|
BỘ
CÔNG AN - BỘ QUỐC PHÒNG - TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI
CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 03/2026/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
|
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2026
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
QUY ĐỊNH VỀ PHỐI HỢP THỰC HIỆN TRÍCH
XUẤT PHẠM NHÂN PHỤC VỤ ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ
Căn cứ Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố
tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15, Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tư
pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 85/2025/QH;
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
liên tịch ban hành Thông tư liên tịch quy định về phối hợp thực hiện trích xuất
phạm nhân phục vụ điều tra, truy tố, xét xử.
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định phối
hợp trong việc thực hiện trình tự, thủ tục trích xuất phạm nhân ra khỏi trại
giam, trại tạm giam, phân trại tạm giam để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử và
chế độ đối với phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
1. Các cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trại
giam, trại tạm giam, phân trại tạm giam và phạm nhân.
2. Tổ chức, cá nhân khác
có liên quan đến hoạt động trích xuất phạm nhân.
Điều
3. Nguyên tắc phối hợp
1. Bảo đảm tuân thủ đúng
nguyên tắc thi hành án hình sự theo quy định tại Điều 4 của Luật
Thi hành án hình sự.
2. Bảo đảm thực hiện đúng
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.
3. Chủ động, thường xuyên,
kịp thời, tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền liên quan đến hoạt động
trích xuất phạm nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
4. Bảo đảm chế độ bảo mật
thông tin theo quy định của pháp luật.
Chương
II
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC TRÍCH
XUẤT, GIAO NHẬN VÀ QUẢN LÝ PHẠM NHÂN ĐƯỢC TRÍCH XUẤT
Điều
4. Thủ tục yêu cầu trích xuất phạm nhân
1. Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố thì việc
gửi văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân được thực hiện như sau:
a) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản
yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công
an; phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc
phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Quốc phòng để ra lệnh trích xuất phạm nhân;
b) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp quản lý
thì phải gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh để ra lệnh trích xuất phạm nhân;
c) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại tạm giam do cấp quân khu quản lý thì phải gửi văn bản
yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi
có trại tạm giam để ra lệnh trích xuất phạm nhân.
2. Toà án nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, Toà án quân sự trung
ương, Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực khi có yêu cầu trích
xuất phạm nhân để phục vụ xét xử thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi sẽ tiến hành xét xử hoặc nơi phạm nhân được trích xuất phải có mặt để Tòa
án tiến hành xét xử để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm
nhân theo thẩm quyền.
3. Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thuộc Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
hoặc cấp khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy
tố thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất
hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân theo thẩm quyền.
4. Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng cấp quân khu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thuộc cấp khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân thì gửi văn bản đến
thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan yêu cầu trích
xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân
theo thẩm quyền.
5. Các trường hợp phạm
nhân đang chấp hành án tại trại giam bị khởi tố bị can về tội phạm khác, trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng đã ra quyết định khởi tố bị can phải có văn bản yêu cầu
trích xuất phạm nhân gửi đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2,
3 và 4 Điều này để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân
về trại tạm giam, phân trại tạm giam để phục vụ điều tra.
Trường hợp phạm nhân đang
chấp hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam bị cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng đóng trên địa bàn nơi phạm nhân chấp hành án khởi tố bị
can, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định khởi tố bị
can đối với phạm nhân đó, cơ quan, người tiến hành tố tụng phải có văn bản yêu
cầu trích xuất phạm nhân gửi đến Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án để ra lệnh
trích xuất phạm nhân ra khỏi khu giam giữ phạm nhân và tổ chức quản lý giam giữ
phạm nhân bị khởi tố bị can tại trại tạm giam, phân trại tạm giam đó theo quy định
tại khoản 1 Điều 9 của Thông tư liên tịch này.
