Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 296/2026/NĐ-CP Loại văn bản: Nghị định
Nơi ban hành: Chính phủ Người ký: Nguyễn Văn Thắng
Ngày ban hành: 23/07/2026 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

Quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp được sửa đổi bổ sung thế nào?

Theo Nghị định 296/2026 của Chính phủ, quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp được sửa đổi bổ sung thế nào?

Về vấn đề này, chuyên viên pháp lý Lê Nguyễn Anh Hào giải đáp như sau: 

Ngày 23/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 296/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, trong đó đã sửa đổi, bổ sung quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.

Theo đó, Nghị định 296/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp từ 23/7/2026, cụ thể:

Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:

(1) Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp.

Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.

Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.

Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.

(2)Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại (1), hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại (1) không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.

(3)Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại (1) và (2), doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.

Xem thêm Nghị định 296/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 23/7/2026.

>> XEM BẢN TIẾNG ANH CỦA BÀI VIẾT NÀY TẠI ĐÂY

CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 296/2026/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2026

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 168/2025/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 6 NĂM 2025 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 03/2022/QH15, Luật số 76/2025/QH15;

Căn cứ Luật Đầu tư số 143/2025/QH15;

Căn cứ Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo. Chủ sở hữu, cổ đông, thành viên của công ty thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn tại khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp, không đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp.”.

2. Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:

“7. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh khai thác, sử dụng thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và không yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp nộp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký thuế, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư chấp thuận về việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc bản sao văn bản chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và các giấy tờ khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị định này.

Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu cá nhân, tổ chức bổ sung bản sao các giấy tờ nêu trên theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị định này để giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Cá nhân, tổ chức thực hiện cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Việc khai thác, sử dụng thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu khác thực hiện theo thông báo trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

8. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bản sao hoặc bản chính nghị quyết hoặc quyết định của chủ sở hữu công ty, văn bản cử người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu là tổ chức trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị định này được thay thế bằng văn bản của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan.”.

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 12

“5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, thông tin cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài của công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh.

Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định này.

Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực điện tử thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao thẻ căn cước hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ chiếu nước ngoài hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực của người ủy quyền.

Điều 3. Sửa đổi, bổ sung Điều 17

“Điều 17. Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp

Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:

1. Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp.

Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.

Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.

Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.

2. Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.

3. Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.”.

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 18

“Điều 18. Kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp

1. Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 17 Nghị định này và kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.

Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thông qua việc rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế. Trường hợp trong cơ cấu sở hữu có thỏa thuận pháp lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền thì chủ sở hữu hưởng lợi của thỏa thuận pháp lý được xác định theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.

2. Việc kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi được thực hiện theo thứ tự sau:

a) Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền sở hữu quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định này;

b) Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 17, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 17 không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của một hoặc nhiều cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền thực tế chi phối quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định này;

c) Trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1, 2 Điều 17 thì người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân được quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định này.”.

Điều 5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 20

“2. Ở cấp xã:

a) Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

b) Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh là Ủy ban nhân dân cấp xã;

c) Cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh quy định tại điểm a và điểm b khoản này (sau đây gọi là Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã) có tài khoản và con dấu.”.

Điều 6. Bổ sung khoản 8a vào sau khoản 8 Điều 21

“8a. Cập nhật, lưu trữ thông tin về cổ đông của công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 06 năm kể từ ngày công ty giải thể theo quy định tại Nghị định này.”.

Điều 7. Bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5 Điều 24

“6. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp trước khi thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp không bao gồm bản sao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định tại khoản 5 Điều 20, điểm c khoản 4 Điều 21 và điểm c khoản 4 Điều 22 Luật Doanh nghiệp. Trong trường hợp này, giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.”.

Điều 8. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 38

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử bao gồm các giấy tờ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử theo quy định pháp luật. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng bản giấy.”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:

“a) Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử có đầy đủ thông tin theo quy định như hồ sơ đăng ký bằng bản giấy;”.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 như sau:

“d) Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 12 Nghị định này và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử quy định tại điểm a khoản này.”.

Điều 9. Sửa đổi, bổ sung Điều 39

“Điều 39. Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử

1. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Người nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp như sau:

a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và chỉ yêu cầu người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải thực hiện ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định và không phải tải lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp yêu cầu nhiều người ký và giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử;

b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử.

2. Các thông tin đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để phối hợp, trao đổi thông tin giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và Cơ quan thuế.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để nhận thông tin phản hồi về kết quả xử lý hồ sơ.

4. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký qua mạng thông tin điện tử có thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại khoản 6 Điều 31 Nghị định này.”.

