NGHỊ QUYẾT
VỀ THÍ ĐIỂM MỘT SỐ CƠ CHẾ,
CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ ĐỂ THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN LỚN, QUAN TRỌNG TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ
QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14
và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 87/2025/QH15;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
1. Nghị quyết này thí điểm một số cơ chế,
chính sách đặc thù về đầu tư, quy hoạch, đô thị, kiến trúc, xây dựng, đất đai,
tài chính để thực hiện dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô.
2. Dự án lớn, quan trọng trên địa bàn
Thủ đô là các dự án:
a) Dự án đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công, dự án PPP theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, dự
án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cần
triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng
ủy Chính phủ, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội;
b) Dự án đầu tư công, dự án PPP đáp ứng
tiêu chí dự án quan trọng quốc gia; dự án đầu tư công, dự án PPP sử dụng vốn
ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương trên địa bàn Thành
phố có quy mô tổng mức đầu tư từ 30.000 tỷ đồng trở lên;
c) Dự án đầu tư thuộc danh mục dự án
thu hút nhà đầu tư chiến lược theo quy định của pháp luật về Thủ đô có quy mô vốn
đầu tư từ 30.000 tỷ đồng trở lên;
d) Dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết
khu vực đô thị tại Nghị quyết này gồm dự án xây dựng lại nhà chung cư thuộc trường
hợp phải phá dỡ theo quy định của pháp luật về nhà ở; dự án cải tạo, chỉnh
trang, tái thiết một ô phố đô thị hoặc nhiều ô phố đô thị;
đ) Dự án đầu tư mới, cải tạo công trình
để xử lý các điểm nghẽn, cấp bách về ùn tắc giao thông, úng ngập, ô nhiễm môi
trường, trật tự đô thị.
Điều 2. Đối tượng
áp dụng
1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị
và các tổ chức chính trị - xã hội.
2. Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
3. Tổ chức, cá nhân trong nước, nước
ngoài khác có liên quan.
Điều 3. Nguyên tắc
áp dụng Nghị quyết
1. Bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả
của công tác đầu tư xây dựng phát triển Thủ đô, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô,
đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Bảo đảm áp dụng cơ chế, chính sách đặc
thù đúng đối tượng, đúng mục đích, công khai, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm;
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ, ngăn chặn mọi
biểu hiện trục lợi trong thực hiện dự án.
Điều 4. Thẩm quyền
quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư
1. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định
chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư công, dự án PPP không sử dụng vốn ngân
sách trung ương quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 1 của
Nghị quyết này.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố
chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ
trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư
quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này,
trừ các dự án sau đây:
a) Dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân;
b) Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước
ngoài trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, trồng rừng,
xuất bản, báo chí;
c) Dự án đầu tư có kinh doanh đặt cược,
ca-si-nô (casino), kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước
ngoài;
d) Dự án tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của
Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ; dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh có mức
độ tuyệt mật.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định
nội dung, hồ sơ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, quyết định
chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh chủ trương đầu tư,
chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư các dự án quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này.
4. Đối với dự án đầu tư theo quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt khác với
quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, Ủy ban
nhân dân Thành phố báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho
phép thực hiện cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định của luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó báo
cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Điều 5. Lựa chọn
nhà đầu tư, nhà thầu; khởi công công trình
1. Việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự
án, nhà thầu thực hiện gói thầu thuộc dự án quy định tại Điều 1
của Nghị quyết này được thực hiện như sau:
a) Đối với dự án đầu tư công quy định tại
điểm a và điểm b khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này được thực
hiện theo hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt;
b) Đối với dự án PPP, dự án đầu tư theo
quy định của Luật Đầu tư quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này được thực hiện
theo hình thức lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt;
c) Đối với dự án thành phần của dự án
PPP, dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư
cần triển khai ngay quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết
này được thực hiện theo hình thức lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc
biệt trước khi cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ
trương đầu tư;
d) Hội đồng nhân dân Thành phố quy định
nội dung, hồ sơ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục thực hiện lựa chọn nhà
đầu tư, nhà thầu quy định tại khoản này.
