nhưng doanh nghiệp chi trả tiền lương, tiền công vào tháng sau thì khoản thu nhập này vẫn thuộc trường hợp phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên. Việc khấu trừ được thực hiện trên thu nhập trước khi chi trả và không trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc khi xác định số thuế khấu trừ theo tỷ lệ 10%.
Tuy nhiên, nếu người lao động chỉ có duy nhất khoản thu nhập thuộc diện khấu trừ 10% và ước tính tổng thu nhập chịu thuế trong năm sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì có thể lập cam kết gửi doanh nghiệp để tạm thời không bị khấu trừ thuế TNCN.
Ví dụ: Người lao động chấm dứt hợp đồng ngày 30/9/2026. Đến ngày 10/10/2026, doanh nghiệp thanh toán 8 triệu đồng tiền lương còn lại cho người lao động.
Do người lao động đã chấm dứt hợp đồng và khoản chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, doanh nghiệp phải khấu trừ 10% × 8 triệu đồng = 800.000 đồng trước khi trả. Người lao động thực nhận 7,2 triệu đồng.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];