Điều 10. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 51

“c) Bản sao hoặc bản chính hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc giấy tờ chứng minh việc hoàn tất chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng cổ phần; giấy tờ chứng minh việc góp vốn trong trường hợp cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần chào bán riêng lẻ; hợp đồng tặng cho cổ phần trong trường hợp tặng cho cổ phần;”.

Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 60

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Trường hợp doanh nghiệp, chi nhánh, địa điểm kinh doanh tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo, văn phòng đại diện tạm ngừng hoạt động hoặc tiếp tục hoạt động trước thời hạn đã thông báo, doanh nghiệp gửi hồ sơ thông báo đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đặt trụ sở chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động hoặc tiếp tục kinh doanh, tiếp tục hoạt động trước thời hạn đã thông báo. Trường hợp doanh nghiệp, chi nhánh, địa điểm kinh doanh có nhu cầu tiếp tục tạm ngừng kinh doanh, văn phòng đại diện có nhu cầu tiếp tục tạm ngừng hoạt động sau khi hết thời hạn đã thông báo thì phải gửi hồ sơ thông báo tạm ngừng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tiếp tục tạm ngừng. Thời hạn tạm ngừng của mỗi lần thông báo không được quá 12 tháng. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá 24 tháng.”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:

“a) Thông báo tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động, trong đó bao gồm thông tin về số điện thoại và địa chỉ thư điện tử của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;”.

3. Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:

“7. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, khi có thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này, doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo quy định.

8. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại và cam kết đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp với Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Trường hợp không xác nhận trong thời hạn nêu trên, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn yêu cầu xác nhận nêu trên, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 Luật Doanh nghiệp đồng thời gửi Cơ quan quản lý thuế để phối hợp quản lý nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 69 Nghị định này. Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Điều 65 Nghị định này.”.

Điều 12. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 61

“3. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, đình chỉ hoạt động, chấm dứt kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi có thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này, doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo quy định.”.

Điều 13. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 64

“3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp, doanh nghiệp gửi hồ sơ đăng ký giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, hồ sơ đăng ký giải thể doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 210 Luật Doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán, thông báo về việc giải thể doanh nghiệp trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao sổ đăng ký cổ đông.”.

Điều 14. Sửa đổi, bổ sung Điều 72

“Điều 72. Quy trình chuyển tình trạng pháp lý, đình chỉ thủ tục phá sản, hủy quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản

1. Việc chuyển tình trạng pháp lý sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án

a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, trích lục quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đã phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đã chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;

c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định không mở thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh lưu giữ thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng pháp lý trước thời điểm có quyết định mở thủ tục phá sản trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định đình chỉ thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh lưu giữ thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp Tòa án giữ nguyên quyết định đình chỉ thủ tục phá sản hoặc chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp Tòa án hủy quyết định đình chỉ thủ tục phá sản và giao cho Thẩm phán tiến hành giải quyết thủ tục phá sản.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hủy quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp dưới có thẩm quyền giải quyết lại của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

5. Thông tin về việc doanh nghiệp đang làm thủ tục phá sản hoặc đã phá sản và chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động hoặc đã chấm dứt hoạt động được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để cập nhật.”.

Điều 15. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 93

“5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy quyền phải thực hiện xác thực điện tử để được cấp đăng ký hộ kinh doanh khi thực hiện thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi chủ hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh.

Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký hộ kinh doanh. Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã yêu cầu hộ kinh doanh báo cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Nghị định này.

Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực điện tử thì hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh phải kèm theo bản sao thẻ Căn cước hoặc thẻ Căn cước công dân còn hiệu lực của người ủy quyền.”.

Điều 16. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 103

“5. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, khi có thay đổi thông tin đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 100 Nghị định này, hộ kinh doanh phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.”.

Điều 17. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 112

1. Sửa đổi khoản 1 như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử bao gồm các giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử. Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh bằng bản giấy.”.

2. Sửa đổi điểm a khoản 2 như sau:

“a) Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử có đầy đủ thông tin theo quy định như hồ sơ đăng ký bằng bản giấy. Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh bằng bản giấy;”.

3. Sửa đổi điểm d khoản 2 như sau:

“d) Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh, hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 93 Nghị định này được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử theo quy định.”.

4. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 như sau:

“4. Trường hợp hồ sơ được tiếp nhận trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh sau giờ hành chính hoặc vào ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo quy định thì thời hạn trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh quy định tại Nghị định này được tính từ ngày làm việc kế tiếp của ngày hồ sơ được tiếp nhận.”.

