TIÊU
CHUẨN QUỐC GIA
TCVN
7391-18:2023
ISO
10993-18:2020
WITH
AMENDMENTS 1:2022
ĐÁNH GIÁ SINH HỌC TRANG THIẾT BỊ Y TẾ - PHẦN
18: ĐẶC TRƯNG HÓA HỌC CỦA VẬT LIỆU TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TRONG PHẠM VI MỘT QUÁ
TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO
Biological
evaluation of medical devices - Part 18: Chemical characterization of medical
device materials within a risk management process
Lời nói đầu
TCVN 7391-18:2023 thay thế
TCVN 7391-18:2007.
TCVN 7391-18:2023 hoàn toàn
tương đương với ISO 10993-18:2020 và Sửa đổi 1:2022.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bộ TCVN 7391 (ISO 10993), Đánh giá
sinh học trang thiết bị y tế, gồm các tiêu chuẩn sau:
- TCVN 7391-1:2023 (ISO 10993-1:2018),
Phần 1: Đánh giá và thử nghiệm trong phạm vi một quá trình quản lý rủi ro
- TCVN 7391-2:2020 (ISO 10993-2:2006],
Phần 2: Yêu cầu sử dụng động vật
- TCVN 7391-3:2020 (ISO 10993-3:2014),
Phần 3: Phép thử độc tính di truyền, khả năng gây ung thư và độc tính sinh sản
- TCVN 7391-4:2020 (ISO 10993-4:2017),
Phần 4: Lựa chọn phép thử tương tác với máu
- TCVN 7391-5:2020 (ISO 10993-5:2009),
Phần 5: Phép thử độc tính tế bào in vitro
- TCVN 7391-6:2020 (ISO 10993-6:2016),
Phần 6: Phép thử hiệu ứng tại chỗ sau cấy ghép
- TCVN 7391-7:2004 (ISO 10993-7:1995),
Phần 7: Dư lượng sau tiệt trùng bằng etylen oxit
- TCVN 7391-9:2023 (ISO 10993-9:2019),
Phần 9: Khung nhận dạng và định lượng sản phẩm phân hủy tiềm ẩn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- TCVN 7391-11:2020 (ISO
10993-11:2017), Phần 11: Phép thử độc tính toàn thân
- TCVN 7391-12:2023 (ISO
10993-12:2021), Phần 12: Chuẩn bị mẫu và mẫu chuẩn
- TCVN 7391-13:2023 (ISO
10993-13:2010), Phần 13: Nhận dạng và định lượng sản phẩm phân hủy từ trang
thiết bị y tế polyme
- TCVN 7391-14:2007 (ISO
10993-14:2001), Phần 14: Nhận dạng và định lượng sản phẩm phân hủy từ gốm sứ
- TCVN 7391-15:2023 (ISO
10993-15:2019), Phần 15: Nhận dạng và định lượng sản phẩm phân hủy từ kim loại
và hợp kim
- TCVN 7391-16:2020 (ISO
10993-16:2017), Phần 16: Thiết kế nghiên cứu độc lực cho sản phẩm phân hủy
và ngâm chiết
- TCVN 7391-17:2007 (ISO
10993-17:2002), Phần 17: Thiết lập giới hạn cho phép của chất ngâm chiết
- TCVN 7391-18:2023 (ISO
10993-18:2020), Phần 18: Đặc trưng hóa học của vật liệu
trang thiết bị y tế trong phạm vi một quá trình quản lý rủi ro
- TCVN 7391-19:2023 (ISO/TS
10993-19:2020), Phần 19: Đặc trưng hóa-lý, hình thái cấu trúc và hình thái bề
mặt của vật liệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- ISO/TS 10993-20:2006, Biological
evaluation of medical devices - Part 20: Principles and methods for immunotoxicology
testing of medical devices
- ISO/TR 10993-22:2017, Biological
evaluation of medical devices - Part 22: Guidance on nanomaterials
- ISO/TR 10993-23:2021, Biological
evaluation of medical devices - Part 23: Tests for irritation
- ISO/TR 10993-33:2015, Biological
evaluation of medical devices - Part 33: Guidance on tests to evaluate
genotoxicity - Supplement to ISO 10993-3
Lời giới thiệu
TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) đóng vai trò
như một khung để lập kế hoạch đánh giá sinh học, vì kiến thức khoa học nâng cao
hiểu biết của con người về các cơ chế cơ bản của phản ứng mô, giảm thiểu số lượng
và sự phơi nhiễm của động vật thử nghiệm. Ưu tiên đánh giá các đặc trưng hóa/lý
và thử nghiệm với các mô hình in vitro trong các tình huống thuộc phạm
vi quá trình đánh giá rủi ro. Các phương pháp này được sử dụng khi kết quả mang
lại thông tin có liên quan như nhau với thông tin thu được từ các mô hình in
vivo.
Quy trình đặc trưng và sơ đồ liên quan
dựa trên các nguyên tắc trong TCVN 7391-1 (ISO 10993-1); cụ thể là quá trình
đánh giá sinh học và đánh giá rủi ro là hiệu quả và hiệu quả nhất nếu dựa trên lượng
thông tin hóa học cần thiết và tối thiểu chấp nhận được để thiết lập một trang
thiết bị y tế có rủi ro đối với sức khỏe có thể chấp nhận được.