6. Văn bản yêu cầu trích
xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có các nội
dung sau đây:
a) Cơ quan yêu cầu trích
xuất; họ tên, chức vụ, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền yêu cầu trích
xuất và đóng dấu;
b) Họ, tên, ngày, tháng,
năm sinh, nơi đăng ký thường trú của phạm nhân; ngày bị bắt; tội danh; thời hạn
bị phạt tù; theo bản án số, ngày, tháng, năm, của Tòa án; quyết định thi
hành án số, ngày, tháng, năm của Tòa án và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt
tù; tư cách tham gia tố tụng của phạm nhân được trích xuất trong vụ án do cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trích xuất phạm nhân đang
thụ lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Mục đích và thời hạn
trích xuất; cơ quan, đơn vị được phân công nhận và áp giải phạm nhân được trích
xuất; cơ sở giam giữ nơi nhận, quản lý phạm nhân được trích xuất trong thời
gian trích xuất phạm nhân.
Điều
5. Thủ tục đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân
1. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân, nếu không
thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản
đề nghị trích xuất phạm nhân kèm theo bản sao văn bản yêu cầu trích xuất của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đến cơ quan có thẩm quyền ra lệnh
trích xuất phạm nhân để ra lệnh trích xuất. Khi gửi văn bản đề nghị cơ quan có
thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải thông báo cho
cơ quan có yêu cầu trích xuất biết.
2. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu khi nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất
phạm nhân thì thực hiện việc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân như sau:
a) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản
đề nghị trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công
an;
b) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn
bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc
phòng;
c) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an tỉnh khác quản lý thì gửi văn
bản đề nghị trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh
đó ra lệnh trích xuất phạm nhân;
d) Trường hợp phạm nhân
đang chấp hành án tại trại tạm giam cấp quân khu khác thì gửi văn bản yêu cầu
trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đó để ra lệnh
trích xuất phạm nhân.
3. Trường hợp nhận được
yêu cầu trích xuất đối với phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp
hành án, cơ quan nhận được yêu cầu trích xuất phải có văn bản thông báo lại cho
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất biết về việc
phạm nhân đó có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp hành án để xem xét, cân
nhắc việc trích xuất phạm nhân.
4. Trường hợp nhận được
văn bản đề nghị trích xuất phạm nhân mà phạm nhân đó đã trích xuất đến cơ sở
giam giữ khác để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử theo đề nghị của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan đã ra lệnh trích xuất phải có
văn bản thông báo cho cơ quan đề nghị trích xuất sau và cơ quan tiến hành tố tụng
đang thụ lý vụ án, cơ quan thi hành án hình sự đang quản lý phạm nhân được
trích xuất biết để phối hợp giải quyết theo thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi
cư trú.
Điều
6. Ra lệnh trích xuất phạm nhân
1. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu hoặc văn bản đề nghị trích xuất,
cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất phải ra lệnh trích xuất gửi cho cơ
quan đã đề nghị ra lệnh trích xuất, cơ quan giao và cơ quan nhận phạm nhân được
trích xuất để thực hiện. Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra lệnh trích xuất phải gửi lệnh trích
xuất đến cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Quốc phòng để theo dõi đồng thời gửi Viện kiểm sát có thẩm
quyền nơi có cơ sở giam giữ đang quản lý phạm nhân được trích xuất biết để kiểm
sát.
2. Lệnh trích xuất phải có
các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật Thi hành án
hình sự.
Điều
7. Gia hạn trích xuất phạm nhân
1. Chậm nhất 05 ngày làm
việc trước khi hết thời hạn trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng đang thụ lý vụ án phải gửi văn bản yêu cầu gia hạn trích xuất đến cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
để ra lệnh gia hạn trích xuất theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng
ra lệnh gia hạn trích xuất. Căn cứ yêu cầu, mục đích trích xuất của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc để bảo đảm thủ tục thi hành án phạt
tù khi trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án, cơ quan đã đề
nghị trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản đề nghị cơ quan đã ra lệnh trích xuất
đề ra lệnh gia hạn trích xuất đối với các trường hợp sau:
a) Phạm nhân được trích xuất
là bị can, bị cáo trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có yêu cầu trích xuất đang thụ lý, khi hết thời hạn trích xuất, cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn đang tiến hành một trong các hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử đối với phạm nhân đó.