Điều 18. Sửa đổi, bổ sung Điều 113

“Điều 113. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử”

1. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Người nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh theo quy trình trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh như sau:

a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký hộ kinh doanh

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh và chỉ yêu cầu người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải thực hiện ký số và tải lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Đối với các giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh.

Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh yêu cầu nhiều người ký và giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử;

b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ, người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả điện tử.

2. Các thông tin đăng ký hộ kinh doanh trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để phối hợp, trao đổi thông tin giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã và cơ quan thuế.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh để nhận thông tin phản hồi về kết quả xử lý hồ sơ.

4. Hộ kinh doanh thực hiện thủ tục đăng ký qua mạng thông tin điện tử có thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại khoản 5 Điều 95 Nghị định này.”.

Điều 19. Thay thế, bãi bỏ một số cụm từ, khoản

1. Thay thế cụm từ “bản dịch tiếng Việt công chứng” bằng cụm từ “bản dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch” tại khoản 2 Điều 10.

2. Thay thế cụm từ “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này” bằng cụm từ “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 8a Điều này” tại khoản 9 Điều 21.

3. Thay thế cụm từ “03 ngày làm việc” bằng cụm từ “02 ngày làm việc” tại khoản 6 Điều 31, khoản 5 Điều 56, khoản 4 Điều 66, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 77, khoản 5 Điều 95, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 115.

4. Thay thế cụm từ “Hệ thống thông tin đăng ký thuế” bằng cụm từ “Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế” tại khoản 2 Điều 53.

5. Thay thế cụm từ “nơi đặt địa điểm kinh doanh” bằng cụm từ “theo quy định pháp luật” tại khoản 2 Điều 87.

6. Bãi bỏ cụm từ “và danh sách người đại diện theo ủy quyền” tại khoản 3 Điều 54.

7. Bãi bỏ cụm từ “nơi đã nộp hồ sơ” tại khoản 5 Điều 95.

8. Bãi bỏ cụm từ “nơi hộ kinh doanh đăng ký trụ sở” tại khoản 1 Điều 99.

9. Bãi bỏ Điều 37, khoản 2 Điều 52, Điều 111, khoản 3 Điều 124.

Điều 20. Xử lý hồ sơ tiếp nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành

1. Trường hợp hồ sơ đăng ký giải thể, thông báo tạm ngừng kinh doanh được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì việc giải quyết thủ tục này thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, việc giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp đối với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đã được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.

3. Việc giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh đối với hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh đã được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã chấp thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thực hiện theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.

Điều 21. Điều khoản chuyển tiếp

1. Quy định về tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không quá 24 tháng quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này được áp dụng đối với doanh nghiệp đã thông báo tạm ngừng kinh doanh trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành như sau:

a) Trường hợp tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp đến thời điểm kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất chưa vượt quá 24 tháng thì doanh nghiệp được tiếp tục đăng ký tạm ngừng kinh doanh nhưng phải bảo đảm tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp, bao gồm cả thời gian đã đăng ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, không được vượt quá 24 tháng;

b) Trường hợp tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp đến thời điểm kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất đã vượt quá 24 tháng thì doanh nghiệp không được tiếp tục đăng ký tạm ngừng kinh doanh sau khi thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất kết thúc.

2. Quy định về xác nhận tiếp tục kinh doanh trở lại khi kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này được áp dụng đối với doanh nghiệp thông báo tạm ngừng kinh doanh kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Điều 22. Điều khoản thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 23 tháng 7 năm 2026.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu và các đối tượng áp dụng của Nghị định chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 


Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ, Cục, Công báo;
- Lưu: VT, KTTH (2).

TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG

PHÓ THỦ TƯỚNG




Nguyễn Văn Thắng

 

THE GOVERNMENT OF VIETNAM
--------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence-Freedom-Happiness
-----------------

No. 296/2026/ND-CP

Hanoi, July 23, 2026

 

DECREE

AMENDMENTS TO GOVERNMENT’S DECREE NO. 168/2025/ND-CP DATED JUNE 30, 2025 ON ENTERPRISE REGISTRATION

Pursuant to the Law on Government Organization No. 63/2025/QH15;

Pursuant to the Law on Organization of Local Governments No. 72/2025/QH15;

Pursuant to the Law on Enterprises No. 59/2020/QH14, as amended by the Law No. 03/2022/QH15, and the Law No. 76/2025/QH15;

Pursuant to the Law on Investment No. 143/2025/QH15;

Pursuant to the Law on Bankruptcy and Rehabilitation No. 142/2025/QH15;

At the request of the Minister of Finance of Vietnam;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 1. Amendments to some clauses of Article 4

1. Clause 1 is amended as follows:

“1. The enterprise’s founder or the enterprise shall themself complete the application for enterprise registration and take legal responsibility for the legitimacy, truthfulness, and accuracy of information declared therein and relevant reports. The owner, shareholders, and members of a company shall fully and strictly comply with regulations on assets contributed as capital set out in clause 2 Article 34 of the Law on Enterprises, and shall not act as nominees or use their names on behalf of any other person for the purpose of contributing capital to the enterprise.”.

