LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự
1. Bổ sung, bãi bỏ một số điểm của khoản 1 và khoản 2 Điều 4 như sau:
a) Bổ
sung điểm p vào sau điểm o khoản 1 như sau:
“p)
Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án.”;
b) Bổ
sung điểm k vào sau điểm i khoản 2 như sau:
“k) Xã,
phường, đặc khu sau đây gọi là cấp xã.”;
c)
Bãi bỏ các điểm a, d và g khoản 2.
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 20 như sau:
“Điều
20. Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự
Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm
mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều
phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt
tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát
nhân dân mỗi cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật này.”.
3. Sửa đổi, bổ sung các
điểm a, b, c, d, đ và e khoản 2 Điều 35 như sau:
“a)
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên
phòng gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Trinh sát; Cục trưởng, Phó Cục trưởng
Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh
sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm;
Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng; Đồn trưởng,
Phó Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa
khẩu cảng;
b)
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Hải quan gồm
Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu; Chi cục trưởng,
Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan; Chi
cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Đội trưởng, Phó Đội
trưởng Hải quan cửa khẩu;
c)
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Kiểm lâm gồm Cục
trưởng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Chi cục trưởng, Phó Chi cục
trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng, Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm
lâm; Hạt trưởng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm;
d)
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của lực lượng Cảnh
sát biển gồm Tư lệnh, Phó Tư lệnh Cảnh sát biển; Tư lệnh vùng, Phó Tư lệnh vùng
Cảnh sát biển; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật; Đoàn trưởng,
Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm
phòng, chống tội phạm ma túy; Hải đoàn trưởng, Phó Hải đoàn trưởng; Hải đội trưởng,
Phó Hải đội trưởng; Đội trưởng, Phó Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển;
đ)
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Kiểm ngư gồm Cục
trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư; Chi cục trưởng, Phó Chi cục
trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
e)
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các cơ quan
khác trong Công an nhân dân gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng, Trưởng phòng, Phó
Trưởng phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
của Công an nhân dân, Giám thị, Phó Giám thị Trại giam theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự;”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 36 như sau:
“4.
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về hành vi, quyết định của mình. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
trừ trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này.”.
5. Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 37 như
sau:
“1a. Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng
Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra
cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm
trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều
36 của Bộ luật này, trừ quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quy định chi tiết khoản này.”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau
khoản 4 Điều 41 như sau:
“4.
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về hành vi, quyết định của mình. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
không được ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5.
Trường hợp Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối
cao giải quyết vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể ủy
quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Công tố
và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản 1 và điểm p khoản 2 Điều này;
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của
Bộ luật này;
b)
Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét
xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố
và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
c)
Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của
Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên.”.
7. Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 42 như sau:
“1a.
Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của
Bộ luật này.”.
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau
khoản 4 Điều 44 như sau:
“4.
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi,
quyết định của mình. Chánh án, Phó Chánh án Tòa án không được ủy quyền cho Thẩm
phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản
5 Điều này.
5. Trường
hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh
tòa Tòa Phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Trực
tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự thuộc thẩm quyền;
b)
Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
c)
Quyết định phân công Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm, Thẩm phán xét xử vụ án hình sự;
quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết
định thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa.”.
9. Bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 45 như sau:
“2a.
Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng; Thẩm
phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền giải
quyết khiếu nại theo quy định của Bộ luật này.”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 75 như sau:
“4.
Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên
nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.”.
11. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 110 như
sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 2 như sau:
“a)
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này;
b) Thủ
trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng,
Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên
phòng, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống
ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma
túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát Bộ đội biên
phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp
luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm
ma túy lực lượng Cảnh sát biên, Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát lực lượng Cảnh sát
biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;”;
b) Sửa
đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những
người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ,
ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm
theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau
khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản
2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ
người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng
đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ
quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2
Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên
quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người
bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.”.
12. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 113 như sau:
“1.
Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm
giam:
a) Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp
quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường hợp
này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi
hành;
b) Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c)
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự
các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.”.
13. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 131 như sau:
“5. Hồ sơ vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa
theo quy định.
Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết
khoản này.”.
14. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 132 như sau:
“3. Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực
tiếp hoặc chữ ký số.
Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết
khoản này.”.
15. Sửa tên Điều và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 135 như sau:
a) Sửa
tên Điều như sau:
“Điều
135. Chi phí trong tố tụng hình sự”;
b) Bổ
sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5. Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm
chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.”.
16. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 137 như sau:
“d)
Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng
dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang
thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng.”.
17. Sửa đổi, bổ sung Điều 141 như sau:
“Điều 141. Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ
liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến
hành tố tụng
1. Việc
thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số,
phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng
thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng được thực
hiện khi việc niêm yết công khai không có kết quả hoặc các trường hợp khác theo
quy định của pháp luật.
2. Thông
báo trên phương tiện thông tin đại chúng được đăng trên báo hàng ngày của trung
ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền
hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Thời
điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày kết thúc việc thông báo.
3. Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết
Điều này.”.
18. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 149 như sau:
“1.
Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục
hồi.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 150 như sau:
“2.
Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố giữa các Cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố giải quyết.”.
20. Sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 5 Điều 163 như
sau:
“a)
Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
b) Cơ
quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực; Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu
điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều
tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;”.
21. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 171 như
sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1.
Khi cần thiết, Cơ quan điều tra ủy thác cho Cơ quan điều tra khác tiến hành một
số hoạt động điều tra. Quyết định ủy thác điều tra phải ghi rõ yêu cầu và gửi
cho Cơ quan điều tra được ủy thác, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền
công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác.”;
b) Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3.
Viện kiểm sát có thẩm quyền có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát
đối với hoạt động điều tra được ủy thác và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm
sát đã ủy thác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.”.
22. Sửa đổi, bổ sung các
điểm a, b và c khoản 5 Điều 172 như
sau:
“a) Đối
với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát
quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia
hạn điều tra;
b) Đối
với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát
quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án
do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
c) Đối
với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát
quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ
án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;”.
23. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 173 như sau:
“a)
Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn
tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất
nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm
giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất
nghiêm trọng.
Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn tạm giam
lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;”.
24. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 193 như sau:
“2.
Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải
thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.”.
25. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 208 như sau:
“2.
Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.”.
26. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 225 như sau:
“1.
Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp
quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có quyền
ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Trường
hợp vụ án do Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng
Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp
quân khu xem xét, quyết định áp dụng.”.
27. Sửa đổi, bổ sung Điều 233 như sau:
“Điều
233. Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố
1.
Trong trường hợp đề nghị truy tố thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến
hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động
cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc
thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều
kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; lý do
và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng; những ý kiến đề xuất
giải quyết vụ án.
Bản kết
luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và chữ
ký của người ra kết luận điều tra.
2. Cơ
quan điều tra có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can khi đã có đủ căn
cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này trong các
trường hợp sau:
a) Bị
can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nà không có kết quả;
b) Bị
can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động điều tra.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ban hành kết luận điều
tra đề nghị truy tố đối với bị can quy định tại khoản 2 Điều này, kết luận điều
tra phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
4. Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết
khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
28. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 239 như sau:
“1.
Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc truy tố là Viện kiểm sát đã thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát
được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.
Trường
hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết
định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện
kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.
Đối với
vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì
Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi
kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp
dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên
tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát
cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng,
Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
theo đúng quy định của Bộ luật này.”.
29. Sửa đổi, bổ sung Điều 243 như sau:
“Điều
243. Quyết định truy tố bị can
1. Viện
kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
Bản
cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội
của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm
nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật
chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý
nghĩa đối với vụ án.
Phần
kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Bản
cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký
của người ra bản cáo trạng.
2. Viện kiểm sát có thể quyết định truy tố bị can khi đã có
đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này
trong các trường hợp sau:
a) Bị
can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nà không có kết quả;
b) Bị
can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động nhằm quyết
định việc truy tố.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng theo
quy định tại khoản 2 Điều này, cáo trạng phải được niêm yết nếu không thể giao
được cho bị can.
4. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết
khoản 2 và khoản 3 Điều này.”.
30. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 262 như sau:
“2.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án
cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng
cấp; cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm; Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị
cáo; người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng
cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của họ; cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản
và quyết định dân sự; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập của bị cáo. Trường hợp Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương xét xử phúc thẩm thì thời
hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày.”.