b) Trong thời gian trích
xuất, phạm nhân được trích xuất đã bị Tòa án xét xử, khi hết thời hạn trích xuất
bản án mới chưa có hiệu lực pháp luật hoặc bản án đó đã có hiệu lực pháp luật
nhưng cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất chưa nhận được quyết định thi hành
án của Tòa án.
c) Trường hợp phạm nhân được
trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án do cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất đang thụ lý, khi hết thời hạn
trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chưa đạt mục đích
trích xuất và vẫn có nhu cầu tiếp tục trích xuất phạm nhân đó để giải quyết vụ
án.
d) Trường hợp trong thời
gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất bị điều chuyển đến cơ sở giam giữ
khác theo quyết định điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam của thủ trưởng cơ
quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú có thẩm quyền để phục
vụ điều tra, truy tố, xét xử, khi hết thời hạn trích xuất mà phạm nhân đó chưa
điều chuyển trả lại thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu đã đề nghị trích xuất phạm nhân ban đầu phải đề
nghị gia hạn trích xuất.
2. Văn bản đề nghị gia hạn
trích xuất phạm nhân phải nêu rõ lý do, mục đích gia hạn, thời hạn gia hạn
trích xuất và kèm theo văn bản yêu cầu gia hạn trích xuất của cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, trừ trường hợp đề nghị gia hạn trích xuất phạm
nhân để hoàn thiện thủ tục thi hành án.
3. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn trích xuất, cơ quan có thẩm
quyền phải ra lệnh gia hạn trích xuất. Lệnh gia hạn trích xuất phải gửi cho cơ
quan nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất
để thực hiện và Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi có cơ sở giam giữ đang quản lý
phạm nhân được trích xuất biết để kiểm sát.
4. Trường hợp trong thời
gian trích xuất, nếu Toà án có thẩm quyền ra quyết định hủy toàn bộ bản án, quyết
định thi hành án của Tòa án hoặc huỷ phần hình phạt tù trong bản án, quyết định
thi hành án của Tòa án mà phạm nhân đang chấp hành để điều tra, truy tố, xét xử
lại thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thực hiện việc giam giữ phạm
nhân theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và
không làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất nhưng phải gửi văn bản thông báo
kèm theo bản sao quyết định hủy bản án, quyết định thi hành án của Tòa án đến
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan đã ra lệnh trích xuất
và cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất.
Sau khi Toà án xét xử lại
mà phạm nhân được trích xuất bị xử phạt tù, có quyết định thi hành án phạt tù của
Tòa án thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất thực hiện thi hành quyết định
thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều 17 của Luật Thi hành
án hình sự.
5. Trường hợp trong thời
gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất bị kết án tử hình thì cơ quan nhận
phạm nhân được trích xuất tổ chức giam giữ người đó theo quy định về giam giữ
người bị kết án tử hình và không làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất nhưng
phải gửi văn bản thông báo kèm theo bản sao bản án đến cơ quan đã ra lệnh trích
xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án
hình sự Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để theo
dõi, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi phạm nhân được
trích xuất biết để kiểm sát.
Điều
8. Phối hợp thực hiện lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất phạm nhân
1. Sau khi nhận được lệnh
trích xuất phạm nhân, cơ quan được giao nhiệm vụ nhận và áp giải phạm nhân theo
lệnh trích xuất phải cử cán bộ mang giấy giới thiệu, giấy chứng nhận điều tra
viên hoặc chứng minh Công an nhân dân, chứng minh sỹ quan, quân nhân chuyên
nghiệp thuộc Quân đội nhân dân kèm theo lệnh trích xuất đến nơi phạm nhân được
trích xuất đang chấp hành án để nhận và áp giải phạm nhân về cơ sở giam giữ
theo lệnh trích xuất; trường hợp lệnh trích xuất phạm nhân gửi qua đường cơ yếu,
phần mềm điều hành văn bản trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thì lệnh
đó phải có xác nhận (ký tên, đóng dấu) của thủ trưởng cơ quan nhận văn bản qua
đường cơ yếu hoặc xác nhận của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Trường hợp không đến nhận
phạm nhân trích xuất theo lệnh trích xuất thì cơ quan đề nghị trích xuất phải
có văn bản thông báo nêu rõ lý do gửi cho cơ quan đã ra lệnh trích xuất và cơ sở
giam giữ phạm nhân trích xuất biết.