2. Clauses 7 and 8 are added following clause 6 as follows:

“7. The provincial-level business registration authority shall access and use information already available in the National Enterprise Registration Database and other national databases and specialized databases, and shall not require the individual or organization (applicant) following enterprise registration procedures to submit a copy of the enterprise registration certificate, cooperative registration certificate, household business registration certificate, tax registration certificate, investment registration certificate, the investment registration authority's written approval of capital contribution or purchase of shares/stakes by foreign investors or foreign-invested economic organizations, or the establishment and operation license, or a copy of the written approval of the State Securities Commission, a legally effective Court decision, or another document included in the application for enterprise registration as prescribed in the Law on Enterprises and this Decree.

Where the required information cannot be obtained, or the obtained information is incomplete or inaccurate, the provincial-level business registration authority shall request the applicant to submit copies of the above-mentioned documents in accordance with the Law on Enterprises and this Decree in order to complete the enterprise registration procedures. The applicant shall update and rectify the information in relevant databases in accordance with regulations of law.

The access to and use of information already available in relevant databases to replace components of the application for enterprise registration, on the basis of connection and sharing of information between the National Enterprise Registration Database and other databases, shall be carried out according to the notice published on the National Business Registration Portal.

8. For a single-member limited liability company of which 100% of charter capital is held by the State, a copy or the original of the resolution or decision of the company owner, or the document appointing the authorized representative of the owner that is an organization, included in the application for enterprise registration as prescribed in the Law on Enterprises and this Decree, may be replaced with a document issued by a competent organization or individual in accordance with regulations of law on management and investment of state capital in enterprises, and other relevant laws.”.

Article 2. Amendments to clause 5 Article 12

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



In case of interrupted electronic authentication, the authorizing person may complete the electronic authentication after an enterprise registration certificate has been issued. Where the authorizing person fails to confirm the authorization, or confirms that no authorization has been made, to follow enterprise registration procedures, the provincial-level business registration authority shall request the subject enterprise to submit a report as prescribed in clause 5 Article 21 of this Decree.

Where an electronic identification account is not yet available to serve the electronic authentication, the application for enterprise registration must be accompanied by a copy of the unexpired identity card, citizen identity card, passport, foreign passport, or another document of equivalent validity in lieu of a foreign passport, of the authorizing person.”.

Article 3. Amendments to Article 17

“Article 17. Beneficial owners of an enterprise

A beneficial owner of an enterprise having juridical person status is one or more individuals who, directly or indirectly, ultimately own or exercise effective control over the enterprise, excluding an individual representing state capital in the enterprise (hereinafter referred to as “beneficial owner of the enterprise”). The beneficial owner shall be one or more individuals identified as follows:

1. An individual who, directly or indirectly, or both directly and indirectly, owns 25% or more of the charter capital or 25% or more of the total voting shares of the enterprise.

An indirect owner is an individual who owns 25% or more of the charter capital or 25% or more of the total voting shares of the enterprise through organizations or other legal arrangements.

Where a group of individuals having a family relationship as prescribed in clause 22 Article 4 of the Law on Enterprises, or bound by a contract, jointly own, directly or indirectly, or both directly and indirectly, 25% or more of the charter capital or 25% or more of the total voting shares of the enterprise, the enterprise shall identify the individuals within such group as beneficial owners of the enterprise.

For a partnership, all general partners are considered its beneficial owners regardless of their respective proportion of contributed charter capital or voting rights in the partnership.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Where no individual satisfies the criteria set out in clauses 1 and 2 of this Article, the enterprise shall identify, as its beneficial owner, the individual with the highest managerial authority who is authorized to act on behalf of the enterprise, excluding an individual representing state capital in the enterprise.”.

Article 4. Amendments to Article 18

“Article 18. Declaration and notification of information on beneficial owners of an enterprise

1. The enterprise or its founder shall be responsible for identifying the beneficial owners of the enterprise as prescribed in Article 17 of this Decree, and for declaring and notifying the business registration authority of information on such beneficial owners.

