Công văn 10179/HAN-QLDN4 năm 2025 hướng dẫn phân bổ thuế TNCN ra sao?

Dương Thanh Trúc 90 lượt xem
16:32 | 08/09/2025
Công văn 10179/HAN-QLDN4 năm 2025 hướng dẫn phân bổ thuế TNCN ra sao? Phương pháp phân bổ thuế TNCN như thế nào?
Nội dung chính
  1. Công văn 10179 HAN QLDN4 năm 2025 hướng dẫn phân bổ thuế TNCN ra sao?
  2. Phương pháp phân bổ thuế TNCN như thế nào?
  3. Người nộp thuế thu nhập cá nhân gồm những đối tượng nào?

Công văn 10179 HAN QLDN4 năm 2025 hướng dẫn phân bổ thuế TNCN ra sao?

Ngày 11/8/2025, Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành Công văn 10179/HAN-QLDN4 năm 2025 hướng dẫn phân bổ thuế TNCN.

Trường hợp Công ty khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được trả tại trụ sở chính cho người lao động làm việc tại đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại tỉnh khác thì thực hiện khai thuế, tính thuế, phân bổ thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 19 Thông tư 80/2021/TT-BTC nêu trên.

Ngày 30/6/2025, Cục Thuế đã nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai (HTKK) đáp ứng sắp xếp, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.

Cơ quan thuế đã hướng dẫn, triển khai thu nộp thuế theo mã định danh khoản phải nộp (ID) tới người nộp thuế theo Công văn 1483/TCT-KK ngày 24/4/2023 của Tổng cục Thuế (trước sắp xếp).

Công văn 10179/HAN-QLDN4 năm 2025 hướng dẫn phân bổ thuế TNCN ra sao? (Hình từ Internet)

Phương pháp phân bổ thuế TNCN như thế nào?

Căn cứ theo Điều 19 Thông tư 80/2021/TT-BTC quy định trường hợp phân bổ thuế TNCN:

- Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được trả tại trụ sở chính cho người lao động làm việc tại đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại tỉnh khác.

- Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng của cá nhân trúng thưởng xổ số điện toán.

Ngoài ra, quy định phương pháp phân bổ thuế TNCN như sau:

[1] Phân bổ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:

Người nộp thuế xác định riêng số thuế thu nhập cá nhân phải phân bổ đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân làm việc tại từng tỉnh theo số thuế thực tế đã khấu trừ của từng cá nhân. Trường hợp người lao động được điều chuyển, luân chuyển, biệt phái thì căn cứ thời điểm trả thu nhập, người lao động đang làm việc tại tỉnh nào thì số thuế thu nhập cá nhân khấu trừ phát sinh được tính cho tỉnh đó.

[2] Phân bổ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng của cá nhân trúng thưởng xổ số điện toán:

Người nộp thuế xác định riêng số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với thu nhập từ trúng thưởng của cá nhân trúng thưởng xổ số điện toán tại từng tỉnh nơi cá nhân đăng ký tham gia dự thưởng đối với phương thức phân phối thông qua phương tiện điện thoại hoặc internet và nơi phát hành vé xổ số điện toán đối với phương thức phân phối thông qua thiết bị đầu cuối theo số thuế thực tế đã khấu trừ của từng cá nhân.

Người nộp thuế thu nhập cá nhân gồm những đối tượng nào?

Tại Điều 1 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định người nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 và Điều 3 Nghị định 65/2013/NĐ-CP. Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

- Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập;

- Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại ViệtNam, không phân biệt nơi trả thu nhập.

Mặt khác, Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:

(i) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

(ii) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

- Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú;

- Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại Điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam.

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại [1].

Dương Thanh Trúc
Dương Thanh Trúc Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Dạy học có chịu thuế GTGT không?

Theo Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 hoạt động dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp không chịu thuế GTGT.

Bài viết mới nhất