Chi nhánh có phải kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi không?
Dựa vào Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 296/2026/NĐ-CP có quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp như sau:
Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp
Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:
...
Theo đó, chủ sở hữu hưởng lợi được xác định đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, căn cứ theo khoản 1 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân như sau:
Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân
1. Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.
2. Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân.
3. Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân.
4. Việc thành lập, chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân phải được đăng ký theo quy định của pháp luật và công bố công khai.
5. Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.
6. Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện.
Theo quy định trên, chi nhánh không có tư cách pháp nhân mà chỉ là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân và có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân.
Như vậy, vì chi nhánh không có pháp nhân nên không cần phải kê khai chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
Trên đây là thông tin chi nhánh có phải kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi không?

Chi nhánh có phải kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi không? (Hình từ Internet)
Chi nhánh khác tỉnh có phải nộp tờ khai thuế GTGT không khi không có hoạt động sản xuất bán hàng hóa?
Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Thông tư 89/2026/TT-BTC có quy định về phân bổ thuế GTGT như sau:
Khai thuế giá trị gia tăng
...
2. Cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai thuế:
a) Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp; người nộp thuế thuộc trường hợp phân bổ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP thì thực hiện khai thuế giá trị gia tăng tập trung tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc khai thuế giá trị gia tăng của hoạt động kinh doanh, đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại cơ quan thuế quản lý khoản thu nơi phát sinh hoạt động kinh doanh và phân bổ nghĩa vụ thuế phải nộp cho từng địa bàn nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều này, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh, đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại địa bàn tỉnh khác nơi đóng trụ sở chính thực hiện khai riêng thuế giá trị gia tăng của hoạt động kinh doanh, đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại cơ quan thuế quản lý khoản thu nơi phát sinh hoạt động kinh doanh như sau:
...
b.3) Đơn vị phụ thuộc có tài khoản ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, sử dụng hóa đơn của đơn vị phụ thuộc đăng ký với cơ quan thuế quản lý đơn vị phụ thuộc, theo dõi hạch toán đầy đủ thuế giá trị gia tăng đầu ra, đầu vào;
...
Theo quy định trên, trường hợp đơn vị phụ thuộc tại địa bàn tỉnh khác nơi đóng trụ sở chính có tài khoản ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, sử dụng hóa đơn của đơn vị phụ thuộc đăng ký với cơ quan thuế quản lý đơn vị phụ thuộc và theo dõi, hạch toán đầy đủ thuế GTGT đầu ra, đầu vào thì thực hiện khai riêng thuế GTGT tại cơ quan thuế quản lý khoản thu nơi phát sinh hoạt động kinh doanh.
Như vậy, chi nhánh khác tỉnh không sản xuất bán hàng thì không phải nộp riêng tờ khai thuế GTGT.
Chi nhánh doanh nghiệp có các tình trạng pháp lý nào?
Căn cứ theo Điều 36 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định về tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh thì chi nhánh doanh nghiệp có thể có các tình trạng pháp lý sau:
(1) “Đang hoạt động” là tình trạng pháp lý của chi nhánh doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh doanh nghiệp Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh mà không thuộc tình trạng pháp lý quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 36 Nghị định 168/2025/NĐ-CP
(2) “Tạm ngừng kinh doanh, hoạt động” là tình trạng pháp lý của chi nhánh doanh nghiệp đang trong thời gian tạm ngừng kinh doanh.
(3) “Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” là tình trạng pháp lý của chi nhánh doanh nghiệp được Cơ quan thuế lập biên bản xác minh về việc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Thông tin về chi nhánh doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký do Cơ quan thuế cung cấp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh. Việc chuyển tình trạng pháp lý và kết thúc tình trạng pháp lý này do Cơ quan thuế quyết định, trừ trường hợp chi nhánh doanh nghiệp đang thuộc tình trạng pháp lý quy định tại các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 36 Nghị định 168/2025/NĐ-CP. Cơ quan thuế có trách nhiệm gửi thông tin về tình trạng pháp lý “Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” của chi nhánh doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ghi nhận, cập nhật tình trạng pháp lý do Cơ quan thuế cung cấp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
(4) “Bị thu hồi do cưỡng chế về quản lý thuế” là tình trạng pháp lý của chi nhánh doanh nghiệp đã bị ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh doanh nghiệp hoặc chi nhánh doanh nghiệp bị ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo đề nghị của Cơ quan quản lý thuế về thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.
(5) “Đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động” là tình trạng pháp lý của chi nhánh doanh nghiệp đã được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ra thông báo đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động hoặc chi nhánh doanh nghiệp của doanh nghiệp đang làm thủ tục phá sản.
(6) “Đã chấm dứt hoạt động” là tình trạng pháp lý của chi nhánh doanh nghiệp đã được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ra thông báo về việc chấm dứt hoạt động chi nhánh doanh nghiệp hoặc chi nhánh doanh nghiệp của doanh nghiệp đã phá sản.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];