The enterprise or its founder shall be responsible for identifying the beneficial owners of the enterprise by reviewing each level of the enterprise's ownership structure until the individual or individuals who exercise ultimate ownership or ultimate effective control are identified.  Where the ownership structure includes a legal arrangement as prescribed by the law on anti-money laundering, the beneficial owners of such legal arrangement shall be identified in accordance with the law on anti-money laundering.

2. Information on beneficial owners shall be declared in the following order:

a) The enterprise or its founder shall declare and notify the business registration authority of information on the individuals satisfying the ownership criteria set out in Clause 1 Article 17 of this Decree;

b) Where no individual satisfies the criteria set out in Clause 1 Article 17, or where there are grounds to believe that an individual identified under the criteria set out in Clause 1 Article 17 is not the beneficial owner of the enterprise, the enterprise or its founder shall declare and notify the business registration authority of information on one or more individuals satisfying the effective control criteria set out in Clause 2 Article 17 of this Decree;

c) Where no individual satisfies the criteria set out in Clauses 1 and 2 Article 17, the enterprise or its founder shall declare and notify the business registration authority of information on the individual prescribed in Clause 3 Article 17 of this Decree.”.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



“2. At commune level:

a) Where there is specialized division established within a commune-level administrative division, the business registration authority responsible for handling household business registration procedures shall be the specialized division affiliated to the commune-level People's Committee assigned the functions and duties of household business registration pursuant to a decision of the People's Committee of the relevant province or central-affiliated city;

b) Where there is no specialized division established within a commune-level administrative division, the commune-level People's Committee shall be responsible for handling household business registration procedures;

c) The business registration authorities responsible for handling household business registration procedures as prescribed in points a and b of this clause (hereinafter referred to as “commune-level business registration authority”) shall each have their own accounts and official seals.”.

Article 6. Addition of clause 8a following clause 8 Article 21

“8a. Update and retain information on shareholders of a joint-stock company that is not listed or registered for securities trading in the National Enterprise Registration Database for a period of 06 years from the date of dissolution of the company as prescribed in this Decree.”.

Article 7. Addition of clause 6 following clause 5 Article 24

“6. Where a foreign investor establishes an enterprise before following procedures for issuance or adjustment of an investment registration certificate in accordance with the Law on investment, the application for enterprise registration shall not include a copy of the investment registration certificate prescribed in clause 5 Article 20, point c clause 4 Article 21 and point c clause 4 Article 22 of the Law on Enterprises. In this case, the application form for enterprise registration shall include a commitment to satisfy market access conditions applicable to foreign investors in accordance with regulations of law.”.

Article 8. Amendments to some points and clauses of Article 38

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



“1. An online application for enterprise registration shall contain the documents prescribed in the 2020 Law on Enterprises, as amended in 2025, and this Decree, presented in the form of electronic documents or electronic data in accordance with law. An online application for enterprise registration shall have the same legal validity as a physical one.”.

2. Point a Clause 2 is amended as follows:

“a) It contains all required documents, the contents of which are fully declared un the same manner as for a physical application, and such documents are presented in the form of electronic documents or electronic data containing all information required for a physical application;”.

3. Point d clause 2 is amended as follows:

“d) Where authorization is granted to follow enterprise registration procedures, the online application for enterprise registration must be accompanied by the documents prescribed in Article 12 of this Decree, presented in the form of electronic documents or electronic data prescribed in point a of this clause.”.

Article 9. Amendments to Article 39

“Article 39. Procedures for online enterprise registration 

1. The applicant shall log in to the National Public Service Portal or the national identification application using an electronic identification account to access the National Enterprise Registration Information System. The applicant shall follow enterprise registration procedures on the National Enterprise Registration Information System according to the following process:

a) Where the applicant is the person competent to sign the application form for enterprise registration

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



For application forms or notices whose contents are declared on the National Enterprise Registration Information System and which require signatures of multiple persons, and for other documents included in the application as prescribed, the applicant shall ensure that such documents are digitally signed or signed by hand in accordance with regulations, presented in the form of electronic documents, and uploaded to the National Enterprise Registration Information System.

The applicant shall pay the required fees and charges (if any) and carry out electronic authentication as prescribed in order to submit the application. Upon completion of the application submission, the applicant shall receive an electronic receipt of application and appointment for result return;

b) Where the applicant is the person authorized to follow enterprise registration procedures

The applicant shall declare information and upload the documents included in the application as prescribed to the National Enterprise Registration Information System. Such documents must be digitally signed or signed by hand in accordance with regulations, and presented in the form of electronic documents.

The applicant shall pay the required fees and charges (if any) and carry out electronic authentication as prescribed in order to submit the application. Upon completion of the application submission, the applicant shall receive an electronic receipt of application and appointment for result return.

