Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào?

17:15 | 20/08/2026
Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào?
Nội dung chính
  1. Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào?
  2. Tiêu chí xác định nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán là gì?
  3. Chủ nền tảng số ở nước ngoài có phải đăng ký giao dịch thuế điện tử tại Việt Nam không?

Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào?

Tại Tài liệu tuyên truyền những nội dung người nộp thuế cần lưu ý và thực hiện tại Nghị định 252/2026/NĐ-CP Tại đây Thuế tỉnh Đắk Lắk có giải đáp như sau:

Câu hỏi 25: Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào?

Trả lời: Thực hiện theo thời điểm và căn cứ quy định tại Điều 44 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, gắn với giao dịch và dòng tiền mà nền tảng kiểm soát, đối soát hoặc xác nhận.

Căn cứ Điều 44 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 44. Thời điểm khấu trừ và căn cứ xác định số thuế phải khấu trừ
1. Thời điểm thực hiện khấu trừ:
a) Đối với tổ chức kinh doanh tại Việt Nam quy định tại khoản 3 Điều 43 Nghị định này là thời điểm thanh toán cho nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú;
b) Đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử là thời điểm xác nhận giao dịch thành công và chấp nhận thanh toán theo quy định của nền tảng.
[...]

Như vậy, thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định như sau:

- Đối với tổ chức kinh doanh tại Việt Nam quy định tại khoản 3 Điều 43 Nghị định 252/2026/NĐ-CP là thời điểm thanh toán cho nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú;

- Đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử là thời điểm xác nhận giao dịch thành công và chấp nhận thanh toán theo quy định của nền tảng.

Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào?

Thời điểm khấu trừ thuế trên nền tảng số được xác định thế nào? (Hình từ Internet)

Tiêu chí xác định nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán là gì?

Căn cứ khoản 5 Điều 3 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán là nền tảng số đồng thời đáp ứng các tiêu chí sau:

- Cho phép người mua lựa chọn hàng hóa, dịch vụ và xác lập giao dịch mua bán với người bán thông qua môi trường điện tử do nền tảng cung cấp;

- Trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình thanh toán giữa người mua và người bán và có khả năng kiểm soát, đối soát hoặc xác nhận giao dịch thanh toán, bao gồm: thực hiện việc thu tiền từ người mua và chuyển cho người bán; phối hợp với tổ chức, cá nhân khác để thực hiện việc thu, chuyển tiền thanh toán và có khả năng kiểm soát, đối soát hoặc xác nhận giao dịch thanh toán; tổ chức cơ chế thanh toán mà việc hoàn tất giao dịch mua bán gắn với việc xác nhận thanh toán trên nền tảng;

- Việc xác định nền tảng có chức năng thanh toán được căn cứ vào vai trò thực tế của nền tảng trong việc tổ chức, kiểm soát hoặc tham gia vào quá trình thanh toán, không phụ thuộc vào hình thức kỹ thuật hoặc phương thức thanh toán cụ thể.

Trường hợp nền tảng chỉ cung cấp dịch vụ đăng tải thông tin, quảng cáo, kết nối giao dịch mà không tham gia vào quá trình thanh toán thì không thuộc phạm vi quy định tại khoản này.

Chủ nền tảng số ở nước ngoài có phải đăng ký giao dịch thuế điện tử tại Việt Nam không?

Tại Điều 40 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 40. Trực tiếp khai, tính, nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của tổ chức nước ngoài có phát sinh doanh thu tại Việt Nam thông qua hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử
1. Đăng ký giao dịch thuế điện tử và đăng ký thuế:
a) Tổ chức nước ngoài (bao gồm cả chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số ở nước ngoài) có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ khác có phát sinh doanh thu tính thuế tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài) thực hiện đăng ký giao dịch thuế điện tử cùng với đăng ký thuế lần đầu và được cơ quan thuế cấp mã số thuế thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế.
Trường hợp nghĩa vụ thuế của toàn bộ doanh thu phát sinh tại Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài đã được tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế hoặc chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện khấu trừ và nộp thay số thuế phải nộp theo quy định tại Điều 43 Nghị định này thì không phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế quy định tại điểm này;
[...]

Như vậy, Chủ nền tảng số ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ khác có phát sinh doanh thu tính thuế tại Việt Nam thực hiện đăng ký giao dịch thuế điện tử cùng với đăng ký thuế lần đầu và được cơ quan thuế cấp mã số thuế thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế.

Mạc Duy Văn
Mạc Duy Văn Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Dạy học có chịu thuế GTGT không?

Theo Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 hoạt động dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp không chịu thuế GTGT.

Bài viết mới nhất