Điều 4.2 trong TCVN 7391-1:2023 (ISO
10993-1:2018) quy định việc lựa chọn vật liệu được sử dụng trong sản xuất trang
thiết bị y tế, đầu tiên phải xem xét tính phù hợp liên quan đến các đặc tính và
tính chất của vật liệu, có thể bao gồm hóa học, độc học, vật lý, các tính chất
điện, hình thái và cơ học. Hơn nữa, Điều 6.1 trong TCVN 7391-1:2023 (ISO
10993-1:2018) quy định việc thu thập thông tin vật lý và hóa học trên
trang thiết bị y tế hoặc thành phần là bước đầu tiên quan trọng trong quá trình
đánh giá sinh học và quá trình liên quan đến đặc trưng vật liệu.
Cuối cùng, TCVN 7391-1:2023 (ISO
10993-1:2018) và TCVN 8023 (ISO 14971) chỉ ra phân tích rủi ro sinh học phụ thuộc
vào những điều đã biết về công thức vật liệu, dữ liệu về độc tính và an toàn
phi lâm sàng và lâm sàng hiện có, cũng như bản chất và thời gian cơ thể tiếp
xúc với trang thiết bị y tế.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nhận dạng và định lượng vật liệu cấu
tạo trang thiết bị y tế (cấu hình thiết bị), khi thích hợp.
- Nhận dạng và định lượng các thành phần
hóa học trong từng loại vật liệu cấu tạo (thành phần vật liệu), khi thích hợp.
- Nhận dạng và định lượng các hóa chất
được sử dụng trong quá trình sản xuất trang thiết bị y tế, bao gồm cả chất hỗ
trợ và dư lượng chế biến, khi thích hợp.
- Khả năng trang thiết bị y tế và/hoặc
vật liệu cấu tạo trang thiết bị y tế thôi ra các hóa chất mà một người có khả
năng bị ảnh hưởng có thể phơi nhiễm trong điều kiện sử dụng lâm sàng.
Thành phần vật liệu cấu tạo chủ yếu do
nhà cung cấp các vật liệu này quyết định. Thành phần có thể thay đổi trong quá
trình sản xuất trang thiết bị y tế. Các đặc tính khác của trang thiết bị y tế chủ
yếu do các nhà cung cấp linh kiện hoặc nhà sản xuất thiết bị thiết lập để giải
quyết các yêu cầu về tính năng và chất lượng mà trang thiết bị y tế thành phẩm
phải đáp ứng cũng như quá trình sản xuất, bảo quản và phân phối mà trang thiết
bị y tế đó phải trải qua.
ĐÁNH GIÁ SINH
HỌC TRANG THIẾT BỊ Y TẾ - PHẦN 18: ĐẶC TRƯNG HÓA HỌC CỦA VẬT
LIỆU TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TRONG PHẠM VI MỘT QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO
Biological
evaluation of medical devices - Part 18: Chemical characterization of medical
device materials within a risk management process
1 Phạm vi áp dụng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- việc nhận dạng các vật liệu cấu tạo
trang thiết bị y tế (cấu hình trang thiết bị y tế);
- đặc trưng của các vật liệu cấu tạo
thông qua việc nhận dạng và định lượng các thành phần hóa học của chúng (thành
phần vật liệu);
- đặc trưng của trang thiết bị y tế đối
với các hóa chất được đưa vào trong quá trình sản xuất (ví dụ: chất loại bỏ nấm
mốc, chất gây ô nhiễm trong quá trình, dư lượng tiệt khuẩn);
- ước tính (sử dụng các điều kiện chiết
trong phòng thí nghiệm) về khả năng thôi ra các hóa chất trong điều kiện sử dụng
lâm sàng của trang thiết bị y tế hoặc vật liệu cấu tạo của nó (chất chiết);
- phép đo các hóa chất thôi ra từ một
trang thiết bị y tế trong điều kiện sử dụng lâm sàng của nó (chất
ngâm chiết).
Tiêu chuẩn này cũng có thể được sử dụng
để đặc trưng hóa học (ví dụ: nhận dạng và/hoặc định lượng) các sản phẩm phân hủy.
Thông tin về các khía cạnh khác của đánh giá sự phân hủy được đề cập trong TCVN
7391-9 (ISO 10993-9), TCVN 7391-13 (ISO 10993-13), TCVN 7391-14 (ISO 10993-14)
và TCVN 7391-15 (ISO 10993-15).
Bộ TCVN 7391 (ISO 10993) có thể áp dụng
khi vật liệu hoặc trang thiết bị y tế có sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với
cơ thể (xem TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) để phân loại theo bản chất của sự tiếp
xúc với cơ thể).
Tiêu chuẩn này dành cho các nhà cung cấp
vật liệu và nhà sản xuất trang thiết bị y tế, để hỗ trợ đánh giá sinh học.
2 Tài liệu viện dẫn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
TCVN 7391-1 (ISO 10993-1), Đánh giá sinh học
trang thiết bị y tế - Phần 1: Đánh giá và thử nghiệm
trong phạm vi một quá trình quản lý rủi ro
TCVN 7391-17:2007 (ISO 10993-17:2002),
Đánh giá sinh học trang thiết bị y tế - Phần 17: Thiết lập giới hạn cho phép
của chất ngâm chiết
TCVN 8023 (ISO 14971), Trang thiết
bị y tế -
Áp
dụng quản lý rủi ro đối
với trang thiết bị y tế
3 Thuật ngữ và định
nghĩa
Trong tiêu chuẩn này, áp dụng các thuật
ngữ, định nghĩa sau:
3.1
Chiết tăng tốc (accelerated
extraction)
Chiết có thời gian ngắn hơn thời gian
sử dụng lâm sàng nhưng điều kiện của nó không dẫn đến thay đổi hóa học đối với
các chất được chiết.
