Ký hợp đồng thử việc 02 tháng có phải tham gia BHXH bắt buộc không?
Căn cứ tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc như sau:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
...
5. Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng tính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
...
Theo Điều 24 Bộ luật lao động 2019 quy định thử việc như sau:
Thử việc
1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp chỉ ký hợp đồng thử việc thời hạn 02 tháng theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Theo Cổng thông tin điện tử BHXH Thành phố Hà Nội đã có trả lời về việc ký hợp đồng thử việc 02 tháng có phải tham gia BHXH bắt buộc hay không, cụ thể như sau: Theo câu hỏi của một doanh nghiệp gửi tới BHXH TP. Hà Nội, đơn vị ký hợp đồng thử việc thời hạn 02 tháng đối với người lao động làm vị trí Phụ trách truyền thông - Marketing, mức lương 15 triệu đồng/tháng. Đơn vị đang băn khoăn không biết người lao động này có thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hay không? Liên quan đến nội dung này, khoản 5 Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nêu rõ: “5. Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng tính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.” Đối chiếu với quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp chỉ ký hợp đồng thử việc thời hạn 02 tháng theo quy định của Bộ luật Lao động thì người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, cần lưu ý, nếu doanh nghiệp và người lao động giao kết hợp đồng lao động có nội dung thỏa thuận về việc làm, tiền lương, sự quản lý, điều hành và có kèm nội dung thử việc thì hợp đồng này vẫn được xem là hợp đồng lao động. Khi đó, người lao động có thể thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định hiện hành. Do vậy, các đơn vị cần xác định rõ loại hợp đồng giao kết với người lao động để thực hiện đúng quy định về BHXH bắt buộc, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình tham gia và đóng BHXH. Nguồn: https://hanoi.baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/hoat-dong-so-ban-nganh.aspx?CateID=0&ItemID=36452 |
Như vậy, trường hợp đơn vị ký hợp đồng thử việc thời hạn 02 tháng không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, cần lưu ý, nếu doanh nghiệp và người lao động giao kết hợp đồng lao động có nội dung thỏa thuận về việc làm, tiền lương, sự quản lý, điều hành và có kèm nội dung thử việc thì hợp đồng này vẫn được xem là hợp đồng lao động. Khi đó, người lao động có thể thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định hiện hành.
Do đó, các đơn vị cần xác định rõ loại hợp đồng giao kết với người lao động để thực hiện đúng quy định về BHXH bắt buộc, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình tham gia và đóng BHXH.

Ký hợp đồng thử việc 02 tháng có phải tham gia BHXH bắt buộc không? (Hình từ Internet)
Mức lương thử việc hiện nay được quy định ra sao?
Căn cứ theo Điều 24 Bộ luật Lao động 2019 quy định về thử việc như sau:
Thử việc
1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.
Theo quy định trên, thử việc được hiểu là người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận nội dung thử việc đối với công việc mà người sử dụng lao động tuyển dụng, bao gồm thời gian làm việc, mức lương, công việc cần thực hiện, địa điểm làm việc và một số nội dung khác.
Ngoài ra, tiền lương thử việc cũng được quy định tại Điều 26 Bộ luật lao động 2019 như sau:
Tiền lương thử việc
Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Từ quy định trên thì lương của người lao động trong thời gian thử việc sẽ được thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Như vậy, đồng nghĩa với việc các bên có thể thỏa thuận mức lương thử việc tuy nhiên không được dưới 85% mức lương của công việc theo quy định.
Tiền lương thử việc có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?
Căn cứ tại khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định các khoản thu nhập chịu thuế bao gồm:
Thu nhập chịu thuế
...
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
...
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế TNCN như sau:
Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
...
Theo quy định trên, các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công đều được xem là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Do đó, trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng thử việc thời hạn 01 tháng với người lao động, sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, doanh nghiệp ký hợp đồng lao động chính thức với thời hạn 01 năm thì doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến từng phần trước khi chi trả cho người lao động gồm cả thời gian thử việc.
Tuy nhiên, trường hợp sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động chính thức thì doanh nghiệp phải khấu trừ 10% thuế TNCN (trước khi trả thu nhập cho lao động thử việc) nếu khoản thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];