|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC phối hợp xét xử vắng mặt bị can
|
Số hiệu:
|
05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC
|
|
Loại văn bản:
|
Thông tư liên tịch
|
|
Nơi ban hành:
|
Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
|
|
Người ký:
|
Nguyễn Văn Long, Nguyễn Trí Tuệ, Hồ Đức Anh, Võ Minh Lương
|
|
Ngày ban hành:
|
01/07/2025
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đã biết
|
|
Số công báo:
|
Đã biết
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
Quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong xét xử vắng mặt bị cáo
Ngày 01/7/2025, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.Quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong xét xử vắng mặt bị cáo
Theo đó, việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong xét xử vắng mặt bị cáo được quy định tại Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC với nội dung như sau:
- Trường hợp đã có quyết định truy tố vắng mặt bị can, Tòa án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nếu có đủ căn cứ, điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC thì hết thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án căn cứ quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo.
Trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc giai đoạn xét xử, bị can bị cáo trở về, đầu thú hoặc bắt được bị can bị cáo thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Trường hợp Viện kiểm sát quyết định việc truy tố theo thủ tục chung, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không biết rõ bị can bị cáo đang ở đâu thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can bị cáo.
Sau khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà việc truy nã không có kết quả thì Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị can bị cáo nếu có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 4 Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC .
- Trường hợp Viện kiểm sát quyết định việc truy tố theo thủ tục chung, sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử mà bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định truy nã mà việc truy nã không có kết quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định phục hồi vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo nếu đủ căn cứ, điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 4 Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC .
Trường hợp không đủ căn cứ, điều kiện để xét xử vắng mặt thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Trường hợp đã có cáo trạng truy tố vắng mặt bị can, nhưng Tòa án xét thấy không có đủ căn cứ, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC và có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tòa án quyết định tạm đình chỉ vụ án.
Sau khi điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án và có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC thì Tòa án xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo.
- Trình tự, thủ tục tại phiên tòa khi xét xử vắng mặt bị cáo được thực hiện theo quy định tại Chương XXI và Chương XXII Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các thủ tục sau đây:
+ Hội đồng xét xử công bố lý do xét xử vắng mặt bị cáo, lý lịch; phổ biến quyền và nghĩa vụ của bị cáo vắng mặt; kêu gọi bị cáo đầu thú, có mặt tại phiên tòa để thực hiện quyền tự bào chữa và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ, khoan hồng theo quy định của pháp luật;
+ Người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của bị cáo vắng mặt phát biểu ý kiến, đưa ra tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo; đọc bản tự bào chữa của bị cáo, nếu có.
Xem thêm Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025.
|
BỘ
CÔNG AN - BỘ QUỐC PHÒNG - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO - TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC
|
Hà Nội, ngày 01
tháng 7 năm 2025
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
QUY
ĐỊNH VỀ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG ĐIỀU TRA, TRUY TỐ,
XÉT XỬ VẮNG MẶT BỊ CAN, BỊ CÁO
Căn cứ Bộ luật Tố
tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15;
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
liên tịch ban hành quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện trình tự, thủ tục điều tra, truy
tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 233, khoản 2 và khoản 3 Điều 243, điểm a và
điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với:
1. Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan
điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (sau đây viết tắt là Cơ quan điều tra);
2. Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các
cấp (sau đây viết tắt là Viện kiểm sát);
3. Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp (sau đây
viết tắt là Tòa án);
4. Người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này;
5. Bị can, bị cáo;
6. Người bào chữa, người đại diện, người thân thích
của bị can, bị cáo vắng mặt;
7. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện
1. Tuân thủ Hiến pháp,
pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với điều ước
quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tôn trọng, bảo
đảm quyền con người, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị
cáo.
2. Bảo đảm thận trọng, khách quan, chặt chẽ, không
để xảy ra vi phạm, lạm dụng; chỉ kết luận điều tra, quyết định truy tố, xét xử
vắng mặt bị can, bị cáo khi thuộc các trường hợp và đủ điều kiện theo quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư
liên tịch này.