2. Các dự án quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này được thực hiện các thủ tục về quy hoạch,
khởi công xây dựng công trình đồng thời với thực hiện thủ tục chấp thuận chủ
trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư.
Nhà đầu tư, chủ đầu tư không phải thực
hiện thủ tục về cấp giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng;
chịu trách nhiệm hoàn thiện các điều kiện theo quy định của pháp luật về khởi
công xây dựng công trình dự án thành phần trong dự án tổng thể quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này trong thời hạn 06
tháng kể từ ngày khởi công.
Trường hợp nhà đầu tư, chủ đầu tư không
hoàn thiện điều kiện về khởi công xây dựng công trình trong thời hạn 06 tháng kể
từ ngày khởi công thì bị xử lý theo các điều, khoản của hợp đồng hoặc Ủy ban
nhân dân Thành phố trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định phương án thu hồi,
chấm dứt dự án, hợp đồng dự án. Nhà đầu tư, chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện
trước pháp luật về các hậu quả phát sinh do không thực hiện đúng cam kết của
mình trong hợp đồng.
Điều 6. Chính sách
về quy hoạch, kiến trúc
1. Trên địa bàn Thành phố chỉ lập một Quy
hoạch tổng thể Thủ đô trên cơ sở cụ thể hóa các nội dung quy hoạch quốc gia,
quy hoạch vùng và tích hợp, lồng ghép các nội dung của Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch
chung Thủ đô.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô được phê duyệt
thay thế Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch chung Thủ đô. Quy hoạch tổng thể Thủ đô có
giá trị pháp lý như quy hoạch tỉnh theo quy định của pháp luật về quy hoạch và
quy hoạch chung thành phố theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và
nông thôn.
2. Quy hoạch tổng thể Thủ đô được phê
duyệt là căn cứ để lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch đô thị và nông thôn,
là cơ sở để đánh giá sự phù hợp của dự án theo quy định.
3. Dự án đầu tư công, dự án PPP, dự án
đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ
Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ nhưng chưa có trong
quy hoạch thì được phép triển khai thực hiện và được cập nhật vào Quy hoạch tổng
thể Thủ đô và các quy hoạch khác khi điều chỉnh.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố
phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô sau
khi lấy ý kiến của các Bộ, ngành liên quan và được Hội đồng nhân dân Thành phố
thông qua.
5. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định
nội dung, định mức chi phí, đơn giá, thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục lập,
thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô quy định tại các khoản
1, khoản 3 và khoản 7 Điều này.
6. Căn cứ Quy hoạch tổng thể Thủ đô quy
định tại khoản 1 Điều này được phê duyệt, Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định
danh mục quy hoạch đô thị và nông thôn được tổ chức lập đồng thời quy hoạch
phân khu và quy hoạch chi tiết. Trường hợp quy hoạch chi tiết được lập, thẩm định
xong trước thì được phê duyệt trước và được cập nhật vào quy hoạch phân khu.
7. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố
phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch Thủ đô, Quy hoạch chung Thủ đô khi chưa phê duyệt
Quy hoạch tổng thể Thủ đô và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô theo quy định
sau đây:
a) Việc điều chỉnh quy hoạch được thực
hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn và thực hiện đồng thời với thủ tục lập, thẩm
định chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, lập thẩm định
phê duyệt dự án, quyết định đầu tư dự án.
Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành
quy định để thực hiện điểm này;
b) Nội dung điều chỉnh quy hoạch phải
được cập nhật vào quy hoạch ngành và quy hoạch cấp trên khi thực hiện điều chỉnh.