31. Sửa đổi, bổ sung Điều 268 như sau:
“Điều
268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án
1. Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình
sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng
và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ
án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân
dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều
ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến
chính trị, đối ngoại; vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp
tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc
thiểu số.
Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao quy định chi tiết điểm này.
3. Tòa
án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng,
tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ tội phạm, vụ án:
a)
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b)
Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c)
Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227,
277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286,
287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự;
d)
Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
đ) Vụ
án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến
vụ án ở nước ngoài.
4.
Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ
án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực;
b) Vụ
án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều
tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến
nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra
viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh, Trung đoàn trưởng và tương đương trở
lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.”.
32. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 269 như sau:
“2. Bị
cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân nơi cư trú
cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử theo thẩm quyền. Nếu không xác định được
nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy từng trường hợp, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân khu vực thuộc
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh
hoặc giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử.
Bị
cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì
Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự
trung ương.”.
33. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 290 như sau:
“a) Bị
cáo trốn hoặc không biết bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả;”.
34. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 344 như sau:
“1.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
2.
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.”.
35. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 346 như sau:
“1.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm
trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; trường hợp xét xử vụ
án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt đến 20
năm tù thì thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm là 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án.
Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa
phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
2.
Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu, 75 ngày đối với Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự
trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một
trong các quyết định:
a)
Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
b)
Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.”.
36. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 347 như sau:
“1.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
Việc
áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao quyết định. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn
khác, biện pháp cưỡng chế do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định.
2. Thời
hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
quy định tại Điều 346 của Bộ luật này.
Trường
hợp còn thời hạn tạm giam bị cáo mà xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo
thì Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của
Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị cáo theo quyết định
tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ
chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao ra quyết
định tạm giam mới.
Đối với
bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc
xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên
tòa.”.
37. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và bổ sung khoản 3 vào sau
khoản 2 Điều 352 như sau:
“2.
Thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 297 của Bộ luật này.
3.
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng
xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh
án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao ký quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết
định hoãn phiên tòa phải thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt
tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên
tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.”.
38. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 367 như
sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung điểm e khoản 1 như sau:
“e)
Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước thì Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến
trình Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm. Trường hợp Chủ tịch nước quyết
định ân giảm thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định chuyển hình phạt
tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày
nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao mà Chủ tịch nước không có quyết định ân giảm thì cơ quan
có thẩm quyền thông báo ngay về việc không có quyết định ân giảm của Chủ tịch
nước để Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm tổ chức việc thi hành bản án tử hình
theo quy định.”;
b) Bổ
sung khoản 3 vào sau khoản 2 như sau:
“3.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định
chi tiết Điều này.”.
39. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 372 như sau:
“2.
Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến
nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị.”.
40. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 373 như
sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh; bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.”;
b) Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi tỉnh, thành phố.”.
41. Sửa đổi, bổ sung Điều 382 như sau:
“Điều
382. Thẩm quyền giám đốc thẩm
1. Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm
năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung
ương bị kháng nghị.
2. Hội
đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có tính
chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không thống
nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
Khi Hội
đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm thì phải
có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết
tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng toàn thể Thẩm
phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra
quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét
xử lại vụ án.
3. Ủy
ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực
bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án
Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm
phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được
quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên
tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban
Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
4. Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử
giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh
làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số
thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy
ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày ra quyết định hoàn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử
lại vụ án.
5. Bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc
thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám
đốc thẩm toàn bộ vụ án.”.
42. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 400 như sau:
“3.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân
dân khu vực thuộc phạm vi tỉnh, thành phố.”.
43. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 474 như sau:
“2.
Viện trưởng Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam trong giai đoạn điều tra, truy tố. Cơ quan, người có thẩm quyền trong việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải chuyển ngay
cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án, vụ việc
khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan
điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát
giải quyết.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong
việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc
bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét,
giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết
của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp
luật.
3.
