|
BỘ LAO ĐỘNG -
THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
|
|
Số: 3993/LĐTBXH-VL
V/v Trả lời ý kiến chất vấn của đại biểu Quốc
hội.
|
Hà Nội, ngày 16
tháng 11 năm 2011
|
|
Kính gửi:
|
Đại biểu Đoàn Nguyễn Thùy Trang
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh
|
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được chất
vấn của Đại biểu do Văn phòng Quốc hội chuyển đến theo công văn số 44/CV-KH2
ngày 28/11/2011, về những vấn đề Đại biểu chất vấn, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội xin báo cáo như sau:
Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã
hôi tỉnh Ninh Bình, tỉnh Cà Mau và tỉnh Đắc Nông thì tại thời điểm tháng 8 năm
2011, người nước ngoài làm việc tại các địa phương chủ yếu tập trung tại các dự
án do nhà thầu nước ngoài thực hiện, cụ thể như sau;
- Tại tỉnh Ninh Bình có 1.733 người nước ngoài,
trong đó có 1.363 người nước ngoài làm việc tại các dự án do nhà thầu nước
ngoài thực hiện, tương đương 78,65% (bao gồm 298 người đã cấp giấy phép lao động,
1.005 người không thuộc đối tượng cấp giấy phép lao động và 60 người chưa được
cấp giấy phép lao động).
- Tại tỉnh Cà Mau có hơn 1.700 người nước ngoài,
trong đó có 1.629 người nước ngoài làm việc tại các dự án do nhà thầu nước
ngoài thực hiện (bao gồm 479 người đã cấp giấy phép lao động, 420 người không
thuộc đối tượng cấp giấy phép lao động và 730 người chưa được cấp giấy phép lao
động).
- Tại tỉnh Đắc Nông có 343 người nước ngoài, trong
đó có 313 người nước ngoài làm việc tại các dự án do nhà thầu nước ngoài thực
hiện (bao gồm 133 người đã cấp giấy phép lao động, 9 người không thuộc đối tượng
cấp giấy phép lao động và 171 người chưa được cấp giấy phép lao động).
Số người nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhưng
chưa được cấp giấy phép lao động chủ yếu do:
+ Ý thức chấp hành pháp luật của cả người lao động
và người sử dụng lao động thấp, chưa nghiêm túc trong việc chuẩn bị các giấy tờ
và làm các thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động; không ít trường hợp người nước
ngoài chưa thực hiện việc cấp giấy phép lao động trước khi vào Việt Nam làm việc
theo quy định của pháp luật.
+ Pháp luật về đấu thầu mới quy định về mời thầu, dự
thầu, chấm thầu, chưa có quy định về tổ chức thực hiện và giám sát quá trình thực
hiện các gói thầu hoặc dự án đã trúng thầu; chưa quy định về việc kê khai trong
hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất về phương án sử dụng lao động Việt Nam và người nước
ngoài và trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc xác định các vị trí công việc mà
lao động Việt Nam chưa đáp ứng được cần tuyển người nước ngoài.
+ Chế tài xử lý, xử phạt các hành vi vi phạm chưa đủ
để răn đe và buộc người sử dụng lao động và người lao động phải thực hiện (theo
quy định tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 47/2010/NĐ-CP
ngày 06/5/2010 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm
pháp luật lao động thì mức xử phạt vi phạm những quy định về lao động là người
nước ngoài làm việc tại Việt Nam là 15 - 20 triệu đồng với mỗi một hành vi vi
phạm); các biện pháp cưỡng chế chưa kiên quyết; có địa phương còn nương nhẹ để
thu hút đầu tư, thiếu kiên quyết trong việc xử lý vi phạm của dự án trọng điểm
quốc gia hay của địa phương. Bên cạnh việc xử phạt hành chính về hành vi vi phạm
pháp luật lao động thì chưa có biện pháp xử lý triệt để đối với các doanh nghiệp,
nhà thầu hay cá nhân người nước ngoài cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam.
Với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh
vực lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nghiên cứu, ban hành và
trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật; tổ chức chỉ đạo, hướng
dẫn triển khai thực hiện; thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm theo thẩm
quyền.
