Người nào là người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự?
Căn cứ theo Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
- Chồng là người giám hộ đương nhiên nếu vợ bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Vợ là người giám hộ đương nhiên nếu chồng bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ;
Nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
- Cha, mẹ là người giám hộ đương nhiên đối với trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ.
Ngoài ra, nếu người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực (quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015).

Người nào là người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự? (Hình từ Internet)
Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có được sử dụng tài sản của người được giám hộ không?
Căn cứ theo Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của người giám hộ như sau:
Điều 58. Quyền của người giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:
a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.
Như vậy, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự được sử dụng tài sản của người được giám hộ nếu tài sản đó sử dụng để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ.
Ngoài ra, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự còn được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ.
Người giám hộ có quyền cầm cố tài sản của người được giám hộ không?
Căn cứ theo Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người được giám hộ như sau:
Điều 59. Quản lý tài sản của người được giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này.
Như vậy, người giám hộ có quyền cầm cố tài sản của người được giám hộ nếu việc cầm cố tài sản vì lợi ích của người được giám hộ.
Tuy nhiên, nếu người giám hộ cầm cố tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ thì phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];