CHÚ THÍCH 1: Xem thêm Phụ lục D.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngưỡng đánh giá phân tích (analytical
evaluation threshold)
AET
Ngưỡng mà dưới ngưỡng này nhà phân
tích không cần nhận dạng hoặc định lượng chất lỏng hoặc chất chiết hoặc báo cáo
chúng để đánh giá độc tính tiềm ẩn.
CHÚ THÍCH 1: Xem Phụ lục E.
3.3
Phân tích nhanh
(analytically expedient)
Tình huống mà môi trường chiết có thể
được đánh giá trực tiếp bằng các phương pháp phân tích có sẵn nói chung với độ
nhạy cảm và độ chọn lọc cần thiết để đạt được ngưỡng báo cáo được chỉ định như
AET.
3.4
Phương pháp sàng lọc phân tích (analytical
screening method)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.5
Phương pháp mục tiêu phân tích (analytical
targeting method)
Phương pháp có mục đích định lượng, với
độ chính xác và độ chụm cao thích hợp, các chất phân tích được quy định trong một
mẫu thử quy định trên một dải nồng độ quy định.
3.6
Đặc trưng hóa học (chemical
characterization)
Quá trình thu thập thông tin hóa học,
được thực hiện bằng cách thu thập thông tin hoặc bằng cách tạo thông tin, ví dụ:
bằng cách xem xét tài liệu hoặc thử nghiệm hóa học.
3.7
Thông tin hóa học (chemical
information)
Định tính và định lượng, nếu có, kiến
thức liên quan đến cấu hình, thành phần và sản xuất của trang thiết bị y tế
và/hoặc vật liệu cấu tạo trang thiết bị y tế, từ đó thiết lập nhận dạng và số
lượng thành phần có trong vật liệu và thiết bị.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 2: Thông tin hóa học có thể
được sử dụng để thiết lập trường hợp giả định xấu nhất thôi ra hóa chất từ
trang thiết bị y tế, được dự đoán trong trường hợp tất cả các hóa chất có trong
thiết bị được thôi ra từ thiết bị trong điều kiện sử dụng lâm sàng.
3.8
Thiết lập lâm sàng (clinically
established)
Trang thiết bị y tế, thành phần hoặc vật
liệu cấu tạo đã được sử dụng rộng rãi cho các mục đích lâm sàng đã được quy định
và thiết lập mà tính tương thích sinh học đã được thiết lập.
3.9
Thành phần/linh kiện (component)
Chi tiết tạo thành một phần của trang
thiết bị y tế, nhưng bản thân nó không phải là trang thiết bị y tế.
3.10
Thành phần/cấu thành
(constituent)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 1: Các thành phần có thể tồn
tại một cách có chủ ý (ví dụ: chất phụ gia như chất chống oxy hóa) hoặc không chủ ý (ví dụ: tạp
chất hoặc chất phân hủy).
3.11
Nhà sáng chế (convertor)
Người hoặc công ty sáng chế hoặc chế tạo
ra một vật liệu thô cơ bản thành một bán thành phẩm (ví dụ: chiều dài của tay
đòn, ống hoặc các linh kiện bằng chất dẻo).
3.12
Phân hủy (digestion)
Quá trình hòa tan hoàn toàn một trang
thiết bị y tế, một hoặc nhiều thành phần của trang thiết bị y tế hoặc một hoặc
nhiều vật liệu cấu tạo của trang thiết bị y tế bằng cách chia nhỏ trang thiết bị
y tế thành các đơn vị cấu trúc cơ bản, bao gồm các thành phần nguyên tố hoặc
đơn vị đơn lượng của trang thiết bị y tế.
3.13
Hòa tan (dissolution)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.14
Chiết quá mức (exaggerated
extraction)
Quá trình chiết tạo ra một lượng các
thành phần hóa học được
thôi ra so với lượng được tạo ra trong các điều kiện sử dụng lâm sàng.
CHÚ THÍCH 1: Điều quan trọng là phải đảm
bảo việc chiết quá mức không dẫn đến sự thay đổi hóa học của vật liệu hoặc các
chất được chiết.
3.15
Chiết kỹ (exhaustive
extraction)
Tiến hành chiết nhiều bước cho đến khi
lượng vật liệu được chiết trong bước chiết tiếp theo nhỏ hơn 10 % bằng phân
tích trọng lượng (hoặc đạt được bằng các phương pháp khác) của lượng vật liệu
được xác định trong bước chiết ban đầu.
3.16
Chất chiết (extractable)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.17
Công suất chiết (extraction
power)
Khả năng của một môi trường chiết để
chiết (hoặc ngâm chiết) các chất từ trang thiết bị y tế, thành phần hoặc vật liệu
cấu tạo.
CHÚ THÍCH 1: Công suất chiết của môi
trường chiết bị ảnh hưởng bởi các đặc tính hóa lý, bao gồm nhưng không giới hạn
ở độ phân cực,
pH và hằng số điện môi của môi trường chiết.
3.18
Môi trường chiết (extraction
vehicle)
Môi trường (dung dịch hoặc dung môi)
được sử dụng để chiết (hoặc ngâm chiết) vật phẩm thử nghiệm nhằm mục đích thiết
lập hồ sơ về chất chiết hoặc chất ngâm chiết của vật phẩm thử nghiệm.
