Công văn 2709/CT-CS về lợi tức từ công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ không tính thuế TNCN như thế nào?
Ngày 28/4/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 2709/CT-CS năm 2026 tải về hướng dẫn về thuế TNCN đối với thu nhập từ lợi tức của công ty TNHH một thành viên như sau:
Tại điểm e khoản 3 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC) quy định:
Xem thêm
>>> Sửa lỗi Thông tin NNT không có trên cơ sở dữ liệu về dân cư chi tiết ra sao?
Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế
Theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
[...]
3. Thu nhập từ đầu tư vốn
Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức:
c) Lợi tức nhận được do tham gia góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hình thức kinh doanh khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã; lợi tức nhận được do tham gia góp vốn thành lập tổ chức tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng; góp vốn vào Quỹ đầu tư chứng khoán và quỹ đầu tư khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Không tính vào thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn đối với lợi tức của doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ.
[...]
Căn cứ quy định nêu trên, Cục Thuế hướng dẫn về thuế TNCN đối với thu nhập từ lợi tức của công ty TNHH một thành viên như sau:
Pháp luật thuế TNCN hiện hành quy định khoản lợi tức do cá nhân nhận được từ công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ nều lợi tức này nhận được từ doanh nghiệp Việt Nam được thành lập theo pháp luật Việt Nam sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

Công văn 2709/CT-CS về lợi tức từ công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ không tính thuế TNCN như thế nào? (Hình từ Internet)
Thu nhập từ lợi tức có được giảm trừ gia cảnh hay không?
Căn cứ Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 có quy định:
Điều 10. Giảm trừ gia cảnh
1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:
a) Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
2. Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
3. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế.
4. Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
a) Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
b) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
Như vậy, chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú mới được giảm trừ gia cảnh. Cho nên, thu nhập từ lợi tức không được giảm trừ gia cảnh.
Trường hợp nào được hoàn thuế TNCN?
Căn cứ Điều 6 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về quản lý thuế đối với thuế thu nhập cá nhân được quy định như sau:
Điều 6. Quản lý thuế đối với thuế thu nhập cá nhân
Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định về kỳ tính thuế theo năm đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập khác của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú; thời điểm xác định thu nhập tính thuế; quyết toán thuế; hoàn thuế đối với trường hợp cá nhân có số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp hoặc chưa đến mức phải nộp; trách nhiệm khấu trừ, khai thay, nộp thay cho người nộp thuế phù hợp với quy định của Luật Quản lý thuế.
Như vậy, người nộp thuế TNCN được hoàn thuế đối với trường hợp cá nhân có số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp hoặc chưa đến mức phải nộp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];