2. Information on enterprise registration on the National Enterprise Registration Information System shall be transmitted to the Taxpayer Registration System to serve the cooperation and information exchange between the provincial-level business registration authority and the tax authority.

3. The provincial-level business registration authority shall consider the validity of the application and return the application processing result to the applicant in accordance with the Law on Enterprises and provisions of this Decree. The applicant shall log in to the National Enterprise Registration Information System to receive the application processing result.

4. The enterprise or its founder following online enterprise registration procedures may stop following such procedures as prescribed in clause 6 Article 31 of this Decree.”.

Article 10. Amendments to point c clause 1 Article 51

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 11. Amendments to some points and clauses of Article 60

1. Clause 1 is amended as follows:

“1. Where an enterprise or its branch/business location suspends its business or resumes its business ahead of the notified schedule, or where a representative office suspends its operation or resumes its operation ahead of the notified schedule, the enterprise shall send a notification dossier to the provincial-level business registration authority in charge of the province where the enterprise is headquartered or its branch/representative office/business location is situated at least 03 working days before the notified date of business/operational suspension or resumption. If the enterprise or its branch/business location still wishes to suspend its business or the representative office still wishes to suspend its operation after the end of the notified suspension period, another notice of business or operational suspension must be sent to the provincial-level business registration authority at least 03 working days before the planned date of suspension. Each notified suspension period shall not exceed 12 months. The total duration of consecutive business suspension shall not exceed 24 months.”.

2. Point a Clause 2 is amended as follows:

“a) A notice of business suspension or operational suspension, which shall indicate information on the telephone number and email address of the enterprise's legal representative;”.

3. Clauses 7 and 8 are added following clause 6 as follows:

“7. During the business suspension, where there is a change in enterprise registration information as prescribed in Articles 30 and 31 of the 2020 Law on Enterprises, as amended in 2025, and this Decree, the enterprise shall follow procedures for registration or notification of such change in enterprise registration information as prescribed.

8. Within 05 working days from the end of the notified business suspension period, the enterprise's legal representative shall confirm the resumption of business and undertake that the enterprise has fully fulfilled its enterprise registration obligations with the provincial-level business registration authority following the procedures on the National Enterprise Registration Information System.

Where such confirmation is not made within the above-mentioned time limit, within 10 working days from the end of such prescribed time limit for confirmation, the provincial-level business registration authority shall send a written request to the enterprise to submit a report as prescribed in point c clause 1 Article 216 of the Law on Enterprises, and concurrently send it to the tax authority for coordination in performing state management tasks.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 12. Addition of clause 3 following clause 2 Article 61

“3. During the period of business suspension or operational suspension, or where termination of business is carried out at the request of a competent authority, if there is a change in enterprise registration information prescribed in Articles 30 and 31 of the 2020 Law on Enterprises, as amended in 2025, and this Decree, the enterprise shall follow procedures for registration or notification of such change in enterprise registration information as prescribed.”.

Article 13. Amendments to clause 3 Article 64

“3. Within 05 working days after it has fully paid all debts, the enterprise shall submit an application for dissolution to the provincial-level business registration authority in charge of the province where it is headquartered. Such an application includes the documents specified in clause 1 Article 210 of the Law on Enterprises. For a joint-stock company that is not listed or registered for securities trading, the notice of enterprise dissolution included in the application for enterprise registration must be accompanied by a copy of the shareholder register.”.

Article 14. Amendments to Article 72

“Article 72. Procedures for change of legal status, suspension of bankruptcy proceedings, and annulment of decision to declare an enterprise bankrupt

1. Change of legal status upon issuance of a decision to initiate bankruptcy proceedings, or a decision to declare an enterprise bankrupt, by the Court

a) Within 03 working days from its receipt of the Court’s decision to initiate bankruptcy proceedings, the provincial-level business registration authority shall change the legal status of the enterprise into “undergoing bankruptcy proceedings”, and change the legal status of its branches, representative offices, and business locations into “following shutdown procedures” on the National Enterprise Registration Database;

b) Within 03 working days from its receipt of the Court’s decision to declare an enterprise bankrupt or the extract thereof, the provincial-level business registration authority shall change the legal status of the enterprise into “bankrupt”, and change the legal status of its branches, representative offices, and business locations into “shut down” on the National Enterprise Registration Database;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Within 03 working days from its receipt of the Court’s decision to suspend bankruptcy proceedings, the provincial-level business registration authority shall change the legal status of the enterprise, and the legal status of its branches, representative offices and business locations, back to their corresponding legal status in effect before the decision to initiate bankruptcy proceedings was issued, on the National Enterprise Registration Database.