Tòa án có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định bắt, tạm giam trong giai
đoạn xét xử.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Chánh án trong việc bắt, tạm
giam do Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại của Chánh án thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh
án Tòa án trên một cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án trong việc bắt, tạm
giam do Chánh án Tòa án trên một cấp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét,
giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ Phó Chánh tòa
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm giam do Chánh tòa Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết khiếu nại của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định
giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp
luật.”.
44. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 475 như sau:
“1.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều
tra, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trừ khiếu nại về việc giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải
quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có
quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các
quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng
Viện kiểm sát có thẩm quyền thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết
định có hiệu lực pháp luật.”.
45. Sửa đổi, bổ sung Điều 476 như sau:
“Điều
476. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng và Viện
trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát thì trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
2.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên công tác tại Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên công tác tại Viện kiểm sát
quân sự trung ương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường
hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết
của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền
khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm
sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải
quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải
quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực
pháp luật.”.
46. Sửa đổi, bổ sung Điều 477 như sau:
“Điều
477. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa
án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án, Phó Chánh tòa, Chánh tòa Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
1.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm
tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực trước
khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự
khu vực giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự khu vực thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu. Trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự khu vực trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu là quyết định có
hiệu lực pháp luật.
2.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm
tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu
trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án
quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có
quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự
trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên công tác tại Tòa án nhân dân tối
cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Thẩm tra
viên công tác tại Tòa án quân sự trung ương, Phó Chánh án Tòa án quân sự trung
ương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương
xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết
định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự
trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường
hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án,
Thẩm tra viên, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trước khi mở
phiên tòa do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thì trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người
khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải
quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.”.
47. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 481 như sau:
“1. Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có thẩm
quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát
thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
có thẩm quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự
khu vực thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu có thẩm quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự cấp quân khu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự
trung ương có thẩm quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án quân sự trung ương thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết.
Tố
cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra có thẩm quyền
xem xét, giải quyết.”.
48. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 483 như sau:
“1.
Viện kiểm sát có thẩm quyền và Viện kiểm sát cấp trên kiểm sát việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Tòa án.”.
49. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 485 như sau:
“a)
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Điều tra viên
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này
có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ
trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra
hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân có thẩm quyền, đề
nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;”.
50. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 487 như sau:
“3.
Khi tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhận được đề nghị, yêu cầu
áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm xem xét, đề nghị Cơ quan điều tra cùng
cấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp Viện kiểm sát nhân
dân khu vực, Tòa án nhân dân khu vực nhận được đề nghị, yêu cầu bảo vệ thì đề
nghị Cơ quan điều tra cấp tỉnh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.”.
51. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 501 như
sau:
a) Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối
với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định
từ chối dẫn độ xem xét yêu cầu của nước ngoài.”;
b) Sửa
đổi, bổ sung các khoản 5, 6 và 7 như sau:
“5.
Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ra quyết định cho thi hành hoặc không cho thi
hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, Tòa án nhân dân khu vực
gửi quyết định cho người bị yêu cầu thi hành, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp,
Bộ Công an để thực hiện.
Người
bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có quyền
kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn
15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định.
Tòa
án nhân dân khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân
cấp tỉnh trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ xem xét yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị
kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục
xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân khu vực được
thực hiện theo quy định tại Điều này.
7.
Quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật gồm:
a)
Quyết định của Tòa án nhân dân khu vực không bị kháng cáo, kháng nghị;
b)
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.”.
52. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 502 như sau:
“3.
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn quy định tại
khoản 1 Điều này. Thẩm phán chủ tọa phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ có quyền
quyết định việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp đặt tiền để
bảo đảm sự có mặt của người bị yêu cầu dẫn độ tại phiên họp.”.
53. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 503 như sau:
“2.
Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt
giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi
hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.
Trường
hợp cần thiết, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể gửi văn
bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra lệnh, quyết định tạm
giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc xem xét yêu
cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an.”.
54. Bổ sung Điều 506a vào sau Điều 506 như
sau:
“Điều
506a. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ
Việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ của cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật về dẫn độ.”.
55. Bổ sung cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam”
vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” tại khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 332 và khoản 3 Điều 333; bổ sung cụm từ “hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả
năng điều khiển hành vi” vào sau cụm từ “đã khỏi bệnh” tại khoản
2 Điều 454.