2. Trại giam, trại tạm
giam nơi giao phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm kiểm tra lệnh trích xuất
với hồ sơ phạm nhân, nếu đúng thì tổ chức khám sức khỏe, lập biên bản giao, nhận
phạm nhân được trích xuất, ghi sổ theo dõi trích xuất và bàn giao phạm nhân cho
cơ quan có thẩm quyền nhận, áp giải, quản lý phạm nhân được trích xuất trong thời
gian trích xuất.
3. Trường hợp trích xuất,
gia hạn trích xuất phạm nhân mà thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành
án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất, gia hạn trích xuất thì cơ
quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất phải cử cán bộ đến cơ quan
đang quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất để nhận hồ sơ phạm nhân, bàn giao
phạm nhân cùng với giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân
được trích xuất để cơ quan, người có thẩm quyền nhận phạm nhân trích xuất cấp
chứng nhận chấp hành xong án phạt tù khi hết thời hạn và ghi sổ theo dõi trích
xuất theo quy định tại khoản 5 Điều 38 của Luật Thi hành án hình
sự.
4. Trường hợp trích xuất
phạm nhân nữ có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi ở cùng tại nơi chấp hành án thì cơ
quan giao phạm nhân được trích xuất phải tổ chức khám sức khỏe cho con phạm
nhân và bàn giao con của phạm nhân kèm theo giấy khai sinh hoặc các giấy tờ
khác quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật Thi hành án hình sự
cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất để bố trí ở cùng mẹ và thực hiện chế
độ chính sách đối với phạm nhân và con phạm nhân trong thời gian trích xuất
theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất là phạm nhân đang trong thời gian được Tòa án có thẩm quyền xem xét,
quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện
hoặc khi đã có quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng
chưa có hiệu lực pháp luật thì ngay sau khi bàn giao phạm nhân được trích xuất,
cơ quan giao phạm nhân được trích xuất phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản
sao lệnh trích xuất cho Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được
trích xuất và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp Tòa án để giải quyết theo thẩm
quyền.
6. Trường hợp không thực
hiện được việc giao, nhận phạm nhân theo lệnh trích xuất do phạm nhân có tên
trong lệnh trích xuất bị bệnh nặng đang điều trị, trốn, chết, tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù hoặc đã điều chuyển đến cơ sở giam giữ khác hoặc đã được trả tự
do theo quyết định của người có thẩm quyền thì cơ quan có thẩm quyền nhận phạm
nhân được trích xuất phải thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan yêu cầu trích
xuất, cơ quan ra lệnh trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công
an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày cơ sở chữa bệnh xác nhận phạm nhân đã điều trị sức khỏe ổn định;
phạm nhân trốn trại bị bắt lại hoặc ra đầu thú, cơ quan có thẩm quyền giao phạm
nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nhận phạm
nhân được trích xuất để thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng đã yêu cầu trích xuất xem xét, quyết định việc tiếp tục yêu cầu trích xuất
hoặc tiến hành các thủ tục tố tụng liên quan đến phạm nhân được trích xuất theo
thẩm quyền.
Điều
9. Phối hợp thực hiện quản lý phạm nhân và trao đổi thông tin trong thời gian
trích xuất
1. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất với tư cách là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét
xử mà có lệnh, quyết định tạm giam của cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan nhận
phạm nhân được trích xuất bố trí giam trong buồng tạm giam của trại tạm giam,
phân trại tạm giam và thực hiện chế độ quản lý giam giữ, chế độ ăn, ở, sinh hoạt
của người bị tạm giam đối với phạm nhân được trích xuất theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi
cư trú và các quy định của pháp luật có liên quan.