CHÚ THÍCH 1: Ưu tiên các môi trường
chiết phải có tính phân tích nhanh.
CHÚ THÍCH 2: Đối với một số trang thiết
bị y tế (ví dụ: hệ thống truyền dịch) được dán nhãn để sử dụng với thuốc, môi
trường chiết thích hợp nhất có thể
là sản phẩm thuốc hoặc tá dược sản phẩm thuốc.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhận dạng (identification)
Quá trình gán cấu trúc phân tử và tên
hóa học cho hợp chất hữu cơ hoặc gán các nguyên tố cấu thành hoặc cấu trúc phân
tử khi thích hợp và tên hóa học cho hợp chất vô cơ.
3.20
Thu thập thông tin (information
gathering)
Quá trình thu thập thông tin hóa học
hiện có, bao gồm cả các kết quả thử nghiệm có sẵn, liên quan đến đặc trưng hóa
học.
3.21
Tạo thông tin (information
generation)
Quá trình tạo ra thông tin hóa học
thông qua thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.
3.22
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chất được thôi ra từ một trang thiết bị
y tế hoặc vật liệu trong quá trình sử dụng lâm sàng.
CHÚ THÍCH 1: Đối với nhiều trang thiết
bị y tế, nghiên cứu về chất ngâm chiết là không thực tế do những thách thức
trong việc tái tạo các điều kiện lâm sàng thực tế, vì vậy các nghiên cứu chiết
sử dụng mô phỏng thường được thực hiện để thay thế. Xem định nghĩa đối
với chiết sử dụng mô phỏng.
3.23
Nhà sản xuất (manufacturer)
Người hoặc đại diện hợp pháp có trách
nhiệm sản xuất hoặc tân trang hoàn chỉnh trang thiết bị y tế hoặc là người đặt
thiết kế, sản xuất hoặc tân trang hoàn chỉnh và lưu hành trang thiết bị y tế đó
với tên hoặc tên thương mại của mình.
3.24
Thành phần vật liệu (material
composition)
Danh sách các thành phần có trong vật
liệu (định tính) và số lượng của từng chất trong vật liệu (định lượng).
CHÚ THÍCH 1: Thành phần của vật liệu
thiết lập tình huống giả định trong đó tổng lượng của tất cả các chất có trong
trang thiết bị y tế được thôi ra trong quá trình sử dụng lâm sàng. Những lượng
này có thể được lấy trực tiếp từ thành phần đã biết; bằng thực nghiệm, chúng có
thể được rút ra từ quá trình phân hủy, hòa tan và trong nhiều trường hợp là các
nghiên cứu chiết kỹ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vật liệu cấu tạo (material of
construction)
Vật liệu thô riêng lẻ được sử dụng để
sản xuất một linh kiện.
VÍ DỤ: Nhựa polyme.
3.26
Cấu hình trang thiết bị y tế (medical
device configuration)
Danh sách các thành phần của trang thiết
bị y tế (định tính), bao gồm danh sách các vật liệu cấu tạo của thành phần đó
(định tính) và tỷ lệ của từng vật liệu trong mỗi thành phần (định lượng).
CHÚ THÍCH 1: Cấu hình thiết bị cũng phải
tính đến hình dạng và cách sắp xếp tương đối của các bộ phận trong trang thiết
bị y tế và đặc tính bề mặt (hình thái bề mặt và hóa học).
3.27
Người có khả năng bị ảnh hưởng (potentially
affected individual)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 1: Xem TCVN 7391-1
(ISO 10993-1) để phân loại theo bản chất của tiếp xúc với cơ thể.
3.28
Đánh giá chất lượng
(qualification)
Quá trình thiết lập một phương pháp
phân tích phù hợp với mục đích sử dụng của nó.
3.29
Phân tích định tính (qualitative
analysis)
Phương pháp phân tích ước tính nồng độ
của chất phân tích bằng cách sử dụng phản ứng từ chất thay thế (hoặc các chất)
được chọn mà không đề cập cụ thể hoặc xem xét các phản ứng tương đối của chất
phân tích và các chất thay thế.
3.30
Định lượng (quantification)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 1: Có thể có một số cấp độ
như thể hiện trong 3.31, 3.32 và 3.33.
3.31
Phân tích định lượng ước tính (estimated
quantitative analysis)
Phương pháp phân tích ước tính nồng độ
của chất phân tích bằng cách sử dụng phản ứng từ chất thay thế được chọn mà
không đề cập cụ thể hoặc xem xét các phản ứng tương đối của chất phân tích và
chất thay thế.
3.32
Phân tích bán định lượng
(semi-quantitative analysis)
Phương pháp phân tích cung cấp nồng độ
của chất phân tích bằng cách sử dụng phản ứng từ chất thay thế (hoặc các chất),
đặc biệt tính đến các phản ứng tương đối của chất phân tích và chất thay thế.
3.33
Phân tích định lượng
(quantitative analysis)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 1: Phân tích định lượng ước
tính thường kém chính xác hơn phân tích bán định lượng, mà phân tích bán định
lượng thường kém chính xác hơn phân tích định lượng.
3.34
Ngưỡng an toàn (safety
concern threshold)
SCT
Ngưỡng mà dưới ngưỡng này chất ngâm
chiết (hoặc chất chiết như một chất ngâm chiết) có liều lượng thấp đến mức gây
ra mối lo ngại về an toàn không đáng kể do các tác động độc hại gây ung thư và
không gây ung thư.
