- Tổng hợp Công văn của Vĩnh Long, TP Hồ Chí Minh, Ninh Bình về không được điều chỉnh tăng thuế GTGT đầu vào nếu thanh toán không dùng tiền mặt sau hạn hợp đồng năm 2025 ra sao?
- Mẫu giấy ủy quyền thanh toán không dùng tiền mặt là mẫu nào?
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được quy định như thế nào?
Tổng hợp Công văn của Vĩnh Long, TP Hồ Chí Minh, Ninh Bình về không được điều chỉnh tăng thuế GTGT đầu vào nếu thanh toán không dùng tiền mặt sau hạn hợp đồng năm 2025 ra sao?
Dưới đây là các Công văn của Thuế tỉnh Vĩnh Long, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh, Thuế tỉnh Ninh Bình về không được điều chỉnh tăng thuế GTGT đầu vào nếu thanh toán không dùng tiền mặt sau hạn hợp đồng năm 2025:
(1) Công văn 434/VLO-QLDN2 năm 2025 về chậm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng
Ngày 21 tháng 8 năm 2025, Thuế tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Công văn 434/VLO-QLDN2 V/v chậm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng.
Theo đó, căn cứ quy định điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP thì đổi với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 5 (năm) triệu đồng trở lên, mà đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiển mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng.
Theo trình bày của Công ty là hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng Công ty không có chứng từ thanh toán và Công ty đã kê khai điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào đã khẩu trừ nhưng sau đó (sau thời hạn thỏa thuận trả chậm theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng) Công ty có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì trường hợp này cũng không được kê khai khẩu trừ thuề GTGT đầu vào.
(2) Công văn 3367/TPHCM-QLDN1 năm 2025 về không được điều chỉnh tăng thuế GTGT đầu vào nếu thanh toán không dùng tiền mặt sau hạn hợp đồng
Ngày 08/10/2025, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn 3367/TPHCM-QLDN1 năm 2025 về điều kiện khấu trừ thuế GTGT.
Theo đó, trường hợp Công ty theo trình bày đến thời điểm thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng vẫn không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và đã kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Sau đó, Công ty thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với phần giá giá trị hàng hóa, dịch vụ đã quá thời hạn thanh toán thì Công ty không được khai điều chỉnh tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
(3) Công văn 2563/NBI-QLDN2 năm 2025 hướng dẫn khấu trừ thuế GTGT đối với hàng hóa dịch vụ mua quá hạn thanh toán
Ngày 19/9/2025, Thuế tỉnh Ninh Bình đã có Công văn 2563/NBI-QLDN2 năm 2025 hướng dẫn khấu trừ thuế GTGT đối với hàng hóa dịch vụ mua quá hạn thanh toán:
Theo đó, trường hợp đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, mà đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, Công ty không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì Công ty phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Sau thời hạn thanh toán ghi trong hợp đồng, Công ty có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì Công ty không được kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Tổng hợp Công văn của Vĩnh Long, TP Hồ Chí Minh, Ninh Bình về không được điều chỉnh tăng thuế GTGT đầu vào nếu thanh toán không dùng tiền mặt sau hạn hợp đồng năm 2025 ra sao? (Hình từ Internet)
Mẫu giấy ủy quyền thanh toán không dùng tiền mặt là mẫu nào?
Ngày 01/07/2025, Nghị định 181/2025/NĐ‑CP chính thức có hiệu lực, quy định việc thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phù hợp với quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Dưới đây là mẫu giấy ủy quyền thanh toán không dùng tiền mặt chuẩn và rõ ràng nhất:

Tải mẫu giấy ủy quyền thanh toán không dùng tiền mặt tại đây:
*Lưu ý: Đây là mẫu giấy ủy quyền thanh toán không dùng tiền mặt chỉ mang tính tham khảo, doanh nghiệp/tổ chức có thể điều chỉnh, bổ sung nội dung để phù hợp với quy chế nội bộ và đúng quy định pháp luật hiện hành.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được quy định như thế nào?
Căn cứ tại Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt như sau:
Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:
[1] Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định 52/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.
[2] Một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 bao gồm:
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua bên thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay, cho mượn sang tài khoản của bên đi vay, đi mượn đối với khoản vay, mượn bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà bên bán hỗ trợ cho bên mua, hoặc nhờ bên mua chi hộ.
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán không dùng tiền mặt (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán không dùng tiền mặt cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo ủy quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một tổ chức hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng cổ phiếu, trái phiếu mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng mua bán dưới hình thức văn bản được lập trước đó.
- Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu tại điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán không dùng tiền mặt vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào xác định tương ứng với số tiền chuyển vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước.
- Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
- Trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 05 triệu đồng theo giá đã có thuế giá trị gia tăng và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng, hàng mẫu không phải trả tiền của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thì không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.
- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
[3] Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một người nộp thuế có giá trị dưới 05 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];