8. Đối với việc tổ chức thực hiện lập
quy hoạch đô thị và nông thôn, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định:
a) Giao đơn vị tổ chức lập quy hoạch tự
thực hiện việc lập quy hoạch;
b) Giao đơn vị công lập hoặc đơn vị
ngoài công lập tổ chức lập quy hoạch đô thị và nông thôn trước thời điểm lựa chọn
nhà đầu tư, nhà thầu;
c) Phê duyệt quy hoạch chi tiết khu vực
có ý nghĩa quan trọng về chính trị, văn hóa, lịch sử, an ninh, quốc phòng sau
khi lấy ý kiến của Bộ quản lý chuyên ngành liên quan;
d) Phê duyệt quy hoạch chi tiết trong
trường hợp có nội dung khác với quy hoạch phân khu được phê duyệt khi đáp ứng
điều kiện điều chỉnh cục bộ quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về
quy hoạch đô thị và nông thôn.
Nội dung phê duyệt quy hoạch chi tiết
được cập nhật khi điều chỉnh quy hoạch phân khu;
đ) Nguồn vốn và đơn giá, định mức chi
phí thực hiện lập quy hoạch đô thị và nông thôn quy định tại khoản này.
9. Quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết
đô thị và nông thôn trên địa bàn Thành phố không phải thực hiện thủ tục lập, thẩm
định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch.
10. Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định
việc không phải thi tuyển phương án kiến trúc đối với các công trình thuộc phạm
vi dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này.
Điều 7. Thu hồi đất,
giao đất, cho thuê đất
1. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của cấp có
thẩm quyền cho phép triển khai thực hiện đối với dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này, Thành phố sử dụng
ngân sách cấp Thành phố và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện dự án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư độc lập trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định
tiêu chí, hồ sơ, điều kiện, trình tự, thủ tục để thực hiện quy định tại khoản
này.
2. Ngoài các trường hợp thu hồi đất quy
định tại Điều 79 của Luật Đất đai, Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định từng
trường hợp thu hồi đất cụ thể để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại điểm a khoản 2 Điều
1 của Nghị quyết này.
Hội đồng nhân dân Thành phố chịu trách
nhiệm toàn diện về việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế -
xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại điểm a khoản
2 Điều 1 của Nghị quyết này bảo đảm hài hòa lợi ích người dân, Nhà nước,
doanh nghiệp, không gây thất thoát, lãng phí, lợi ích nhóm, không để xảy ra các
vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.
3. Đối với dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này, Thành phố được tạm
giao một phần đất thuộc phạm vi dự án để khởi công xây dựng công trình.
Nhà đầu tư, chủ đầu tư phải thực hiện
các điều kiện khởi công xây dựng công trình và thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết này và chịu trách nhiệm trong
trường hợp không thực hiện đúng quy định này.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định
tiêu chí, mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để triển
khai các dự án trên địa bàn Thành phố:
a) Đối với dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này: bằng 02 lần so với mức
quy định;
b) Đối với dự án không thuộc trường hợp
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này:
không quá 02 lần so với mức quy định.
5. Căn cứ đề xuất dự án tổng thể thực
hiện theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (hợp đồng BT), Ủy ban nhân
dân Thành phố phân chia dự án tổng thể thành các dự án thành phần và xác định
quỹ đất dự kiến thanh toán cho từng dự án thành phần đó, bảo đảm giá trị quỹ đất
dự kiến thanh toán tương đương với giá trị dự toán công trình BT và được thực
hiện cơ chế bù trừ chênh lệch giữa giá trị công trình BT và giá trị quỹ đất
thanh toán tại thời điểm thanh toán.
Ủy
ban nhân dân Thành phố được quyết định thanh toán trước từng phần quỹ đất để thực
hiện dự án đối ứng sau khi ký kết hợp đồng BT đối với từng dự án thành phần. Thời
điểm xác định giá đất đối với diện tích đất thanh toán cho hợp đồng BT theo quy
định của pháp luật về đất đai.
Nhà đầu tư không phải chứng minh khả
năng thu xếp vốn vay nhưng phải thực hiện điều kiện về phát hành bảo lãnh từng
phần tương ứng với giá trị đất đối ứng được thanh toán đó; giá trị bảo lãnh được
giảm trừ tương ứng với phần giá trị hợp đồng BT do nhà đầu tư đã thực hiện.
