Quy định mới về lưu trú qua đêm của du khách từ ngày 1/7/2026?

Lương Thị Tâm Như 1,262 lượt xem
20:20 | 13/06/2026
Từ ngày 01/7/2026, khi có người lưu trú qua đêm thì người đại diện cơ sở lưu trú du lịch có trách nhiệm thông báo lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú đối với khách lưu trú tại khách sạn, resort, homestay, nhà nghỉ, biệt thự du lịch.
Nội dung chính
  1. Quy định mới về lưu trú qua đêm của du khách từ ngày 1/7/2026 như thế nào?
  2. Cơ quan nào có trách nhiệm xác nhận thông tin cư trú?
  3. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong trường hợp nào?

Quy định mới về lưu trú qua đêm của du khách từ ngày 1/7/2026 như thế nào?

Tại Điều 30 Luật Cư trú 2020 được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) quy định về thông báo lưu trú như sau:

Điều 30. Thông báo lưu trú
1. Khi có người lưu trú qua đêm, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch, chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý phương tiện, các cơ sở lưu trú khác có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú; trường hợp người đến lưu trú tại chỗ ở của cá nhân, hộ gia đình mà cá nhân, thành viên hộ gia đình không có mặt tại chỗ ở đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú.
2. Nội dung thông báo về lưu trú bao gồm: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu của người lưu trú; lý do lưu trú; thời gian lưu trú; địa chỉ lưu trú.
3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; trường hợp người đến lưu trú sau 23 giờ thì việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 08 giờ ngày hôm sau.
4. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết việc thông báo lưu trú.

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, khi có người lưu trú qua đêm thì người đại diện cơ sở lưu trú du lịch có trách nhiệm thông báo lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú đối với khách lưu trú tại khách sạn, resort, homestay, nhà nghỉ, biệt thự du lịch...

Nội dung thông báo lưu trú gồm: họ tên, ngày tháng năm sinh, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu, lý do lưu trú, thời gian lưu trú và địa chỉ lưu trú.

Việc thông báo lưu trú phải được thực hiện trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; nếu người lưu trú đến sau 23 giờ thì phải thông báo trước 08 giờ sáng ngày hôm sau.

Trên đây là thông tin "Quy định mới về lưu trú qua đêm của du khách từ ngày 1/7/2026 như thế nào?"

>>> Không thông báo lưu trú có thể bị phạt tới 1 triệu đồng đúng không?

Quy định mới về lưu trú qua đêm của du khách từ ngày 1/7/2026 như thế nào? (Hình từ Internet)

Cơ quan nào có trách nhiệm xác nhận thông tin cư trú?

Tại Điều 33 Luật Cư trú 2020 có quy định về trách nhiệm của cơ quan đăng ký cư trú như sau:

Điều 33. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký cư trú
1. Niêm yết công khai thủ tục hành chính; hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú; công khai địa điểm, số điện thoại hoặc cách thức khác để tiếp nhận thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng.
2. Cập nhật thông tin về cư trú của công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú.
3. Xác nhận thông tin về cư trú, thông báo về kết quả thực hiện các thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú, khai báo thông tin, điều chỉnh thông tin về cư trú, tách hộ, khai báo tạm vắng dưới hình thức văn bản, tin nhắn điện tử hoặc hình thức khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.
4. Quản lý, lưu trữ hồ sơ, giấy tờ, tài liệu về đăng ký, quản lý cư trú và bảo mật thông tin về đăng ký cư trú của công dân.
5. Giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến cư trú, quản lý cư trú theo thẩm quyền.

Như vậy, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm xác nhận thông tin cư trú dưới hình thức văn bản, tin nhắn điện tử hoặc hình thức khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.

Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong trường hợp nào?

Tại khoản 2 Điều 4 Luật Cư trú 2020 được sửa đổi bởi điểm a khoản 12 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025, việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong các trường hợp sau:

- Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách;

- Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

- Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng;

- Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật Cư trú 2020;

- Các trường hợp khác theo quy định của luật.

Lương Thị Tâm Như
Lương Thị Tâm Như Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Bài viết mới nhất