|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN
TỈNH GIA LAI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 66/2026/NQ-HĐND
|
Gia Lai, ngày 29 tháng 5 năm 2026
|
NGHỊ
QUYẾT
BAN HÀNH QUY CHẾ BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Căn
cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn
cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ
sung bởi Luật số 87/2025/QH15;
Căn
cứ Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15;
Căn
cứ Nghị định số 63/2026/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước;
Xét
Tờ trình số 100/TTr-BPC ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Ban Pháp chế Hội đồng nhân
dân tỉnh về việc đề nghị ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng
nhân dân tỉnh Gia Lai; Báo cáo thẩm tra số 43/BC-VHXH ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Ban Văn hoá - Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh; ý
kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp;
Hội
đồng nhân dân ban hành Nghị quyết về Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai.
Điều 1. Ban hành kèm
theo Nghị quyết này Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh
Gia Lai.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
Thường
trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tổ đại biểu
Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu
Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan
có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Nghị
quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 08 tháng 6 năm 2026.
2. Nghị
quyết số 51/2022/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh
Gia Lai (trước sắp xếp) về ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng
nhân dân tỉnh Gia Lai hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi
hành.
3. Trường
hợp các văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn tại Quy chế này được sửa đổi,
bổ sung, thay thế thì thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế.
Nghị
quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khoá XIII, Kỳ họp thứ 3
(chuyên đề) thông qua ngày 29 tháng 5 năm 2026./.
QUY CHẾ
BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Quy
chế này quy định về các hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước chủ yếu và trách nhiệm
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác bảo vệ bí mật nhà
nước của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm c
khoản 3 Điều 24 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15.
2. Những
nội dung không quy định trong Quy chế này thực hiện theo các quy định của pháp
luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Quy chế
này áp dụng đối với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của
Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng
Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai và các cơ quan, tổ chức,
cá nhân liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai.
Điều 3. Nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng
nhân dân tỉnh
1. Bảo
vệ bí mật nhà nước phải tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phục
vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an
ninh quốc phòng, hội nhập quốc tế của đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Bảo
vệ bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh là trách nhiệm của đại biểu Hội đồng
nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại
biểu Hội đồng nhân dân và mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động
của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai.
3. Việc
quản lý, sử dụng bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh phải bảo đảm đúng mục
đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và quy định của
Quy chế này.
4. Chủ
động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh.
5. Bí
mật nhà nước được bảo vệ theo thời hạn quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước,
bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật.
Chương II
HOẠT
ĐỘNG BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
Điều 4. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước
1. Việc
xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước phải căn cứ vào quy định
của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, danh mục bí mật nhà nước thuộc các lĩnh vực do
Thủ tướng Chính phủ ban hành và các văn bản pháp luật có liên quan.
2. Chủ
tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm
xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước và phạm vi lưu hành của bí
mật nhà nước. Trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác thì
phải xác định độ mật tương ứng theo danh mục bí mật nhà nước thuộc ngành, lĩnh
vực được Thủ tướng Chính phủ quyết định. Trường hợp thông tin trong cùng một
tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước thuộc danh mục bí mật nhà nước có độ mật
khác nhau thì xác định theo độ mật cao nhất.
3. Người
soạn thảo, tạo ra thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước phải đề xuất, xin ý
kiến Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc Trưởng
ban của Hội đồng nhân dân tỉnh trước khi báo cáo Chủ tịch Hội đồng nhân dân,
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà
nước và thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước quy định tại khoản 2 Điều
19 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, căn cứ để đề xuất độ mật, phạm vi lưu hành,
số lượng tài liệu tại tờ trình, phiếu trình, văn bản báo cáo hoặc văn bản xác định
độ mật của vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc hình thức khác chứa bí mật
nhà nước và có trách nhiệm bảo vệ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước
trong quá trình soạn thảo, tạo ra.
4. Thẩm
quyền ký văn bản bí mật nhà nước, văn bản điện tử bí mật nhà nước được thực hiện
theo phân công nhiệm vụ của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, lãnh đạo các
Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và lãnh đạo
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh.
5. Tài
liệu bí mật nhà nước chỉ ban hành, phát hành đúng số lượng; người soạn thảo, tạo
ra, phát hành tài liệu bí mật nhà nước có trách nhiệm hủy bỏ ngay bản dư thừa,
bản hỏng bảo đảm không thể khôi phục.
Điều 5. Sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
1. Chủ
tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền
cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”,
“Mật”.
2. Người
có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ “Tối mật”,
“Mật” bao gồm:
a) Trưởng
các Ban, Phó Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh.
b)
Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân
dân tỉnh.
3. Người
có thẩm quyền cho phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ “Mật”,
bao gồm: Trưởng các phòng thuộc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân tỉnh.
4. Người
có thẩm quyền quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được cho phép sao, chụp
tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đối với đối tượng thuộc phạm vi quản lý.
5. Người
được giao thực hiện việc sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải là
cán bộ, công chức, người lao động trong cơ quan có liên quan trực tiếp đến bí mật
nhà nước hoặc người làm công tác liên quan đến bí mật nhà nước.