3. Bảo đảm tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.
Chương II
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VÀ VIỆC
PHỐI HỢP TRONG ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ VẮNG MẶT BỊ CAN, BỊ CÁO
Điều 4. Trường hợp, điều kiện
ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng và xét xử vắng mặt
bị can, bị cáo
1. Cơ quan điều tra áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 233, Viện kiểm sát áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 243, Tòa án áp dụng quy định tại điểm
a và điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để điều tra, truy
tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
a) Bị can, bị cáo trốn hoặc
không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả.
Bị can, bị cáo trốn là trường hợp bị can, bị cáo cố
ý trốn tránh, vắng mặt, cơ quan tiến hành tố tụng không giao được giấy triệu tập
cho bị can, bị cáo hoặc đã giao giấy triệu tập nhưng bị can, bị cáo không chấp
hành, trình diện theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng, trở ngại
khách quan hoặc che giấu tung tích, nơi cư trú, nơi làm việc, nơi học tập nhằm
không chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng.
Không biết bị can, bị cáo ở đâu là trường hợp cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành các hoạt động xác
minh theo quy định pháp luật nhưng không xác định được bị can, bị cáo ở đâu.
Việc truy nã không có kết quả là trường hợp Cơ quan
điều tra đã ra quyết định truy nã bị can, bị cáo, áp dụng các biện pháp xác
minh, truy bắt bị can, bị cáo nhưng đến khi hết thời hạn điều tra, hết thời hạn
truy tố, hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc hết thời hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư liên tịch này mà bị can, bị cáo
không đầu thú hoặc không bắt được bị can, bị cáo.
b) Bị can, bị cáo đang ở nước
ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu
tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là trường hợp có căn cứ xác
định bị can, bị cáo đã xuất cảnh nhưng chưa có thông tin nhập cảnh và không xác
định được nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước
ngoài, không triệu tập, dẫn độ được bị can, bị cáo để phục vụ hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử hoặc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định
nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, đã triệu
tập, đã yêu cầu dẫn độ nhưng không thể đưa được bị can, bị cáo trở về Việt Nam
để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể
ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, xét xử vắng mặt
bị can, bị cáo trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này khi có đủ các
điều kiện sau:
a) Đã thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các
vấn đề phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 85 của
Bộ luật Tố tụng hình sự và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện tội
phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
b) Bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt
theo quy định tại các điều 16, 291, 351 và Chương
V của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải
quyết vụ án phải thông báo về quyền nhờ người bào chữa cho người đại diện hoặc
người thân thích của bị can, bị cáo để họ nhờ người bào chữa. Trường hợp người
đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì
cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo vắng
mặt theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 5. Kết luận điều tra đề
nghị truy tố vắng mặt bị can
1. Cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều
tra, xác minh để xác định trường hợp và điều kiện ban hành bản kết luận điều
tra đề nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 233 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều
4 của Thông tư liên tịch này. Các tài liệu xác định bị can vắng mặt được
đưa vào hồ sơ vụ án và chuyển cho Viện kiểm sát để kiểm sát theo quy định.
2. Chậm nhất 20 ngày trước khi kết thúc điều tra vụ
án có bị can vắng mặt, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải phối hợp, tổ chức
họp thống nhất đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ
án, nếu thấy có đủ căn cứ, điều kiện để kết thúc điều tra, kết luận điều tra đề
nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can theo quy định tại khoản
2 Điều 233 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông
tư liên tịch này thì Cơ quan điều tra ban hành bản kết luận điều tra đề nghị
truy tố.
Việc thống nhất đánh giá chứng cứ, tài liệu và các
thủ tục tố tụng của vụ án phải được lập biên bản, đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Trường hợp không biết bị can
đang ở đâu và việc truy nã không có kết quả theo điểm a khoản
1 Điều 4 của Thông tư liên tịch này mà hết thời hạn
điều tra, nhưng không đủ điều kiện ra kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt
bị can quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch
này, Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm
đình chỉ điều tra vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can theo quy định
tại Điều 229 của Bộ luật Tố tụng hình sự; việc giải quyết vụ án thực hiện theo thủ tục
chung.
4. Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố trong trường
hợp vắng mặt bị can phải có các nội dung quy định tại Điều 233
của Bộ luật Tố tụng hình sự; lý do và căn cứ để kết luận điều tra đề nghị
truy tố vắng mặt bị can.
Điều 6. Truy tố vắng mặt bị can
1. Trường hợp Cơ quan điều tra kết luận điều tra đề
nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can thì Viện kiểm sát phải tiến hành
các hoạt động để xác định trường hợp và điều kiện ban hành bản cáo trạng truy tố
trong trường hợp vắng mặt bị can theo quy định tại khoản 2 Điều
243 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên
tịch này. Các tài liệu xác định bị can vắng mặt được đưa vào hồ sơ vụ án.
2. Trường hợp Cơ quan điều tra kết thúc điều tra
theo thủ tục chung nhưng trong giai đoạn truy tố thì bị can trốn hoặc không biết
bị can ở đâu, Viện kiểm sát đề nghị Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị
can. Nếu hết thời hạn truy tố mà việc truy nã không có kết quả thì Viện kiểm
sát xem xét, quyết định truy tố vắng mặt bị can nếu có đủ căn cứ, điều kiện quy
định tại khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này.
3. Trường hợp Cơ quan điều tra kết luận điều tra đề
nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can nhưng đến giai đoạn truy tố, bị
can trở về, đầu thú hoặc bắt được bị can hoặc trường hợp Viện kiểm sát xác định
không đủ căn cứ, điều kiện để quyết định truy tố vắng mặt bị can theo quy định
tại khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì Viện kiểm sát giải quyết
vụ án theo thủ tục chung.
4. Bản cáo trạng truy tố trong trường hợp vắng mặt
bị can phải có các nội dung quy định tại Điều 243 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; lý do và căn cứ để truy tố vắng mặt bị can.
Điều 7. Xét xử vắng mặt bị cáo
1. Trường hợp đã có quyết định truy tố vắng mặt bị
can, Tòa án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nếu có đủ căn cứ,
điều kiện quy định tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì
hết thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án căn cứ quy định tại điểm a
hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xem xét, quyết
định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo.
Trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc
giai đoạn xét xử, bị can, bị cáo trở về, đầu thú hoặc bắt được bị can, bị cáo
thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
2. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định việc truy tố
theo thủ tục chung, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không biết rõ bị can,
bị cáo đang ở đâu thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Cơ quan điều tra ra
quyết định truy nã bị can, bị cáo. Sau khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà việc
truy nã không có kết quả thì Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải
thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị
can, bị cáo nếu có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của
Thông tư liên tịch này.
3. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định việc truy tố
theo thủ tục chung, sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử mà bị cáo trốn
thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị
cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình
sự. Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định truy nã mà việc truy nã
không có kết quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã phải thông báo cho
Tòa án biết để xem xét, quyết định phục hồi vụ án và quyết định đưa vụ án ra
xét xử vắng mặt bị cáo nếu đủ căn cứ, điều kiện quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của
Thông tư liên tịch này. Trường hợp không đủ căn cứ, điều kiện để xét xử vắng
mặt thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Trường hợp đã có cáo trạng truy tố vắng mặt bị
can, nhưng Tòa án xét thấy không có đủ căn cứ, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch này và có căn cứ quy định
tại khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Tòa án
quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tòa án
quyết định tạm đình chỉ vụ án. Sau khi điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án
và có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của
Thông tư liên tịch này thì Tòa án xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng
mặt bị cáo.