Trường hợp phạm nhân được
trích xuất với tư cách là bị can, bị cáo mà cơ quan tiến hành tố tụng không áp
dụng biện pháp tạm giam (không có lệnh, quyết định tạm giam) theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bố trí giam tại buồng
giam người đang chờ chấp hành án phạt tù trong phân trại tạm giam của trại tạm
giam (không giam chung với người đang chờ chấp hành án phạt tù khác) và thực hiện
chế độ của người bị tạm giam theo quy định của Luật
Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và các quy định của
pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét
xử thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bố trí quản lý giam giữ và thực
hiện chế độ đối với phạm nhân được trích xuất như sau:
a) Trường hợp phạm nhân có
mức án tù từ 05 năm trở xuống thì bố trí giam tại buồng quản lý phạm nhân trong
phân trại tạm giam, phân trại quản lý phạm nhân của trại tạm giam (không giam
chung với phạm nhân đang chấp hành án);
b) Trường hợp phạm nhân có
án phạt tù trên 05 năm được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án
đang được điều tra, truy tố, xét xử thì bố trí giam tại buồng giam người đang
chờ chấp hành án phạt tù trong phân trại tạm giam của trại tạm giam (không giam
chung với người đang chờ chấp hành án phạt tù khác).
c) Chế độ đối với phạm
nhân được trích xuất được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và các quy định của
pháp luật có liên quan. Cơ quan thi hành án hình sự nơi nhận phạm nhân được
trích xuất có trách nhiệm thực hiện việc xếp loại chấp hành án phạt tù đối với
phạm nhân trong thời gian trích xuất, đồng thời phải gửi ngay kết quả xếp loại
hoặc bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ của phạm nhân được
trích xuất cho cơ quan đang quản lý hồ sơ phạm nhân để xem xét, lập hồ sơ đề
nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho
phạm nhân được trích xuất nếu họ đủ điều kiện.
3. Chậm nhất 07 ngày làm
việc trước khi hết thời hạn trích xuất, nếu không thuộc trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 10 của Thông tư liên tịch này, cơ sở giam giữ
đang quản lý giam giữ phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngày hết thời hạn
trích xuất cho cơ quan đã đề nghị trích xuất để làm thủ tục gia hạn trích xuất
đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên
tịch này.
4. Trường hợp trong thời
gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất điều chuyển đến cơ sở giam giữ khác
theo quyết định điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam của thủ trưởng cơ quan
quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú có thẩm quyền để phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự đã đề nghị trích
xuất phạm nhân ban đầu phải có văn bản thông báo cho cơ quan đã ra lệnh trích
xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và Viện kiểm sát cùng cấp.
Chậm nhất 05 ngày làm việc
trước khi hết thời hạn trích xuất, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự đã đề
nghị trích xuất phạm nhân ban đầu phải gửi thông báo cho thủ trưởng cơ quan quản
lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú nơi tiếp nhận phạm nhân được
trích xuất điều chuyển đến để làm thủ tục điều chuyển phạm nhân đó trả lại cơ sở
giam giữ nơi nhận phạm nhân trích xuất ban đầu trước khi hết thời hạn trích xuất.
Trường hợp do tình trạng
khẩn cấp, lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc yêu cầu cấp thiết để phục
vụ điều tra, truy tố, xét xử không thể điều chuyển phạm nhân được trích xuất
ban đầu trước khi hết thời hạn trích xuất, thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ,
tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú nơi tiếp nhận phạm nhân được trích xuất điều
chuyển đến phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự đề nghị trích xuất phạm nhân ban đầu phải làm thủ tục đề nghị gia hạn
trích xuất theo điểm d khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch này.
5. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất để xét xử về tội khác mà bản án mới bị xét xử chưa có hiệu lực pháp luật
thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục giam giữ đến khi có quyết định
thi hành án mới của Tòa án. Trong thời gian chờ quyết định thi hành án mới của
Tòa án mà thời hạn trích xuất đã hết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục đề nghị gia hạn
trích xuất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 của Thông tư
liên tịch này.
6. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày hết thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất, cơ quan đã
giao phạm nhân trích xuất chưa nhận được phạm nhân trích xuất trả lại để tiếp tục
chấp hành án theo quy định tại khoản 8 Điều 38 của Luật Thi hành
án hình sự và không nhận được lệnh gia hạn trích xuất hoặc thông báo của cơ
quan đã nhận phạm nhân được trích xuất về lý do phạm nhân được trích xuất chưa
trả lại để tiếp tục chấp hành án thì cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất có
trách nhiệm gửi thông báo đến cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất, cơ
quan đã ra lệnh trích xuất, Viện kiểm sát nhân dân nơi cơ quan đã giao phạm
nhân trích xuất có trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 5
Điều 38 của Luật Thi hành án hình sự.
7. Trường hợp trong thời
gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất trốn khỏi nơi giam hoặc chết thì cơ
quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngay cho cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp tiến hành các thủ tục giải quyết theo
quy định của pháp luật và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ
quan đã ra lệnh trích xuất, nơi giao phạm nhân trích xuất và cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc
Bộ Quốc phòng.
Điều
10. Cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho phạm nhân được trích xuất
1. Cơ quan đang quản lý hồ
sơ phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm thông báo ngày phạm nhân trích xuất
chấp hành xong án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật
Thi hành án hình sự và gửi thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng đang thụ lý vụ án.
2. Trường hợp đến ngày phạm
nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù của bản án đang chấp hành mà phạm
nhân đó vẫn đang là bị can, bị cáo trong vụ án khác thì chậm nhất 05 ngày làm
việc trước ngày phạm nhân được trích xuất chấp hành xong án phạt tù, cơ quan nhận
phạm nhân được trích xuất thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng để xem xét, giải quyết việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
phạm nhân đó.
3. Vào ngày cuối cùng của
thời hạn chấp hành án phạt tù theo bản án mà phạm nhân được trích xuất đang chấp
hành, cơ quan nhận phạm nhân trích xuất có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp chứng
nhận chấp hành xong án phạt tù, trả tự do cho phạm nhân được trích xuất mà thời
gian trích xuất hoặc thời gian gia hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án
phạt tù còn lại theo quy định tại khoản 5 Điều 44 của Luật Thi
hành án hình sự.
4. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất được cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù nhưng đang là bị can,
bị cáo trong vụ án khác và cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết
định tạm giam người đó thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục tạm
giam người đó tại cơ sở giam giữ. Sau khi Tòa án xét xử, bản án có hiệu lực
pháp luật, có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án thì thực hiện thủ tục
thi hành quyết định thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều
17 của Luật Thi hành án hình sự.
5. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, cơ quan đã cấp chứng
nhận phải gửi chứng nhận đó và thông báo bằng văn bản cho các cơ quan theo quy
định tại khoản 7 Điều 44 của Luật Thi hành án hình sự, cơ
quan đã ra lệnh trích xuất, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang
thụ lý vụ án.
Điều
11. Phối hợp thực hiện việc tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được
trích xuất
1. Việc đề nghị xem xét, lập
hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân được trích xuất
thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 56 của Luật Thi hành
án hình sự và các quy định của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất đủ điều kiện đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện thì trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều
kiện cho phạm nhân được trích xuất, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản
cho cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất biết để kịp thời phối hợp trao đổi
thông tin liên quan đến phạm nhân được trích xuất.
3. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội
quy cơ sở giam giữ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày phạm nhân được trích xuất có hành vi vi phạm, cơ quan nhận
phạm nhân được trích xuất phải thông báo bằng văn bản kèm theo quyết định kỷ luật
phạm nhân, biên bản vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc văn bản về việc vi phạm
pháp luật cho cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện để
giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 69 và khoản 4 Điều 70
của Luật Thi hành án hình sự.