Điều 6. Vận chuyển, giao nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà
nước của Hội đồng nhân dân tỉnh
1. Việc
vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ở trong nước do người
làm công tác liên quan đến bí mật nhà nước, người làm công tác văn thư của cơ
quan thực hiện. Việc vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
với cơ quan, tổ chức của Việt Nam ở nước ngoài do người được giao nhiệm vụ thực
hiện.
2. Việc
vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải thực hiện theo
nguyên tắc giữ kín, niêm phong. Trong quá trình vận chuyển tài liệu, vật chứa
bí mật nhà nước phải có biện pháp bảo quản, bảo đảm an toàn, trường hợp cần thiết
phải có lực lượng bảo vệ. Vận chuyển tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước qua dịch
vụ bưu chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về bưu chính. Nơi gửi
và nơi nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải kiểm tra, đối chiếu để kịp
thời phát hiện sai sót và có biện pháp xử lý; việc giao, nhận phải được ghi đầy
đủ vào sổ theo dõi, người nhận phải ký nhận.
3. Khi
nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến phải đăng ký vào “Sổ đăng ký bí mật
nhà nước đến” hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước. Tài
liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến độ “Tuyệt mật” không được ghi trích yếu và
chỉ được mở bì khi người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu của Hội đồng
nhân dân tỉnh, các cơ quan thuộc Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp nhận bí mật nhà nước
cho phép. Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến mà phong bì có dấu
“Chỉ người có tên mới được bóc bì”, người nhận vào sổ theo ký hiệu ngoài bì,
không được mở bì và phải chuyển đến người có tên trên phong bì. Nếu người có
tên trên phong bì đi vắng và trên phong bì có thêm dấu “Hỏa tốc” thì chuyển đến
Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh giải quyết. Trường
hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được gửi đến mà không thực hiện đúng quy
định về bảo vệ bí mật nhà nước thì chuyển đến Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh giải quyết (trường hợp gửi đích danh thì chuyển
người có tên trên phong bì giải quyết); đồng thời, Văn thư thông báo nơi gửi biết
để có biện pháp khắc phục. Trường hợp phát hiện tài liệu, vật chứa bí mật nhà
nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng thì Văn thư
phải lập biên bản ghi nhận sự việc, báo cáo Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân tỉnh để báo cáo Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch
Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng thời thông báo cho bên gửi về việc tài liệu, vật
chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng
để phối hợp giải quyết.
Điều 7. Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi
lưu giữ
1. Việc
mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ để phục vụ công tác
ở trong nước phải liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ được giao.
2. Việc
mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ để phục vụ công tác
ở nước ngoài phải được Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân tỉnh cho phép và phải báo cáo Trưởng đoàn công tác.
3.
Trong quá trình mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phải
có biện pháp bảo quản, bảo đảm an toàn.
4.
Trong thời gian mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ, nếu
phát hiện bí mật nhà nước bị lộ, bị mất, người mang tài liệu, vật chứa bí mật
nhà nước phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản
lý, Trưởng đoàn công tác để có biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả.
Điều 8. Cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước của Hội đồng
nhân dân tỉnh cho cơ quan, tổ chức, người Việt Nam được giao thực hiện nhiệm vụ
liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước
1. Chủ
tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền quyết
định việc cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý độ “Tuyệt
mật”, “Tối mật”, “Mật”.
2. Người
có thẩm quyền quyết định việc cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước thuộc phạm
vi quản lý độ “Tối mật”, “Mật” bao gồm:
a) Trưởng
các Ban, Phó Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh.
b)
Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân
dân tỉnh.
3. Người
có thẩm quyền quyết định việc cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước thuộc phạm
vi quản lý độ “Mật” bao gồm: Trưởng các phòng thuộc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân tỉnh.
4. Việc
cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh cho cơ quan, tổ
chức, người Việt Nam được giao thực hiện nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến bí mật
nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật Bảo vệ bí
mật nhà nước.
Điều 9. Cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân nước ngoài
1. Chủ
tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định việc
cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài độ “Tối mật”, “Mật”.
2. Bí
mật nhà nước chỉ được cung cấp, chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài tham gia vào chương trình hợp tác quốc tế hoặc thi hành công vụ có liên
quan đến bí mật nhà nước.
Điều 10. Tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí
mật nhà nước
1. Việc
tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước của Hội đồng
nhân dân tỉnh, các cơ quan của Hội đồng nhân dân tỉnh phải đảm bảo các yêu cầu
sau:
a) Được
sự đồng ý của người có thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2,
khoản 3 Điều 8 của Quy chế này;
b)
Thành phần tham dự là đại diện cơ quan, tổ chức hoặc người được giao thực hiện
nhiệm vụ liên quan đến bí mật nhà nước;
c) Địa
điểm tổ chức bảo đảm an toàn, không để bị lộ, bị mất bí mật nhà nước;
d) Sử
dụng các phương tiện, thiết bị đáp ứng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước;
đ) Có
phương án bảo vệ hội nghị, hội thảo, cuộc họp.
2. Chủ
tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định tổ chức
hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước có trách nhiệm bảo đảm
các yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này và quyết định việc thu hồi tài liệu,
vật chứa bí mật nhà nước sau hội nghị, hội thảo, cuộc họp.