CHÚ THÍCH 1: Xem Tài liệu tham khảo
[27].
3.35
Chiết sử dụng mô phỏng
(simulated-use extraction)
Chiết bằng phương pháp mô phỏng việc sử
dụng lâm sàng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.36
Sự hòa tan (solubilisation)
Hành động hoặc quá trình sử dụng môi
trường để hòa tan một phần hoặc toàn bộ vật phẩm thử nghiệm.
CHÚ THÍCH 1: Rửa sạch, chiết, hòa tan và
phân hủy là các thể loại của quá trình hòa tan (tăng dần theo mức độ hoàn thiện).
3.37
Người đảm trách (sponsor)
Cá nhân hoặc tổ chức lập kế hoạch, được
ủy quyền và chịu trách nhiệm thử nghiệm trang thiết bị y tế.
3.38
Nhà cung cấp (supplier)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.39
Ngưỡng quan tâm về độc tính (threshold
of toxicological concern)
TTC
Mức độ phơi nhiễm của các thành phần, dưới mức
đó sẽ không có rủi ro đáng kể đối với sức khỏe con người.
CHÚ THÍCH 1: Xem ISO/TS 21726 để biết
ngữ cảnh đầy đủ.
3.40
Đánh giá rủi ro độc tính
(toxicological risk assessment)
Hành động xác định khả năng gây ra tác
dụng phụ của hóa chất dựa trên mức độ phơi nhiễm quy định.
4 Ký hiệu và thuật
ngữ viết tắt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bảng 1- Các từ
viết tắt của phương pháp phân tích
Các từ viết
tắt
Phương pháp phân tích
2D PAGE
Two-dimensional polyacrylamide gel electrophoresis
Điện di trên gel polyacrylamide hai chiều
AES
Atomic emission spectroscopy
Quang phổ phát xạ nguyên tử
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Analytical evaluation threshold
Ngưỡng đánh giá phân tích
DMTA
Dynamic mechanical thermal analysis
Phân tích động học cơ nhiệt
DSC
Differential scanning calorimetry
Đo nhiệt lượng quét vi
sai
FID
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Detector ion hóa ngọn lửa
FTIR
Fourier transform infrared
spectroscopy
Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier
GC
Gas chromatography
Sắc ký khí
GPC/SEC
Gel permeation chromatography/size exclusion
chromatography
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
HPLC (hoặc
LC)
High performance liquid
chromatography (or liquid chromatography)
Sắc ký lỏng hiệu năng cao (hoặc sắc
ký lỏng)
HS
Headspace sampling
Lấy mẫu pha hơi (Headspace)
IC
Ion chromatography
Sắc ký ion
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Inductively coupled plasma
Plasma cặp cảm ứng
IR
Inductively coupled plasma
Quang phổ hồng ngoại
MSa
Mass spectrometry
Khối phổ
NMR
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
NVOC
Non-volatile organic compound
Hợp chất hữu cơ không bay hơi
NVR
Non-volatile residue
Cặn không bay hơi
SEM-EDS hoặc
SEM-EDX)
Scanning electron microscopy-energy dispersive
X-ray spectroscopy
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
SVOC
Semi-volatile organic compound
Hợp chất hữu cơ bán bay hơi
TOC
Total organic carbon
Tổng cacbon hữu cơ
UV
Ultraviolet spectroscopy
Phổ tử ngoại
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Volatile organic compound
Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
XPS
X-ray photoelectron spectroscopy
Quang phổ quang điện tử tia X
XRF
X-ray fluorescence
Huỳnh quang tia X
a Phép đo khối
phổ thường được kết hợp với các kỹ
thuật khác (đặc biệt là sắc ký) trong các phương pháp kết hợp như GC-MS,
LC-MS và MS-MS.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1 Yêu cầu
chung
Thông tin về đặc trưng hóa học, được
thu thập hoặc tạo ra và được bổ sung thêm thông tin hỗ trợ nếu thích hợp, có thể được sử
dụng cho nhiều loại ứng dụng quan trọng, ví dụ:
- hỗ trợ an toàn sinh học tổng thể của
trang thiết bị y tế (TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và TCVN 8023 (ISO 14971));
- hỗ trợ an toàn sinh học của trang
thiết bị y tế được tái xử lý;
- xác định lượng hóa chất có thể bị
ngâm chiết từ một trang thiết bị y tế trong các điều kiện sử dụng lâm sàng, để
hỗ trợ việc thực hiện đánh giá rủi ro độc tính (TCVN 7391-17 (ISO 10993-17));
- hỗ trợ sự tương đương của một trang
thiết bị y tế được đề xuất với một thiết bị đã được thiết lập lâm sàng, được sử
dụng cho cùng một loại phơi nhiễm lâm sàng, liên quan đến cấu hình của thiết bị
hoặc các hồ sơ chất chiết/ngâm chiết của thiết bị và các đánh giá liên quan sau
đó;
- hỗ trợ tính tương đương của trang
thiết bị y tế đã được thiết lập lâm sàng, được sử dụng cho cùng một loại phơi
nhiễm lâm sàng, sau những thay đổi trong quá trình sản xuất, (bao gồm nhưng
không giới hạn, đối với những thay đổi trong quá trình tiệt khuẩn), địa điểm sản
xuất, nhà cung cấp vật liệu hoặc thành phần, v.v...