3. Within 03 working days from its receipt of the decision on resolution of a request for review of, or petition against, the decision to suspend bankruptcy proceedings issued by the Court, the provincial-level business registration authority shall retain such information on the National Enterprise Registration Database, in case the Court upholds its decision to suspend bankruptcy proceedings, or shall change the legal status of the enterprise into “undergoing bankruptcy proceedings”, and the legal status of its branches, representative offices and business locations into “following shutdown procedures”, on the National Enterprise Registration Database, in case the Court annuls the decision to suspend bankruptcy proceedings and assigns a Judge to continue resolving the bankruptcy proceedings.

4. Within 03 working days from its receipt of the Court’s decision to annul the decision to declare an enterprise bankrupt and refer the case file to a lower-level People's Court having appropriate jurisdiction for re-resolution, the provincial-level business registration authority shall change the legal status of the enterprise into “undergoing bankruptcy proceedings”, and the legal status of its branches, representative offices, and business locations into “following shutdown procedures”, on the National Enterprise Registration Database.

5. Information on the enterprise that is undergoing bankruptcy proceedings or is declared bankrupt and its branches/representative offices/business locations that are following shutdown procedures or have been shut down shall be transmitted to the Taxpayer Registration System for updating.”.

Article 15. Amendments to clause 5 Article 93

“5. The authorizing person and the person authorized to follow household business registration procedures shall assume legal responsibility for the legitimacy, truthfulness and accuracy of such authorization. The authorizing person and the authorized person must carry out electronic authentication in order to be issued with a certificate of household business registration when following procedures for registration of a household business, registration of replacement of the household business owner, or family household members applying for household business registration.

In case of interrupted electronic authentication, the authorizing person may complete the electronic authentication after a certificate of household business registration has been issued. Where the authorizing person fails to confirm the authorization, or confirms that no authorization has been made, to follow household business registration procedures, the commune-level business registration authority shall request the subject household business to submit a report as prescribed in clause 6 Article 22 of this Decree.

Where an electronic identification account is not yet available to serve the electronic authentication, the application for household business registration must be accompanied by a copy of the unexpired identity card, or citizen identity card, of the authorizing person.”.

Article 16. Addition of clause 5 following clause 4 Article 103

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 17. Amendments to some points and clauses of Article 112

1. Clause 1 is amended as follows:

“1. An online application for household business registration shall contain the documents prescribed in this Decree, presented in the form of electronic documents or electronic data. An online application for household business registration shall have the same legal validity as a physical one.”.

2. Point a Clause 2 is amended as follows:

“a) It contains all required documents, the contents of which are fully declared in the same manner as for a physical application, and such documents are presented in the form of electronic documents or electronic data containing all information required for a physical application. Names of electronic documents must be relevant to names of physical documents included in the application for household business registration;”.

3. Point d Clause 2 is amended as follows:

“d) Where authorization is granted to follow household business registration procedures, the online application for household business registration must be accompanied by the documents prescribed in Article 93 of this Decree, presented in the form of electronic documents or electronic data as prescribed.”.

4. Clause 4 is added following clause 3 as follows:

“4. Where an application is received on the Household Business Registration Information System after office hours or on a day off, public holiday or Tet holiday as prescribed, the time limit for returning the handling result of household business registration procedures prescribed in this Decree shall be counted from the working day following the day on which the application is received.”.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



“Article 113. Procedures for online household business registration 

1. The applicant shall log in to the National Public Service Portal or the national identification application using an electronic identification account to access the Household Business Registration Information System. The applicant shall follow household business registration procedures on the Household Business Registration Information System according to the following process:

a) Where the applicant is the person competent to sign the application form for household business registration

The applicant shall declare information on the Household Business Registration Information System.  For application forms or notices whose contents are declared on the Household Business Registration Information System and which only require the applicant's signature, the applicant shall not be required to digitally sign or upload such applications or notices to the Household Business Registration Information System. For other documents included in the application as prescribed, the applicant shall ensure that such documents are digitally signed or signed by hand in accordance with regulations, presented in the form of electronic documents, and uploaded to the Household Business Registration Information System.

For application forms or notices whose contents are declared on the Household Business Registration Information System and which require signatures of multiple persons, and for other documents included in the application as prescribed, the applicant shall ensure that such documents are digitally signed or signed by hand in accordance with regulations, presented in the form of electronic documents, and uploaded to the Household Business Registration Information System.

The applicant shall pay the required fees and charges (if any) and carry out electronic authentication as prescribed in order to submit the application. Upon completion of the application submission, the applicant shall receive an electronic receipt of application and appointment for result return;

b) Where the applicant is the person authorized to follow household business registration procedures

The applicant shall declare information and upload the documents included in the application as prescribed to the Household Business Registration Information System. Such documents must be digitally signed or signed by hand in accordance with regulations, and presented in the form of electronic documents.

The applicant shall pay the required fees and charges (if any) and carry out electronic authentication as prescribed in order to submit the application. Upon completion of the application submission, the applicant shall receive an electronic receipt of application and appointment for result return.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. The commune-level business registration authority shall consider the validity of the application and return the application processing result to the applicant in accordance with provisions of this Decree. The applicant shall log in to the Household Business Registration Information System to receive the application processing result.

4. The household business following online household business registration procedures may stop following such procedures as prescribed in clause 5 Article 95 of this Decree.”.

Article 19. Replacement and abrogation of some phrases and clauses

1. The phrase “bản dịch tiếng Việt công chứng” (“notarized Vietnamese translation”) is replaced with the phrase “bản dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch” (“Vietnamese translation bearing the translator's signature certified”) in clause 2 Article 10.

2. The phrase “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này” (“clauses 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 and 8 of this Article”) is replaced with the phrase “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 8a Điều này” (“clauses 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 and 8a of this Article”) in clause 9 Article 21.

3. The phrase “03 ngày làm việc” (“03 working days”) is replaced with the phrase“02 ngày làm việc” (“02 working days”) in clause 6 Article 31, clause 5 Article 56, clause 4 Article 66, clauses 1, 2, 3 and 4 Article 77, clause 5 Article 95, and clauses 1, 2, 3 and 4 Article 115.

4. The phrase “Hệ thống thông tin đăng ký thuế” (“Tax Registration Information System”) is replaced with the phrase “Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế” (“Taxpayer Registration Application System”) in clause 2 Article 53.

5. The phrase “nơi đặt địa điểm kinh doanh” (“where the business location is situated”) is replaced with the phrase “theo quy định pháp luật” (“in accordance with regulations of law”) in clause 2 Article 87.

6. The phrase “và danh sách người đại diện theo ủy quyền” (“and the list of authorized representatives”) is removed from clause 3 Article 54.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



8. The phrase “nơi hộ kinh doanh đăng ký trụ sở” (“where the household business is headquartered”) is removed from clause 1 Article 99.

9. Article 37, clause 2 Article 52, Article 111, and clause 3 Article 124 are abrogated.

Article 20. Processing of applications received before the effective date of this Decree

1. Where an application for dissolution or a notification of business suspension has been received but not yet approved by a provincial-level business registration authority before the effective date of this Decree, the handling of such procedures shall comply with the provisions of this Decree.

2. Except for the case prescribed in clause 1 of this Article, the processing of applications for enterprise registration that have been received but not yet approved by the provincial-level business registration authority before the effective date of this Decree shall comply with the provisions of Decree No. 168/2025/ND-CP.

3. The processing of applications for household business registration that have been received but not yet approved by the commune-level business registration authority before the effective date of this Decree shall comply with the provisions of Decree No. 168/2025/ND-CP.

Article 21. Transition

1. The provision that the total duration of consecutive business suspension shall not exceed 24 months in clause 1 Article 11 of this Decree shall apply to an enterprise that has notified its business suspension before the effective date of this Decree as follows:

a) Where the total duration of consecutive business suspension, up to the end of the most recently notified suspension period, has not yet exceeded 24 months, the enterprise may continue to apply for approval of its business suspension, provided that the total duration of consecutive business suspension, including the periods already registered before the effective date of this Decree, does not exceed 24 months;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The provision on confirmation of resumption of business upon the end of a business suspension period in clause 3 Article 11 of this Decree shall apply to an enterprise that submits notification of business suspension on or after the effective date of this Decree.

Article 22. Effect 

1. This Decree comes into force from July 23, 2026.

2. Ministers, heads of ministerial-level agencies, Chairpersons of People's Committees of provinces and central-affiliated cities, Chairpersons of People's Committees of communes, wards and special zones, and the regulated entities of this Decree shall be responsible for the implementation of this Decree.

 

 

ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
PP. THE PRIME MINISTER
DEPUTY PRIME MINISTER




Nguyen Van Thang

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Nghị định 296/2026/NĐ-CP ngày 23/07/2026 sửa đổi Nghị định 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 11/12/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 09/01/2026

Ban hành: 11/12/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 29/12/2025

Ban hành: 17/06/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 26/06/2025

Ban hành: 16/06/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 17/06/2025

Ban hành: 18/02/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 22/02/2025

Ban hành: 17/06/2020

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 08/07/2020

40.162

DMCA.com Protection Status
IP: 20.227.140.47