56. Thay thế cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” bằng cụm
từ “Công an cấp xã” tại khoản
3 Điều 111, khoản 3 Điều 112 và khoản 3 Điều 146.
57. Thay thế cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” bằng cụm từ
“Viện kiểm sát có thẩm quyền” tại khoản 2 Điều 114, khoản 5 Điều 119, khoản 4 Điều 121, khoản 3 Điều 122, khoản 2 Điều 124, khoản 2 và khoản 4 Điều 128,
khoản 2 và khoản 4 Điều 129, khoản 3 Điều 152, khoản 1 Điều 169,
khoản 3 Điều 170, khoản 3 Điều 179, khoản 3 Điều 180, khoản 1 Điều 189, khoản 1 Điều 190, khoản 1 Điều 191, khoản 3 Điều 193, khoản 1 và khoản 2 Điều 197, khoản 2 Điều 198,
khoản 2 Điều 201, khoản 1 Điều 202, khoản 2 Điều 204, khoản 3 Điều 229, khoản 2 và khoản 3 Điều 231, khoản 4 Điều 232,
Điều 235, Điều 439, khoản 1 Điều 449 và khoản 2 Điều 457.
58. Thay thế cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp cao” bằng cụm
từ “Viện kiểm sát nhân dân tối cao” tại khoản 1 Điều 341.
59. Thay thế cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” bằng
cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” tại khoản 2 Điều 113, Điều 116, khoản 6 Điều 119, khoản
1 Điều 120, khoản 2 Điều 121, khoản 5 và khoản 6 Điều 123, khoản
4 Điều 128, khoản 2 và khoản 3 Điều 138, khoản 2 Điều 182, điểm
a khoản 3 Điều 185, các khoản 1, 2 và 3 Điều 195, khoản 1 Điều 198, khoản 4 Điều 202, khoản 1 Điều 262, khoản 8 Điều 368, khoản 2 Điều 369, khoản 2 Điều 395, điểm b khoản 3 Điều 437 và
khoản 2 Điều 440.
60. Thay thế cụm từ “chính quyền địa phương” bằng cụm từ “Ủy
ban nhân dân” tại điểm c
khoản 1 Điều 90.
61. Thay thế cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” bằng
cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” tại khoản 2 Điều 140, khoản 1 Điều 262, khoản 1 Điều 286.
62. Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ
“Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 1 và khoản 2 Điều 275; thay
thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 452.
63. Thay thế cụm từ “khỏi bệnh” bằng cụm từ “có kết luận khỏi
bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” tại khoản 1 Điều 290, khoản 2 Điều 452; thay thế cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần” bằng
cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” tại khoản 1 và khoản 2
Điều 454; thay thế cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa
bệnh” bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” tại khoản 3
Điều 454.
64. Thay thế cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện” bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh” tại khoản 3 Điều 364, các khoản 8, 9 và 10 Điều
368.
65. Thay thế cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” bằng cụm
từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” tại khoản 1 và khoản 3 Điều 404, khoản 1 và
khoản 2 Điều 405, Điều 406, các khoản 2, 3 và 5 Điều 407,
Điều 408, điểm a khoản 2 Điều 411 và Điều 412.
66. Thay thế cụm từ “cấp cao” bằng cụm từ “cấp tỉnh” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 380.
67. Thay thế cụm từ “Cơ quan điều tra cùng cấp” bằng cụm từ
“Cơ quan điều tra có thẩm quyền” tại khoản 1 Điều 262.
68. Thay thế cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” bằng
cụm từ “thành phố” tại các điểm
b, đ và h khoản 2 Điều 4, điểm c khoản 5 Điều 163, khoản 2 Điều 169, khoản 1 Điều 274, khoản 1 và khoản 2 Điều 275.
69. Bỏ cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” tại khoản 4 Điều 117, khoản 2 Điều 118, khoản
5 Điều 146, đoạn 2 khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản
2 Điều 149, khoản 2 Điều 156 và khoản 1 Điều 158.
70. Bỏ cụm từ “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” tại đoạn 1 khoản 2 Điều 147 và khoản 4 Điều
481.
Điều 2. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Luật
này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9
thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|