Cơ quan ký kết hợp đồng chấm dứt hợp đồng
dự án BT, cơ quan có thẩm quyền thu hồi toàn bộ quỹ đất thanh toán cho nhà đầu
tư và thu hồi toàn bộ số tiền bảo lãnh trong trường hợp nhà đầu tư chậm hoàn
thành công trình quá 12 tháng so với cam kết tại hợp đồng BT.
Điều 8. Cơ chế huy
động vốn thực hiện dự án
1. Thành phố được sử dụng kết dư ngân
sách cấp Thành phố để ưu tiên bố trí vốn cho các dự án đầu tư công quy định tại
Nghị quyết này trước khi thực hiện việc trả nợ gốc và chi trả lãi các khoản vay
của ngân sách nhà nước nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến nghĩa vụ trả nợ gốc
và chi trả lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước.
2. Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động cấp tín
dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng đối với dự án quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này do Hội đồng
nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành
phố chấp thuận chủ trương đầu tư.
Đối với từng dự án cụ thể quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này: Trường hợp ngân hàng
thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cấp tín dụng mà nhu cầu vốn của
khách hàng dẫn đến vượt giới hạn quy định thì ngân hàng thương mại, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được cấp tín dụng hợp vốn. Trường hợp khả năng hợp vốn của
ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu vay vốn của khách hàng thì ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, quyết định mức cấp
tín dụng tối đa đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan
trong trường hợp tổng mức dư nợ cấp tín dụng vượt quá tỷ lệ theo quy định của
pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Điều 9. Biện pháp
bảo đảm trật tự đô thị, trật tự, an toàn xã hội
Dự án đầu tư mới, cải tạo công trình để
xử lý điểm nghẽn, cấp bách về ùn tắc giao thông, úng ngập, ô nhiễm môi trường,
trật tự đô thị sử dụng vốn ngân sách cấp Thành phố và các nguồn vốn hợp pháp
khác thì được thực hiện đầu tư, xây dựng theo quy định về đầu tư công khẩn cấp
của pháp luật về đầu tư công, lệnh xây dựng khẩn cấp của pháp luật về xây dựng.
Điều 10. Biện pháp
cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị
Ủy
ban nhân dân Thành phố quyết định các biện pháp cải tạo, chỉnh trang, tái thiết
khu vực đô thị theo quy hoạch sau đây:
1. Phá dỡ khu chung cư, nhà chung cư
thuộc trường hợp phải phá dỡ theo quy định của pháp luật về nhà ở; cải tạo, chỉnh
trang, tái thiết một ô phố đô thị hoặc nhiều ô phố đô thị;
2. Giao chủ đầu tư thực hiện lập quy hoạch
chi tiết dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị trình cấp thẩm
quyền phê duyệt.
Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch
được quyết định các chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc, dân số tại dự án trong khu vực
nội đô lịch sử vượt quá quy định tại quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đô thị
trên cơ sở cân đối tổng thể dân cư theo quy hoạch nhưng phải bảo đảm chỉ tiêu về
hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, kết nối hạ tầng của khu vực;
3. Trên cơ sở quyết định của Hội đồng
nhân dân Thành phố về danh mục các dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực
đô thị, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định kế hoạch cải tạo, xây dựng lại khu
chung cư sau khi đã thực hiện kiểm định, đánh giá đại diện nhà chung cư và xác
định thuộc diện phá dỡ thì không phải kiểm định, đánh giá toàn bộ khu chung cư.
