Người lao động nghỉ việc từ 01/7/2026, lương tháng 6 khi trả vào tháng 7 có phải khấu trừ thuế TNCN 10% không?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 120,643 lượt xem
17:09 | 10/08/2026
Chấm dứt hợp đồng lao động từ 01/7/2026 lương tháng 6 vẫn phải khấu trừ thuế TNCN 10% dù trước đây tính thuế lũy tiến từng phần đúng không?
Nội dung chính
  1. Người lao động nghỉ việc từ 01/7/2026, lương tháng 6 khi trả vào tháng 7 có phải khấu trừ thuế TNCN 10% không?
  2. Thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ký hợp đồng lao động trên 3 tháng từ 01/07/2026?
  3. Công văn 3705/CT-CS nếu sai quy định lao động mất quyền khấu trừ thuế GTGT và chi phí TNDN?

Người lao động nghỉ việc từ 01/7/2026, lương tháng 6 khi trả vào tháng 7 có phải khấu trừ thuế TNCN 10% không?

NÓNG: Toàn văn Thông tư 90/2026/TT-BTC về đăng ký thuế từ ngày 01/07/2026

Đầu tiên, tại Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật này.
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Theo đó, thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Thông thường lương tháng 6 sẽ thường được thực nhận vào tháng 7, mà từ ngày 01/7/2026 Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.

Do thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm chi trả thu nhập nên nếu tiền lương tháng 6 được doanh nghiệp thanh toán vào sau ngày 01/7/2026 thì việc khấu trừ thuế TNCN sẽ được thực hiện theo quy định đang có hiệu lực tại thời điểm chi trả. Tuy nhiên, việc áp dụng khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần hay khấu trừ 10% còn phụ thuộc vào tính chất của khoản thu nhập được chi trả và tình trạng hợp đồng lao động tại thời điểm thanh toán.

Dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về Khấu trừ thuế như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...

Có thể thấy, từ ngày 01/7/2026, người lao động có thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

Trường hợp, cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.

Như vậy, không phải cứ người lao động chấm dứt hợp đồng từ ngày 01/7/2026 thì tiền lương tháng 6 đều bị khấu trừ thuế TNCN 10%.

Trường hợp doanh nghiệp chỉ thanh toán tiền lương, tiền công của thời gian người lao động còn làm việc trước khi chấm dứt hợp đồng thì vẫn thực hiện khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Đối với các khoản thu nhập được chi trả sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và có mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì doanh nghiệp phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trước khi chi trả.

Đồng thời, có thể tham khảo thêm quy định cũ đã thực hiện trước đây tại Công văn 146/HUE-QLDN năm 2026 Tải về Thuế thành phố Huế hướng dẫn về khấu trừ thuế TNCN khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Trường hợp Công ty Công ty chỉ trả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công cho thời gian trước khi chấm đứt hợp đồng lao động, Công ty thực hiện khẩu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiền từng phân.

Trường hợp Công ty chi trả các khoản lợi ích và các khoản thanh toán khác có tính chất tiền lương, tiền công cho người lao động (ký hợp đồng lao động với Công ty từ 03 tháng trở lên) sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động, nều khoản chỉ này từ hai triệu (2.000.000) đồng trở lên thì Công ty khẩu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên tổng thu nhập trước khi trả cho người lao động (trừ các khoản thu nhập được trừ khi tính thuế TNCN, thu nhập được miễn thuế TNCN)

=> Theo đó, có thể thấy ở thời điểm Thông tư 111/2013/TT-BTC còn hiệu lực thi hành thì việc Công ty chi trả các khoản thu nhập cho người lao động sau thời điểm chấm dứt HĐLĐ thì phải khấu trừ thuế TNCN 10% nếu khoản chi trả này từ 02 triệu đồng trở.

Tuy nhiên, hiện nay Thông tư 111/2013/TT-BTC đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Mà hiện nay chưa có Công văn hướng dẫn riêng để giải thích chi tiết quy định này theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, trước đây cơ quan thuế đã có hướng dẫn tại Công văn 146/HUE-QLDN năm 2026 theo quy định của Thông tư 111/2013/TT-BTC với cùng cách hiểu, chỉ khác ngưỡng khấu trừ là 02 triệu đồng/lần.