5. Trình tự, thủ tục tại phiên tòa khi xét xử vắng
mặt bị cáo được thực hiện theo quy định tại Chương XXI và Chương XXII của Bộ luật Tố tụng hình sự và các thủ tục sau
đây:
a) Hội đồng xét xử công bố lý do xét xử vắng mặt bị
cáo, lý lịch; phổ biến quyền và nghĩa vụ của bị cáo vắng mặt; kêu gọi bị cáo đầu
thú, có mặt tại phiên tòa để thực hiện quyền tự bào chữa và được hưởng các tình
tiết giảm nhẹ, khoan hồng theo quy định của pháp luật;
b) Người bào chữa, người đại diện hoặc người thân
thích của bị cáo vắng mặt phát biểu ý kiến, đưa ra tài liệu, chứng cứ để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo; đọc bản tự bào chữa của bị cáo, nếu có.
Điều 8. Việc cấp, giao, chuyển,
gửi, niêm yết, thông báo các lệnh, quyết định, văn bản tố tụng đối với bị can,
bị cáo vắng mặt
1. Việc giao, gửi, thông báo kết luận điều tra đề
nghị truy tố, cáo trạng, bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo quy
định tại các điều 137, 138, 141, 142, khoản
4 Điều 232, khoản 2 Điều 240 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2. Trường hợp không thể giao kết
luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, bản án, quyết định của Tòa án cho
bị can, bị cáo, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện việc niêm
yết công khai các văn bản tố tụng này theo quy định tại Điều
140, khoản 3 Điều 233, khoản 3 Điều 243 và khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo hoặc khi
xét thấy cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể xem xét, quyết
định việc niêm yết phần nội dung trong bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản
án, quyết định của Tòa án liên quan đến bị can, bị cáo vắng mặt.
3. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo
các văn bản tố tụng khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Chương III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 9. Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 10. Tổ chức thực hiện
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch
này.
Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu
có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết./.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Võ Minh Lương
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Nguyễn Văn Long
|
|
KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN THƯỜNG TRỰC
Nguyễn Trí Tuệ
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Hồ Đức Anh
|
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ;
- Văn phòng Quốc hội;
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Các Bộ: Công an, Quốc phòng, Tư pháp;
- Lưu: VT (BCA, BQP, VKSNDTC, TANDTC), C03(P4), 100 bản.
|
|
Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành
|
MINISTRY OF PUBLIC SECURITY – MINISTRY OF NATIONAL
DENFENSE - SUPREME PEOPLE’S COURT - SUPREME PEOPLE’S PROCURACY OF VIETNAM
-------
|
SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
----------------
|
|
No. 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC
|
Hanoi, July 01, 2025
|
JOINT CIRCULAR COOPERATION AMONG PRESIDING AUTHORITIES IN INVESTIGATION,
PROSECUTION AND TRIAL IN ABSENTIA Pursuant to the
Criminal Procedure Code No. 101/2015/QH13 amended by the Law No. 02/2021/QH15,
the Law No. 34/2024/QH15, the Law No. 59/2024/QH15 and the Law No.