- hỗ trợ sự tương đương của vật liệu cấu
tạo được đề xuất với vật liệu cấu tạo đã được thiết lập lâm sàng liên quan đến
thành phần của vật liệu hoặc hồ sơ chiết của vật liệu và các đánh giá liên quan
sau đó;
- hỗ trợ sự tương đương của trang thiết
bị y tế thành phẩm với thiết bị nguyên mẫu liên quan đến việc sử dụng dữ liệu
được bảo mật trên nguyên mẫu để hỗ trợ đánh giá thiết bị thành phẩm, đặc biệt
xem xét thông tin liên quan như thành phần, cấu hình thiết bị và hồ sơ chất chiết
nhận được đối với thiết bị hoặc vật liệu cấu tạo của thiết bị; hoặc
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặc dù vậy, những ứng dụng quan trọng
này, chỉ đặc trưng hóa học có thể không đủ để thiết lập tính tương đương hoặc tương
thích của vật liệu và trang thiết bị y tế, và không thể đơn phương thay thế cho
thử nghiệm sinh học. Tuy nhiên, việc đặc trưng hóa học kết hợp với đánh giá rủi
ro có thể là một phần cần thiết để đánh giá sự tương đương hóa học và đánh giá
tính tương thích sinh học, và nếu được tiến hành thích hợp có thể được sử dụng
thay cho một số thử nghiệm sinh học nhất định.
Đặc trưng hóa học của trang thiết bị y
tế cung cấp thông tin đầu vào cần thiết cho việc đánh giá sinh học và đánh giá
rủi ro độc tính của thiết bị (xem TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và TCVN 7391-17 (ISO
10993-17)). Sơ đồ quy trình mô tả quá trình đặc trưng hóa học chung được đưa ra
trong Hình 1. Sơ đồ này thể hiện phần đặc trưng hóa học của quá trình đánh giá
sinh học tổng thể như được thảo luận trong TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và được
dùng để minh họa quá trình đặc trưng được mô tả trong điều này. Sơ đồ chung này
được bổ sung với các sơ đồ bổ sung (xem Hình 2 đến Hình 4) cung cấp chi tiết
hơn cho các bước cụ thể trong quá trình chung.
Các yêu cầu và hướng dẫn cho từng bước
của quá trình đặc trưng hóa học được quy định trong 5.2 đến 5.10.
Khi được quy định trong sơ đồ áp dụng, các cá nhân có kiến thức và kinh nghiệm phải
tổng hợp thông tin hiện có liên quan đến đặc trưng hóa học (thu thập thông tin)
và đánh giá tính đầy
đủ của thông tin đó làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro độc tính của vật liệu/trang
thiết bị y tế. Nếu thông tin hiện có không đủ để hoàn thành đánh giá, thông tin
bổ sung sẽ được thu thập hoặc tạo ra bằng cách thử nghiệm (tạo thông tin) để
cho phép đánh giá rủi ro độc tính.
Quy trình này cần xem xét từng vật liệu
tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp sử dụng trong cấu tạo trang thiết bị y tế ngoài
yêu cầu về đặc trưng hóa học của trang thiết bị y tế thành phẩm. Vì bản chất hóa
học của một trang thiết bị y tế có thể bị ảnh hưởng bởi quá trình xử lý trong cấu
tạo trang thiết bị y tế (ví dụ: tiệt khuẩn), ảnh hưởng của quá trình xử lý này
đối với thiết bị phải được tính đến khi thiết kế và giải thích đặc trưng hóa học.
Tại mỗi bước của quy trình đặc trưng,
sự đầy đủ của dữ liệu có sẵn làm cơ sở để thực hiện đánh giá rủi ro phải được
thiết lập. Dữ liệu có sẵn có thể được coi là đầy đủ nếu phản ánh hoặc vượt quá
các điều kiện sử dụng lâm sàng và việc đánh giá rủi ro dựa trên dữ liệu có sẵn
có thể được hoàn thành. Những bất cập về dữ liệu có thể được giải quyết bằng
cách lấp đầy những khoảng trống trong dữ liệu đó (ví dụ: tổng quan tài liệu)
và/hoặc bổ sung dữ liệu thông qua thử nghiệm phân tích.
Sơ đồ có các loại bước của quá trình
sau đây; bắt đầu/dừng, các điểm quyết định, thu thập/đánh giá thông tin và thử
nghiệm phân tích. Mỗi loại bước được biểu diễn bằng một hình dạng hình học. Các
bước bắt đầu/dừng được nhận dạng là hình bầu dục, bước quyết định được nhận dạng
là hình thoi, bước thu thập/đánh giá thông tin được biểu thị dưới dạng hình
bình hành và bước liên quan đến thử nghiệm phân tích được biểu thị dưới dạng
hình chữ nhật.
Các bước và hành động được xác định
trong 5.4.2, 5.7 và 5.9 là một phần của quá trình đánh giá rủi ro và thể hiện
các điểm mà tại đó thông tin hóa học được cung cấp để đánh giá. Như vậy,
chúng hầu hết nằm ngoài phạm vi đặc trưng hóa học, là trọng tâm của tiêu chuẩn
này. Các bước này để chỉ ra mối liên hệ quan trọng giữa việc đặc trưng hóa học
và đánh giá rủi ro (xem TCVN 7391-1 (ISO 10993-1), TCVN 7391-17 (ISO 10993-17)
và TCVN 8023 (ISO 14971)).

CHÚ THÍCH: Sơ đồ có thể được nhập vào
và thoát ra tại nhiều điểm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 2 - Quá
trình định dạng thành phần
Quy trình đặc trưng và hệ thống sơ đồ
liên quan dựa trên các nguyên tắc trong TCVN 7391-1 (ISO 10993-1); cụ thể là
quá trình đánh giá sinh học và đánh giá rủi ro độc tính là hiệu quả và hiệu quả
nhất nếu dựa trên lượng thông tin hóa học cần thiết và có thể chấp nhận được
phù hợp (tối thiểu) để có thể thiết lập một trang thiết bị y tế có rủi ro đối với
sức khỏe có thể chấp nhận được. Do đó, bước đầu tiên của quy trình là thiết lập
cấu hình của trang thiết bị y tế và thành phần vật liệu cấu tạo của thiết bị để
có thể so sánh với thiết bị đã được thiết lập lâm sàng hoặc được đánh giá dựa
trên giả thuyết thôi ra hóa chất trong trường hợp xấu nhất (nghĩa
là: “tất cả đều xuất hiện”). Đánh giá này phải bao gồm các chất gây ô nhiễm tiềm
ẩn, chất phân hủy, chất hỗ trợ và phụ gia chế biến có thể được đưa vào trong
quá trình sản xuất. Nếu việc đánh giá dựa trên giả thuyết về sự thôi ra hóa chất
trong trường hợp xấu nhất dẫn đến kết luận có một rủi ro có thể chấp nhận được,
thì quá trình này có thể được hoàn thành với việc thu thập hoặc tạo ra một lượng
thông tin tối thiểu. Mặt khác, nếu không thể đưa ra kết luận về rủi ro cho sức
khỏe có thể chấp nhận được, thì dữ liệu bổ sung phải được thu thập, theo quy
trình từng bước từ xác định và đánh giá việc thôi ra hóa chất trong trường hợp
xấu nhất giả định của trang thiết bị y tế đến thôi ra hóa chất thực tế trong điều
kiện sử dụng lâm sàng. Trong bất kỳ và mọi trường hợp, thông tin thu thập được
phải phản ánh (hoặc vượt quá) và được đánh giá tùy theo điều kiện sử dụng lâm sàng.
Khi sử dụng sơ đồ, không phải lúc nào
cũng cần hoàn thành tất cả các bước trong toàn bộ trình tự; do đó, hệ thống sơ
đồ có nhiều điểm thoát ra. Ví dụ: nếu một người có thể chứng minh việc phơi nhiễm
giả định với tất cả các thành phần hóa học của một trang thiết bị y tế gây ra rủi
ro cho sức khỏe có thể chấp nhận được, thì không cần thử nghiệm hóa học bổ
sung, việc đặc trưng đã hoàn thành và các sơ đồ được thoát ra và tiếp tục đánh
giá sinh học theo TCVN 7391-1 (ISO 10993-1).
Ngoài nhiều điểm thoát ra có thể có, hệ
thống sơ đồ cũng có nhiều điểm nhập vào. Mặc dù các hành động đầu tiên được thực
hiện trong sơ đồ có thể tạo điều kiện cho các hành động sau đó trong sơ đồ,
nhưng chúng không nhất thiết phải là điều kiện tiên quyết cho những hành động
tiếp theo. Ví dụ: mặc dù việc biết cấu hình của thiết bị và thành phần vật liệu
(bao gồm cả các tạp chất tiềm ẩn)
có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập hồ sơ chất ngâm chiết của thiết
bị, hồ sơ chất ngâm chiết có thể được mô tả mà không cần thông tin cấu hình và
thành phần. Do đó, nếu một người đảm trách có lý do để tin việc đánh giá chất
ngâm chiết sẽ là cần thiết hoặc phù hợp nhất (ví dụ: đối với một số trang thiết
bị y tế tiếp xúc gián tiếp) để thiết lập chính xác và hoàn toàn rủi ro độc tính
của trang thiết bị y tế, thì không cần tiến hành các nghiên cứu hồ sơ thành phần
và chất chiết. Tương tự như vậy, kiến thức có sẵn về thành phần của trang thiết
bị y tế có thể làm rõ một nghiên cứu về chất chiết có khả năng tạo ra chất chiết
được trên ngưỡng chấp nhận được; trong trường hợp này, có thể phù hợp để bỏ qua
nghiên cứu về các chất chiết và tiến hành trực tiếp đến nghiên cứu về chất ngâm
chiết.
Phương pháp tiếp cận nhiều lần nhập
vào và thoát ra này là phù hợp và hợp lý vì hệ thống sơ đồ được xây dựng sao
cho mỗi bước tiếp theo tiến gần hơn đến việc thiết lập mức độ phơi nhiễm thực tế
trên lâm sàng với chất ngâm chiết và do đó tiến gần hơn đến việc xác lập rủi ro
thực tế. Nhập vào quá trình ở điểm trung gian vẫn có thể đảm bảo ước tính chính
xác nhất về mức phơi nhiễm được tạo ra để đánh giá rủi ro độc tính. Phải chứng minh
nếu sử dụng một mục nhập vào thay thế cho sơ đồ (nghĩa là khác với "bắt đầu
từ đầu").
Hướng dẫn chung bổ sung về đặc trưng
hóa học được cung cấp trong Phụ lục A.