Do đó, Công văn 146/HUE-QLDN năm 2026 chỉ có giá trị tham khảo về cách hiểu và cách áp dụng, còn căn cứ pháp lý hiện hành để thực hiện việc khấu trừ thuế TNCN là khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trong đó ngưỡng khấu trừ đã được nâng từ 02 triệu đồng lên 05 triệu đồng/lần chi trả.

Xem thêm: Người lao động nghỉ ngày 30/6/2026, ngày 10/7/2026 công ty mới trả lương tháng 6 thì làm thế nào?

Xem thêm

>>> Người lao động nghỉ việc có được nhận lại 10% thuế TNCN đã bị khấu trừ không?

>>> Các khoản được trừ trước khi khấu trừ 10% đối với lao động nghỉ việc có những gì?

>>> Có khấu trừ thuế đối với tiền lương của Giám đốc công ty TNHH một thành viên không?

>>> Lao động thử việc có được trừ tiền ăn trưa, điện thoại trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN không?

>>> Có tính thuế TNCN đối với khoản tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp không?

Người lao động nghỉ việc từ 01/7/2026, lương tháng 6 khi trả vào tháng 7 có phải khấu trừ thuế TNCN 10% không?

Người lao động nghỉ việc từ 01/7/2026, lương tháng 6 khi trả vào tháng 7 có phải khấu trừ thuế TNCN 10% không? (Hình từ Internet)

Thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ký hợp đồng lao động trên 3 tháng từ 01/07/2026?

Căn cứ vào Điều 24 Nghị định 254/2026/NĐ-CP có quy định về thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN từ 01/07/2026 như sau:

Thời điểm lập chứng từ
1. Tại thời điểm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, thời điểm thu thuế, phí, lệ phí, tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tổ chức thu thuế, phí, lệ phí, phải lập chứng từ, biên lai giao cho người nộp thuế, phí, lệ phí trừ các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.
2. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
3. Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập lập chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc lập một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một năm tính thuế khi cá nhân yêu cầu. Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ lập một chứng từ khấu trừ thuế trong một năm tính thuế.
4. Đối với thu nhập của nhà đầu tư cá nhân phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản mã hóa, chuyển nhượng vàng miếng, thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng trong trường hợp khoản thu nhập này đã được tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế thực hiện khấu trừ, nộp thuế thu nhập cá nhân tại nguồn thì tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
5. Thời điểm ký số trên chứng từ là thời điểm tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tổ chức thu thuế, phí, lệ phí điện tử sử dụng chữ ký số để ký trên chứng từ điện tử được hiển thị theo định dạng ngày, tháng, năm của năm dương lịch.

Theo quy định trên, thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ý hợp đồng lao động trên 3 tháng là lập một chứng từ khấu trừ thuế trong một năm tính thuế.

Công văn 3705/CT-CS nếu sai quy định lao động mất quyền khấu trừ thuế GTGT và chi phí TNDN?

Ngày 05/6/2026, Cục Thuế đã có Công văn 3705/CT-CS năm 2026 về chính sách thuế.

Theo đó, Cục Thuế hướng dẫn chính sách thuế trong lao động như sau:

(1) Quy định về chính sách về lao động:

Điều 52 và Điều 53 Bộ luật Lao động 2019 về cho thuê lại lao động và nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động;

Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động về quy định về doanh nghiệp cho thuê lại lao động, về bên thuê lại lao động, về thu hồi giấy phép;

Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định danh mục 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động, trong đó có công việc “Sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông";

Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (đã hết hiệu lực từ 15/11/2025)

Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 36/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.

Căn cứ quy định nêu trên, Cục Thuế có ý kiến như sau:

Về vướng mắc của Thuế tỉnh Phú Thọ liên quan đến hoạt động cho thuê lại lao động, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội (Bộ Nội vụ) đã có Công văn 515/CTL&BHXH-CSLĐ ngày 31/3/2026, Bộ Khoa học công nghệ đã có Công văn 1990/BKHCN-KHTC năm 2026 phúc đáp Công văn 1543/CT-CS năm 2026 của Cục Thuế.