99/2025/QH15; Pursuant to the Law on
Promulgation of Legislative Documents No. 64/2025/QH15; The Minister of Public
Security, Minister of National Defense, Chief Justice of the Supreme People's
Court and Prosecutor General of the Supreme People's Procuracy jointly
promulgate regulations on cooperation among presiding authorities in
investigation, prosecution and trial in absentia. Chapter
I GENERAL
PROVISIONS Article
1. Scope ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. Article
2. Regulated entities This Joint Circular
applies to: 1. Investigation
authorities of the People's Police Force, People’s Army and Supreme People’s Procuracy
(hereinafter referred to as “investigation authorities”); 2. People's Procuracies
and Military Procuracies at all levels (hereinafter referred to as
“Procuracies”); 3. People's Courts and
Military Courts at all levels (hereinafter referred to as “Courts”); 4. Presiding
officers of the authorities specified in clauses 1, 2 and 3 of this
Article; 5. Suspects and
defendants; 6. Defense counsels,
representatives and kindred of suspects and defendants who are absent; 7. Other authorities,
organizations and individuals related to investigation, prosecution and trial
in absentia. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 1. Comply with the
Constitution and laws of the Socialist Republic of Vietnam and international
treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a signatory; respect and
protect human rights, defense right, and legitimate rights and interests of
suspects and defendants. 2. Be prudent, objective
and strict, and prevent violations and abuses; only conclude investigations and
decide prosecution and trial in absentia when suspects and defendants fall into
cases and meet the conditions prescribed by the Criminal Procedure Code and
this Joint Circular. 3. Properly perform
functions, duties and powers of each authority as per law. Chapter
II PROCEDURES
FOR AND COOPERATION IN INVESTIGATION, PROSECUTION AND TRIAL IN ABSENTIA Article
4. Cases and conditions for promulgation of conclusion of investigation for
prosecution and charges and trial in absentia 1. Investigation
authorities shall, according to clause 2, Article 233, Procuracies shall,
according to clause 2, Article 243, and Courts shall, according to point a and
point b, clause 2, Article 290 of the Criminal Procedure Code, investigate,
prosecute and try suspects and defendants when they are absent in the following
cases: a) The suspect or
defendant has absconded or is unaccounted for or remains at large. It is considered that the
suspect or defendant has absconded if he/she intentionally absconds or is
absent and the presiding authority fails to deliver the summons to him/her, or
the presiding authority has delivered the summons but he/she fails to obey the
summons or turn himself/herself due to any but not force majeure or objective
obstacles, or he/she conceals his/her whereabouts, place of residence, place of
work, or place of study in order to fail to comply with the decision or request
issued by the presiding authority/officer. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. It is considered that the
suspect or defendant remains at large if the investigation authority has issued
a wanted notice, applied verification measures, and sought the suspect or
defendant, but by the end of the investigation/ prosecution/trial preparation
period, or the time limit prescribed in clause 3, Article 7 of this Joint
Circular, the suspect or defendant has not surrendered or has not been
arrested. b) The suspect or
defendant is residing in a foreign country and cannot be summoned to serve the
investigation, prosecution, and trial. It is considered that the
suspect or defendant is residing in a foreign country and cannot be summoned to
serve investigation, prosecution and trial if there is a basis to determine
that the suspect or defendant has left the country but there is no entry
information and the place of residence, work or study of the suspect or
defendant in the foreign country cannot be determined and the suspect or
defendant cannot be summoned or extradited to serve the investigation,
prosecution and trial, or the presiding authority has a basis to determine the
place of residence, work or study of the suspect or defendant in the foreign
country, has summoned or requested extradition but cannot bring the suspect or
defendant back to Vietnam to serve investigation, prosecution and trial. 2. Investigation
authorities, Procuracies and Courts may promulgate conclusion of investigations
for prosecution and charges and organize trial in absentia in the cases
specified in clause 1 of this Article when the following conditions are met: a) Having collected
sufficient evidence and documents to clarify issues that must be proven in
lawsuits as prescribed in Article 85 of the Criminal Procedure Code and having
sufficient grounds to determine that suspects or defendants that have committed
crime are prosecuted, investigated, and tried; b) Protecting the defense
right of suspects and defendants that are absent as prescribed in Articles 16,
291, 351 and Chapter V of the Criminal Procedure Code. Presiding authorities
that are accepting and resolving lawsuits must notify representatives or