4. Khi nhận được quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án mà cơ quan nhận phạm nhân được
trích xuất vẫn đang quản lý, giam giữ phạm nhân đó thì cơ quan đang quản lý hồ
sơ phạm nhân được trích xuất phải gửi ngay thông báo kèm theo quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện đến trại giam, trại tạm giam nơi đang quản lý, giam
giữ phạm nhân được trích xuất để tống đạt cho phạm nhân, công bố quyết định,
niêm yết danh sách tại cơ sở giam giữ.
Trường hợp phạm nhân được
trích xuất có quyết định tha tù trước thời hạn nhưng chưa có hiệu lực pháp luật
vi phạm nội quy cơ sở giam giữ, bị xử lý kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm pháp luật
thì phải thông báo ngay bằng văn bản kèm theo quyết định kỷ luật phạm nhân,
biên bản vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc văn bản về việc vi phạm pháp luật
cho cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện để giải quyết
theo quy định tại khoản 2 Điều 69 và khoản 4 Điều 70 của Luật
Thi hành án hình sự.
5. Ngay sau khi quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, nếu cơ quan nhận phạm
nhân được trích xuất vẫn đang quản lý, giam giữ phạm nhân đó thì cơ quan đang
quản lý hồ sơ phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm cấp chứng nhận tha tù
trước thời hạn có điều kiện và phối hợp với cơ quan đang quản lý, giam giữ phạm
nhân được trích xuất để tổ chức tha phạm nhân.
Điều
12. Trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án
1. Hết thời hạn ghi trong lệnh
trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất hoặc trong thời hạn trích xuất, thời hạn
gia hạn trích xuất nếu không có nhu cầu tiếp tục trích xuất và không thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 4 và 5 Điều 7 của
Thông tư liên tịch này hoặc khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra, tạm
đình chỉ điều tra của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án
đối với phạm nhân được trích xuất thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải
gửi thông báo cho cơ quan đã ra lệnh trích xuất và áp giải, bàn giao phạm nhân
được trích xuất kèm theo phiếu khám sức khỏe, bản nhận xét kết quả chấp hành nội
quy cơ sở giam giữ và tài liệu liên quan trong thời gian trích xuất cho cơ quan
đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án.
2. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất để xét xử về tội khác thì việc trả lại phạm nhân cho cơ quan đã giao
phạm nhân để tiếp tục chấp hành án được tiến hành khi bản án mới xét xử có hiệu
lực pháp luật và có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định tổng hợp hình
phạt của các bản án nếu bản án mới chưa tổng hợp hình phạt.
3. Việc tiếp nhận phạm
nhân được trích xuất trả lại cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp
tục chấp hành án được thực hiện theo quy định tại các khoản 2,
3 và 4 Điều 24 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất từ trại tạm giam để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử mà sau khi xét
xử phạm nhân đó không còn thuộc đối tượng phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo
quy định tại khoản 2 Điều 175 của Luật Thi hành án hình sự
thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan nhận phạm nhân được
trích xuất bàn giao trả lại phạm nhân để tiếp tục chấp hành án, cơ quan tiếp nhận
phạm nhân được trích xuất phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh
sách báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, cơ quan quản lý
thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định điều chuyển phạm nhân đến trại
giam chấp hành án.
Chương
III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
13. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư liên tịch này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2026.
2. Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 17
tháng 6 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về
phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử hết hiệu
lực thi hành kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành.
Điều
14. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm
triển khai, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện thống nhất Thông tư
liên tịch này trong ngành mình.
2. Trong quá trình thực hiện
Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc cần hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung thì
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thông báo cho cơ quan cấp trên là Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
để kịp thời hướng dẫn, giải quyết./.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Lê Văn Tuyến
|
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Trần Hải Quân
|
KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN
Lê Tiến
|
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Công an;
- Bộ Quốc phòng;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Công báo;
- Cổng thông tin điện tử BCA, BQP, TANDTC, VKSNDTC;
- Lưu: VT (BCA, BQP, VKSNDTC, TANDTC).
|