(2) Quy định về chính sách thuế và hóa đơn:

Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế;

Điều 9, Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế;

Điều 13, Điều 14 và Điều 16 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về các hành vi bị nghiêm cấm trong khấu trừ, hoàn thuế, về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, về hóa đơn, chứng từ;

Điểm b khoản 1 Điều 14 và khoản 15 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP;

Khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP) về nguyên tắc lập hóa đơn;

Căn cứ quy định nêu trên, Cục Thuế có ý kiến như sau:

- Về lập hóa đơn, đề nghị Thuế tỉnh Phú Thọ căn cứ pháp luật từng thời kỳ, hợp đồng và hồ sơ thực tế liên quan để hướng dẫn xử lý theo quy định.

- Về thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp: Đề nghị Thuế tỉnh Phú Thọ căn cứ ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội (Bộ Nội vụ) và căn cứ quy định của pháp luật từng thời kỳ, hợp đồng, hồ sơ thực tế để xem xét có đủ điều kiện khấu trừ, hoàn thuế thuế giá trị gia tăng đầu vào theo quy định và xác định chi phí được trừ và không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

Trường hợp doanh nghiệp có các khoản chi phí là khoản chi này vi phạm pháp luật chuyên ngành thì không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 23 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP của Chính phủ, việc kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP và Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.

Theo Công văn 1543/CT-CS năm 2026 về chính sách thuế và hóa đơn đối với cho thuê lại lao động hướng dẫn như sau:

Theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động, trong đó có công việc “sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông”. Những công việc không thuộc Phụ lục II nêu trên thì không được cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động không được sử dụng lao động vào các công việc ngoài danh mục nêu trên.

Phụ lục I và phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 36/2025/QĐ-TTg ngày 29/9/2025 nêu trên thì hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” và hoạt động “sản xuất thiết bị truyền thông” có cùng mã ngành cấp 2 (mã 26). Tuy nhiên, 02 hoạt động này lại khác ngành cấp 3 (hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” có mã ngành cấp 3 là 261 và hoạt động “sản xuất thiết bị truyền thông” có mã ngành cấp 3 là 263).

Để có cơ sở xác định doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động và thuê lại lao động theo đúng quy định tại Luật lao động và làm cơ sở cho việc xác định thuế GTGT, hóa đơn, thuế TNDN đối với hoạt động cho thuê lại lao động, Cục Thuế đề nghị Quý Bộ, Quý Cục có ý kiến về hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” nêu trên có được xác định thuộc danh mục 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP hay không?

Theo Công văn 1990/BKHCN-KHTC năm 2026 có nội dung hướng dẫn như sau:

Danh mục 20 công việc cụ thể được thực hiện cho thuê lại lao động theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trong đó, không có mục “sản xuất linh kiện điện tử”. Vì vậy, không có đủ căn cứ để xác định hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” thuộc danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Theo Công văn 515/CTL&BHXH-CSLĐ năm 2026 có nội dung hướng dẫn như sau:

Tại Quyết định 36/2025/QĐ-TTg ngày 29/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành nghề kinh tế Việt Nam thì hoạt động sản xuất linh kiện điện tử có mã ngành 261, hoạt động sản xuất thiết bị truyền hình có mã ngành 263.

Tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động 2019 về điều kiện lao động và quan hệ lao động thì doanh nghiệp chỉ được thực hiện cho thuê lại lao động đối với 20 công việc, trong đó có công việc “sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông”.

Như vậy, theo hướng dẫn của Công văn 3705/CT-CS năm 2026, cho thuê lại lao động nhưng không thuộc danh mục 20 công việc cho thuê lại lao động thì giao dịch đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật lao động. Khi đó, cơ quan thuế có cơ sở xem xét:

- Không chấp nhận chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với khoản chi này;

- Không chấp nhận khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu không đáp ứng điều kiện theo quy định thuế GTGT.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất