Từ 1/5/2026, phân biệt đối xử giữa con gái, con trai xử phạt lên đến 10 triệu đồng đúng không?
Theo Nghị định 76/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 125/2021/NĐ-CР quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới thì mức phạt hành vi phân biệt đối xử giữa con gái, con trai kể từ ngày 1/5/2026 đã nâng lên đến 10.000.000 đồng thay vì mức tối đa 5.000.000 đồng như thời điểm hiện tại.
Cụ thể, tại Điều 5 Nghị định 76/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến gia đình như sau:
Điều 5. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 13 như sau:
“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính;
b) Đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở thành viển trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính;
b) Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, sử dụng biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên trong gia đình thuộc một giới nhất định.
3. Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.”.
Như vậy, từ 01/5/2026, cha mẹ phân biệt đối xử giữa con gái và con trai vì lý do giới tính có thể bị phạt từ 5 đến 10 triệu đồng, thay cho mức phạt 3 - 5 triệu đồng hiện nay.
Lưu ý: Tại Điều 18 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định bình đẳng giới trong gia đình như sau:
(1) Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
(2) Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.
(3) Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
(4) Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
(5) Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

Từ 1/5/2026, phân biệt đối xử giữa con gái, con trai xử phạt lên đến 10 triệu đồng đúng không? (Hình từ Internet)
Trách nhiệm của gia đình và công dân trong bình đẳng giới là gì?
Trách nhiệm của gia đình và công dân trong bình đẳng giới được quy định tại Điều 33, Điều 34 Luật Bình đẳng giới 2006, cụ thể như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm của gia đình:
(1) Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới.
(2) Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình.
(3) Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn.
(4) Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.
Thứ hai, trách nhiệm của công dân:
Công dân nam, nữ có trách nhiệm sau đây:
(1) Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới;
(2) Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;
(3) Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới;
(4) Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.
Những hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình năm 2026 gồm những hành vi nào?
Theo Điều 41 Luật Bình đẳng giới 2006, những hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình năm 2026 bao gồm:
- Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
- Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.
- Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
- Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.
- Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];