Để tăng cường công tác quản lý người nước ngoài làm
việc tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ ban
hành Nghị định số 46/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng
và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (có hiệu lực từ ngày
01/8/2011) đã mở rộng phạm vi và đối tượng áp dụng (hội, hiệp hội doanh nghiệp);
tăng cường quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, nhất là quy định về
người nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các gói thầu hoặc dự án của nhà thầu
nước ngoài đã trúng thầu tại Việt Nam, quy định về đăng ký sử dụng người nước
ngoài, quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công an và trách nhiệm của Bộ Công
Thương, đồng thời đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong việc tuyển dụng và
quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Bộ đã có công văn số
828/LĐTBXH-VL ngày 22/3/2010, công văn số 95/LĐTBXH-VL ngày 11/01/2011 và công
văn số 3178/LĐTBXH-VL ngày 23/9/2011 gửi Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đề nghị chỉ đạo các Sở, ban, ngành và các cơ quan có liên quan
triển khai thực hiện một số giải pháp để quản lý chặt chẽ lao động nước ngoài
làm việc tại địa bàn theo đúng quy định của pháp luật.
Hằng năm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối
hợp với Bộ Công an. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức các đoàn khảo sát, kiểm tra
tình hình lao động nước ngoài tại một số địa phương. Trong năm 2011, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội đã chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư tổ chức các đoàn công tác để kiểm tra tình hình quản lý người nước ngoài tại
3 khu vực (miền Bắc, miền Trung và miền Nam), trong đó tập trung vào những tỉnh
có nhiều người nước ngoài đang làm việc.
Thời gian tới, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
sẽ tập trung các giải pháp sau:
- Một là, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp
luật liên quan đến người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trước hết là xây dựng
Luật Việc làm, trong đó có nội dung quy định về người nước ngoài ;àm việc tại
Việt Nam, bao gồm điều kiện người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam, quyền
và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động và các cơ quan có
liên quan, các vị trí, các loại công việc được sử dụng người nước ngoài, ưu
tiên sử dụng lao động Việt Nam thực hiện các công việc mà lao động Việt Nam có
khả năng thực hiện; cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài...
Đồng thời đề nghị sớm xây dựng Luật về Xuất cảnh,
nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, trong đó xác định cụ thể
mục đích của người nước ngoài vào Việt Nam và quy định về việc cấp và sử dụng
visa lao động khi người nước ngoài vào Việt Nam làm việc...; sửa đổi, bổ sung
Luật Đấu thầu trong đó quy định về tổ chức triển khai thực hiện các gói thầu hoặc
dự án trúng thầu sau khi đã được phê duyệt, đặc biệt là việc giám sát và kiểm
tra trong quá trình thực hiện; tăng chế tài xử phạt các vi phạm, các cam kết
trong quá trình thực hiện các gói thầu hoặc dự án đã trúng thầu...
- Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến
pháp luật với các hình thức phong phú, phù hợp với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
có sử dụng người lao động nước ngoài để người lao động nước ngoài hiểu được các
quyền lợi và nghĩa vụ của họ theo đúng quy định của pháp luật.
- Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thực
hiện các quy định của pháp luật Việt Nam: về việc tuyển dụng, cấp giấy phép lao
động, gia hạn giấy phép lao động, quản lý xuất, nhập cảnh, cấp và gia hạn visa,
đăng ký tạm trú và cấp giấy phép lao động, đặc biệt là các nhà thầu nước ngoài
trúng thầu đang hoạt động tại địa phương có sử dụng lao động nước ngoài. Khi
thanh tra, kiểm tra phát hiện các trường hợp cố tình vi phạm thì kiên quyết xử
lý theo quy định của pháp luật.
- Bốn là, tăng cường sự phối hợp giữa các ngành Lao
động - Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Công an, Kế hoạch và Đầu tư, Ngoại giao
trong việc quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Xây dựng quy chế phối
hợp giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu
tư, Công an tỉnh và các ban, ngành có liên quan tại địa phương trong việc quản
lý lao động nước ngoài.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin cảm ơn và rất
mong nhận được sự quan tâm, góp ý của Đại biểu./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Trưởng đoàn ĐBQH Tp. Hồ Chí Minh;
- Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội;
- Ban Công tác đại biểu;
- Ban Dân nguyện;
- Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP;
- Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội;
- Lưu: VT, CVL.
|
BỘ TRƯỞNG
Phạm Thị Hải Chuyền
|