Người lao động phải tự quyết toán thuế TNCN nếu muốn giảm trừ chi phí y tế, giáo dục?
Căn cứ vào khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP có quy định về quyết toán thuế như sau:
Quyết toán thuế
...
3. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều 40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 của Nghị định này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.
4. Hồ sơ, thủ tục quyết toán thuế, ủy quyền quyết toán thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo đó, Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.
Mà chi phí y tế, giáo dục là một trong những khoản chi phí được trừ quy định tại Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
...
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
...
Như vậy, từ những quy định trên, người lao động phải tự quyết toán thuế TNCN nếu muốn giảm trừ chi phí y tế, giáo dục. Mức giảm trừ tối đa được xác định như sau:
- 23 triệu đồng/năm đối với chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
- 24 triệu đồng/năm đối với chi phí giáo dục - đào tạo.
Xem thêm
>>> Điều kiện để giảm trừ các khoản chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN?

Người lao động phải tự quyết toán thuế TNCN nếu muốn giảm trừ chi phí y tế, giáo dục? (Hình từ Internet)
Khi nào đươc ủy quyền quyết toán thuế TNCN?
Căn cứ khoản 2 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, quy định như sau:
Quyết toán thuế
...
2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, người nộp thuế được ủy quyền cho tổ chức chi trả thu nhập quyết toán thuế thay trong trường hợp sau, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm:
a) Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế, kể cả trường hợp người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống;
b) Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế và có nguồn thu nhập khác đã thực hiện khấu trừ thuế quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều 40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 của Nghị định này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.
...
Như vậy, nếu cá nhân không có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 40, 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thì được ủy quyền cho tổ chức chi trả thu nhập quyết toán thuế thay, các trường hợp ủy quyền cụ thể như sau:
- Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế, kể cả trường hợp người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống;
- Cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên phát sinh tại một tổ chức và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán thuế và có nguồn thu nhập khác đã thực hiện khấu trừ thuế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Nộp hồ sơ quyết toán thuế không đúng thời hạn bị xử phạt bao nhiêu tiền?
Căn cứ theo quy định tại Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 10 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thì người nộp thuế có hành vi nộp hồ sơ quyết toán thuế không đúng thời hạn sẽ bị xử phạt như sau:
- Thực hiện quyết toán thuế chậm từ 01 ngày đến 05 ngày và có tình tiết giảm nhẹ sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt cảnh cáo.
- Thực hiện quyết toán thuế chậm từ 01 ngày đến 30 ngày và không có tình tiết giảm nhẹ bị xử phạt với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
- Thực hiện quyết toán thuế chậm từ 31 ngày đến 60 ngày sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.
- Thực hiện quyết toán thuế chậm từ 61 ngày đến 90 sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 7.500.000 đồng.
- Thực hiện quyết toán thuế chậm từ 91 ngày trở lên nhưng không phát sinh số thuế phải nộp sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Thực hiện quyết toán thuế chậm trên 91 ngày có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ các khoản tiền phát sinh vào ngân sách nhà nước thì sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Lưu ý: mức xử phạt ở trên là mức xử phạt áp dụng đối với tổ chức, mức xử phạt đối với cá nhân sẽ bằng 1/2 lần mức xử phạt đối với tổ chức (theo quy định tại khoản 5 Điều 5 và khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP)
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];