kindred of suspects and defendants of the right to have defense
counsels so that they can request defense counsels. In case such
representatives or kindred do not request defense counsels, presiding
authorities must appoint defense counsels as prescribed in Article 76 of the
Criminal Procedure Code. Article
5. Conclusion of investigation for prosecution in absentia (in the absence of
suspects) 1. Each investigation
authority must conduct investigation and verification to determine cases and
conditions for promulgation of a conclusion of investigation for prosecution in
absentia as prescribed in clause 2, Article 233 of the Criminal
Procedure Code and Article 4 of this Joint Circular. Documents determining the
absence of the suspect shall be included in the lawsuit file and
transferred to the Procuracy for supervision as prescribed. 2. At least 20 days
before the conclusion of the investigation into a lawsuit in absentia, the
investigation authority and the Procuracy must cooperate and organize a meeting
to unanimously assess all evidence, documents and procedural procedures for the
lawsuit. If there are sufficient grounds and conditions to terminate the
investigation and conclude the investigation for prosecution in absentia
according to regulations of clause 2, Article 233 of the Criminal Procedure
Code and Article 4 of this Joint Circular, the investigation authority shall
promulgate a conclusion of the investigation for prosecution. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 3. If the suspect or
defendant is unaccounted for or remains at large according to point a clause 1
Article 4 of this Joint Circular and the investigation period has expired but
there are insufficient conditions for promulgation of a conclusion of
investigation for prosecution in absentia as prescribed in clause 2, Article 4
of this Joint Circular, the investigation authority must issue a decision to
suspend the investigation into the lawsuit or a decision to suspend the
investigation into the suspect as prescribed in Article 229 of the Criminal
Procedure Code; the settlement of the lawsuit shall follow general procedures. 4. The conclusion of
investigation for prosecution in absentia shall contain the contents specified
in Article 233 of the Criminal Procedure Code; reasons and grounds for
conclusion of investigation for prosecution in absentia. Article
6. Prosecution in absentia (in the absence of suspects) 1. In case the
investigation authority concludes the investigation for prosecution in
absentia, the Procuracy must take actions to determine cases and conditions for
promulgation of a charge in absentia according to clause 2, Article 243 of the
Criminal Procedure Code and Article 4 of this Joint Circular. Documents
determing the absence of the suspect shall be included in the lawsuit file. 2. In case the
investigation authority concludes the investigation according to general
procedures but during the prosecution stage, the suspect has absconded or is
unaccounted for, the Procuracy shall request the investigation authority to
issue a wanted notice. If the prosecution period expires and the suspect
remains at large, the Procuracy shall consider deciding prosecution in absentia
if there are sufficient grounds and conditions as prescribed in clause 2,
Article 243 of the Criminal Procedure Code and Article 4 of this Joint
Circular. 3. In case the
investigation authority concludes the investigation for prosecution in absentia
but at the prosecution stage, the suspect returns, surrenders or is sought, or
in case the Procuracy determines that there are insufficient grounds or
conditions to decide prosecution in absentia as prescribed in clause 2, Article
243 of the Criminal Procedure Code and Article 4 of this Joint Circular, the
Procuracy shall settle the lawsuit according to general procedures. 4. The charge in absentia
shall contain the contents specified in Article 243 of the Criminal Procedure
Code; reasons and grounds for prosecution in absentia. Article
7. Trial in absentia (in the absence of defendants) 1. In case a prosecution
decision has been issued in the absence of the suspect, the Court must examine
documents and evidence in the lawsuit file. If there are sufficient grounds and
conditions as prescribed in Article 4 of this Joint Circular, after the
deadline for preparation for trial, the Court shall consider deciding to bring
the lawsuit to trial in absentia in accordance with point a or point b, clause
2, Article 290 of the Criminal Procedure Code. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 2. In case the Procuracy
decides prosecution according to general procedures, but during the trial
preparation stage, the suspect or defendant is unaccounted for, the presiding
Judge shall request the investigation authority to issue a wanted notice. After
the trial preparation period expires and the suspect or defendant remains at
large, the investigation authority that has issued the wanted notice must
notify the Court to consider deciding to bring the lawsuit to trial in absentia
if there are sufficient grounds and conditions as prescribed in point a, clause
2, Article 290 of the Criminal Procedure Code and Article 4 of this Joint
Circular. 3. In case the Procuracy