3. Người
tham dự hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước có trách nhiệm
bảo vệ, sử dụng bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật và yêu cầu của người
chủ trì hội nghị, hội thảo, cuộc họp; người chủ trì hội nghị, hội thảo, cuộc họp
có nội dung bí mật nhà nước chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hội đồng nhân dân,
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh về việc bảo vệ bí mật nhà nước tại hội nghị,
hội thảo, cuộc họp đó.
Điều 11. Tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
1. Tài
liệu, vật chứa bí mật nhà nước được tiêu hủy trong các trường hợp sau đây:
a) Khi
không cần thiết phải lưu giữ và việc tiêu hủy không gây nguy hại đến lợi ích quốc
gia, dân tộc;
b) Nếu
không tiêu hủy ngay sẽ gây nguy hại cho lợi ích quốc gia, dân tộc.
2. Việc
tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a)
Không để bị lộ, bị mất bí mật nhà nước;
b) Quá
trình tiêu hủy phải tác động vào tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước làm thay đổi
hình dạng, tính năng, tác dụng, nội dung;
c) Tài
liệu, vật chứa bí mật nhà nước sau khi tiêu hủy không thể khôi phục hình dạng,
tính năng, tác dụng, nội dung.
3. Chủ
tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh có thẩm quyền quyết
định tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
Chương III
TRÁCH
NHIỆM BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC
Điều 12. Trách nhiệm của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh
1. Chỉ
đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật
nhà nước và Quy chế này trong các hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh.
2. Chỉ
đạo, xử lý theo thẩm quyền và kịp thời thông báo với cơ quan có thẩm quyền khi
xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý.
3. Chỉ
đạo thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi người được phân công quản lý
bí mật nhà nước thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu, từ trần hoặc vì lý do
khác mà không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước.
Điều 13. Trách nhiệm của các Ban Hội đồng nhân dân
Các
Ban của Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm:
1. Thực
hiện bảo vệ bí mật nhà nước trong quá trình tiếp nhận, quản lý, sử dụng, lưu giữ,
cung cấp thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước.
2. Phối
hợp với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh trong việc
quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách.
Điều 14. Trách nhiệm của Tổ đại biểu, đại biểu Hội đồng nhân
dân tỉnh
Tổ đại
biểu, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm thực hiện bảo vệ bí mật
nhà nước trong hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh theo quy định của Luật Bảo
vệ bí mật nhà nước, các văn bản pháp luật liên quan và Quy chế này.
Điều 15. Trách nhiệm của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và
Hội đồng nhân dân tỉnh
1. Văn
phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh tham mưu cho Hội đồng
nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong các hoạt
động của Hội đồng nhân dân tỉnh.
2.
Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định
phân công công chức thuộc Phòng Hành chính - Tổ chức - Quản trị có đủ tiêu chuẩn
theo quy định để thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước của Hội đồng
nhân dân tỉnh.
3. Hằng
năm, căn cứ vào yêu cầu công tác bảo vệ bí mật nhà nước, Văn phòng Đoàn đại biểu
Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh lập dự toán kinh phí bảo đảm cho công tác bảo
vệ bí mật nhà nước của Hội đồng nhân dân tỉnh trình cơ quan có thẩm quyền quyết
định.
Điều 16. Trách nhiệm của người tiếp cận, người trực tiếp quản
lý bí mật nhà nước
1. Người
tiếp cận bí mật nhà nước có trách nhiệm sau đây:
a)
Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và Quy chế này;
b) Thực
hiện các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật bảo vệ bí
mật nhà nước;
c) Sử
dụng bí mật nhà nước đúng mục đích;
d) Thực
hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước.
2. Người
trực tiếp quản lý bí mật nhà nước có trách nhiệm sau đây:
a) Thực
hiện trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Đề
xuất người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp để bảo vệ bí mật nhà
nước do mình trực tiếp quản lý;
c) Trường
hợp phát hiện vi phạm trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước thì phải có biện pháp
xử lý và báo cáo người có trách nhiệm giải quyết, thông báo cho cơ quan, tổ chức
xác định bí mật nhà nước biết để có biện pháp khắc phục;
d) Trước
khi thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc vì lý do khác mà không được phân
công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước thì phải bàn giao bí mật nhà nước cho cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền và cam kết bảo vệ bí mật nhà nước đã quản lý.
Chương IV
TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
Điều 17.
Trách nhiệm thực hiện Quy chế
1. Thường
trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Tổ đại biểu Hội
đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên
quan đến bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Hội đồng nhân dân tỉnh chịu
trách nhiệm thực hiện Quy chế này.
2.Văn
phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh giúp Thường trực Hội đồng
nhân dân tỉnh đánh giá về tình hình, kết quả thực hiện Quy chế này.
Điều 18. Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế
Trong
quá trình thực hiện, nếu có nội dung cần thay đổi cho phù hợp với quy định của
pháp luật hiện hành và tình hình thực tế của địa phương, Thường trực Hội đồng
nhân dân tỉnh xem xét, quyết định việc trình Hội đồng nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ
sung Quy chế./.