Hội đồng nhân dân Thành phố chịu trách
nhiệm toàn diện về việc quyết định danh mục các dự án cải tạo, chỉnh trang, tái
thiết khu vực đô thị trên địa bàn Thủ đô, bảo đảm hài hòa lợi ích người dân,
Nhà nước, doanh nghiệp, không gây thất thoát, lãng phí, lợi ích nhóm, không để
xảy ra các vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, mất an ninh trật tự, an
toàn xã hội;
4. Quyết định biện pháp cưỡng chế trong
trường hợp chủ đầu tư đã được trên 75% các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất
tương đương với ít nhất là 75% diện tích khu vực cải tạo, chỉnh trang, tái thiết
khu vực đô thị quy định tại điểm d khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết
này đồng thuận phương án quy hoạch, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Điều 11. Tổ chức
thực hiện
1. Chính phủ có trách nhiệm sau đây:
a) Chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy
ban nhân dân Thành phố đề cao trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng
đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai, thanh tra, kiểm tra việc thực
hiện các quy định tại Nghị quyết này, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả;
không để trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí;
b) Chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp
với chính quyền địa phương ở Thành phố cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời
gian xử lý các vấn đề chưa phân cấp, phân quyền cho Thành phố;
c) Để bảo đảm lợi ích quốc gia và ngăn chặn
các yếu tố có thể đe dọa an ninh quốc gia, Chính phủ thực hiện các biện pháp khẩn
cấp để dừng hoặc tạm dừng thực hiện các cơ chế, chính sách được quy định tại Nghị
quyết này và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; trong thời gian giữa hai kỳ
họp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần
nhất;
d) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết này; sơ kết 03 năm việc thực
hiện Nghị quyết, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2028; tổng kết việc thực
hiện Nghị quyết, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2030.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Thông qua Danh mục dự án quy định tại
điểm b và điểm c khoản 2 Điều 1, khoản 3 Điều 10 của Nghị quyết
này;
b) Ban hành văn bản theo thẩm quyền, tổ
chức triển khai thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này;
c) Giám sát Ủy ban nhân dân Thành phố
và các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết
này.
3. Ủy ban nhân dân Thành phố trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức lập Danh mục dự án quy định
tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này
trình Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua;
b) Ban hành các văn bản được giao theo
thẩm quyền, tổ chức triển khai thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này;
c) Sơ kết, tổng kết việc thực hiện thí
điểm cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Nghị quyết này, báo cáo Chính phủ
theo quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được
lựa chọn, nhà thầu, nhà đầu tư và các cổ đông, thành viên công ty sở hữu hoặc
kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của nhà thầu,
nhà đầu tư được lựa chọn theo quy định tại Nghị quyết này phải nộp cho Ủy ban
nhân dân Thành phố văn bản cam kết từ bỏ quyền khởi kiện, quyền khiếu nại Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc bất kỳ cơ quan nhà nước nào của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo bất kỳ điều ước quốc tế hoặc hợp đồng nào
ra trọng tài trong nước, trọng tài nước ngoài, trọng tài quốc tế, tòa án nước
ngoài, tòa án quốc tế. Trong trường hợp nhà thầu, nhà đầu tư không nộp văn bản
cam kết từ bỏ quyền khởi kiện, quyền khiếu nại nêu trên trong thời hạn quy định,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác để
thực hiện dự án.
5. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn đại
biểu Quốc hội Thành phố và đại biểu Quốc hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Điều 12. Điều khoản
thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành
từ ngày 12 tháng 12 năm 2025 và được thực hiện trong 05 năm.
2. Trường hợp có quy định khác nhau giữa
Nghị quyết này và Luật Thủ đô, luật, nghị quyết
khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Nghị quyết này.
3. Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc
hội ban hành sau ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế,
chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn quy định của Nghị quyết này thì việc áp dụng
do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định.
4. Các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị
quyết này được xem xét, kế thừa khi sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô.
5. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, người
tham gia xây dựng Nghị quyết này và tham gia triển khai thực hiện Nghị quyết
này được xem xét loại trừ, miễn trách nhiệm trong trường hợp đã tuân thủ đầy đủ
các quy trình, quy định liên quan và không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
Các tổ chức, cá nhân có thành tích
trong thực hiện Nghị quyết này được khen thưởng theo quy định của pháp luật. Xử
lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức
trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày
11 tháng 12 năm 2025./.
|
|
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|