decides prosecution according to general procedures, after having decided to
bring the lawsuit to trial but the defendant has absconded, the Trial Panel
shall suspend the lawsuit and request the investigation authority to seek the
defendant according to clause 1, Article 290 of the Criminal Procedure Code. In
case after 15 days from the date on which the wanted notice is issued, the
defendant remains at large, the investigation authority that has issued the
wanted notice must notify the Court to consider deciding to reopen the lawsuit
and bring the lawsuit to trial in absentia if there are sufficient grounds and
conditions as prescribed in point a, clause 2, Article 290 of the Criminal
Procedure Code and Article 4 of this Joint Circular. In case there are
insufficient grounds and conditions for trial in absentia, the Court shall
settle the lawsuit according to general procedures. 4. In case a wanted
notice has been issued in the absence of the suspect but the Court finds that
there are insufficient grounds and conditions as prescribed in clause 2,
Article 4 of this Joint Circular and there are grounds prescribed in clause 1,
Article 280 of the Criminal Procedure Code, the Court shall decide to return
the lawsuit file to the Procuracy for additional investigation or the Court
shall decide to suspend the lawsuit. After the additional investigation as
required by the Court, if there are sufficient grounds and conditions as
prescribed in clause 2, Article 4 of this Joint Circular, the Court shall
consider deciding to bring the lawsuit to trial in absentia. 5. Procedures for trial
in absentia in Court shall be followed according to regulations Chapter XXI and
Chapter XXII of the Criminal Procedure Code and the following procedures: a) The trial panel shall
public announce the reason for the trial in absentia and the defendant’s profile;
disseminate the rights and obligations of the absent defendant; order the
defendant to surrender and be present at the Court to exercise the right to
self-defense and enjoy mitigating and lenient circumstances as prescribed by
law; b) The defense counsel,
representative or relative of the absent defendant shall express his/her
opinions, present documents and evidence to protect the defendant's legitimate
rights and interests; and read the defendant's self-defense statement, if any. Article
8. Issuance, delivery, transfer, posting, announcement of orders, decisions,
and procedural documents in absentia 1. Conclusion of
investigation for prosecution, charges, judgments and decisions of Courts
shall be delivered, transferred and announced according to regulations in
Articles 137, 138, 141, 142, clause 4, Article 232, clause 2, Article 240 and
Article 262 of the Criminal Procedure Code. 2. In case the conclusion
of investigation for prosecution, charge, judgment and decision of Court cannot
be delivered to the suspect or defendant, the investigation authority, the
Procuracy, or the Court shall publicly post these procedural documents
according to regulations in Article 140, clause 3, Article 233, clause 3,
Article 243, and clause 1, Article 262 of the Criminal Procedure Code. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 3. Other procedural
documents shall be issued, delivered, transferred, publicly posted and
announced according to regulations of the Criminal Procedure Code and other
relevant laws. Chapter
III IMPLEMENTATION
PROVISIONS Article
9. Entry into force This Joint Circular comes
into force from July 01, 2025. Article
10. Implementation organization The Ministry of Public
Security, the Ministry of National Defense, the Supreme People's Procuracy and
the Supreme People's Court are responsible for organizing the implementation of
this Joint Circular. Any difficulties arising
during the implementation should be reported to the Ministry of Public
Security, the Ministry of National Defense, the Supreme People's Procuracy and
the Supreme People's Court for resolution./. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. PP. MINISTER OF PUBLIC SECURITY
DEPUTY MINISTER
Lieutenant General Nguyen Van Long PP. CHIEF JUSTICE
SUPREME PEOPLE'S COURT
STANDING DEPUTY CHIEF JUSTICE
Nguyen Tri Tue PP. PROCURATOR GENERAL
SUPREME PEOPLE’S PROCURACY
DEPUTY PROSECUTOR GENERAL
Ho Duc Anh
Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/07/2025 quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
14/05/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
30/05/2026
Ban hành:
28/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
13/02/2026
Ban hành:
27/06/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
30/06/2025
Ban hành:
26/02/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
01/03/2025
Ban hành:
19/02/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
28/02/2025
Ban hành:
30/11/2024
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
13/12/2024
Ban hành:
21/10/2024
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
24/10/2024
Ban hành:
26/07/2024
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
29/07/2024
Ban hành:
24/06/2024
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
22/07/2024
Ban hành:
12/11/2021
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
30/11/2021
10.094
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|