5.2 Thiết lập
cấu hình trang thiết bị y tế và thành phần vật liệu
5.2.1 Yêu cầu
chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trang thiết bị y tế phải được mô tả và
cấu hình, mục đích dự kiến và việc sử dụng trang thiết bị y tế trong lâm sàng
phải được lập thành văn bản. Điều này phải bao gồm các vật liệu cấu tạo trang thiết
bị y tế riêng biệt, tỷ lệ của các vật liệu đó (ví dụ theo diện tích bề mặt hoặc
trọng lượng) trong thiết bị và cấu trúc vật lý của nó (bao gồm các đặc tính bề
mặt như hình thái bề mặt và hóa học, nếu có). Việc cung cấp sự phân bổ hình học của
các vật liệu bên trong trang thiết bị y tế (nghĩa là trang thiết bị y tế) là
phù hợp vì mô tả cấu trúc thiết lập bản chất của sự tiếp xúc, nếu có, giữa các
vật liệu cấu tạo riêng biệt và người có khả năng bị ảnh hưởng.
Khi cấu hình trang thiết bị y tế đã được
thiết lập, mỗi vật liệu cấu tạo tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp phải được mô
tả về mặt cấu tạo và thiết lập tương tác dự kiến của nó với các mô và chất lỏng
của cơ thể. Cần có bản mô tả định tính, được lập thành văn bản về thành phần đã
biết của từng loại vật liệu cấu tạo và các chất phụ gia đã biết cũng như dư lượng chế
biến từ các hoạt động sản xuất. Hướng dẫn bổ sung về việc chuẩn bị mô tả định
tính có thể được nêu trong TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và Phụ lục B. Số lượng chi
tiết trong dữ liệu thành phần định tính và/hoặc định lượng được cung cấp/yêu cầu
(ví dụ: mức phụ gia và dư lượng trong vật liệu) phải phản ánh rủi ro an toàn tiềm
ẩn liên quan đến trang thiết bị y tế và vật liệu của nó (xem TCVN 7391-1:2023
(ISO 10993-1:2018, 6.1). Ví dụ: thiết bị tiếp xúc lâu dài cần chi tiết hơn thiết
bị tiếp xúc hạn chế và thiết bị cấy ghép cần thiết bị bề mặt chi tiết hơn. Số lượng
và chi tiết trong dữ liệu tổng hợp được cung cấp phải được chứng minh. Ảnh hưởng
của quá trình xử lý (bao gồm cả tiệt khuẩn) vật liệu và trang thiết bị y tế phải
được xem xét.
Mô tả định tính của mỗi vật liệu phải
bao gồm các chi tiết về tên thương mại hoặc số hiệu quy định kỹ thuật, tên nhà
cung cấp và quy định kỹ thuật vật liệu (ví dụ: công bố công thức, chứng chỉ phân
tích, bảng dữ liệu kỹ thuật, bảng dữ liệu an toàn) ở mức độ mà thông tin đó có
thể được bảo mật và có liên quan. Việc sử dụng vật liệu được tiêu chuẩn hóa, ví
dụ: Bộ TCVN 6795 (ISO 5832), theo mục đích sử dụng được coi là đáp ứng yêu cầu
này.
5.2.2 Thu thập
thông tin
Các nhà sản xuất trang thiết bị y tế
nên ưu tiên lấy thông tin thành phần định tính và định lượng về vật liệu từ nhà
cung cấp vật liệu ban đầu. Thông tin định tính về các phụ gia chế biến bổ sung,
ví dụ: chất tháo khuôn, cũng cần được thu thập từ các thành viên thích hợp của
chuỗi sản xuất, bao gồm cả nhà sáng chế và nhà cung cấp linh kiện. Trong trường
hợp không có đủ thông tin về nhà cung cấp, thông tin đó phải được thu thập bằng
cách thử nghiệm hóa học (ví dụ: thử nghiệm thành phần, chất chiết hoặc chất
ngâm chiết). Thông tin thu được có thể đủ để nhận dạng tất cả các nguy cơ sinh
học phát sinh từ các thành phần hóa học của vật liệu để đưa vào đánh giá rủi ro độc
tính (xem TCVN 7391-1 (ISO 10993-1)). Thông tin về việc liệu có bất kỳ thành phần
nào từ nhóm quan tâm (xem E.6) có khả năng xuất hiện hay không là quan trọng nếu
có thể lập kế hoạch thử nghiệm các chất chiết với phương pháp tiếp cận TTC (xem
ISO/TS 21726).
Đánh giá sinh học xem xét dữ liệu từ một
số bộ dữ liệu cùng với những bộ dữ liệu thu được từ đặc trưng hóa học. Do đó,
việc không thể có được thông tin như vậy từ các nhà cung cấp chưa hẳn đã là cản
trở cho việc đánh giá sinh học. Tuy nhiên, khi một nguy cơ độc tính đã được nhận
dạng, các khoảng trống thông tin có thể ngăn cản việc đánh giá rủi ro độc tính
phải được lấp đầy hoặc giải quyết theo cách khác.
Thành phần của vật liệu được sử dụng
trong trang thiết bị y tế phải được lập thành văn bản phù hợp với các tiêu chuẩn vật
liệu có thể áp dụng hoặc do nhà sản xuất trang thiết bị y tế quy định.
CHÚ THÍCH: Nhà cung cấp có thể là nguồn
thông tin hữu ích
về thành phần vật liệu thích hợp. Trong trường hợp không có các dữ liệu thành phần
ban đầu, nên nghiên cứu tài liệu để thiết lập bản chất có thể có của vật liệu
ban đầu và các chất phụ gia.
5.2.3 Tạo thông
tin
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH: Như đã nêu trong 6.1 của
TCVN 7391-1:2023 (ISO 10993-1:2018) “Mức độ yêu cầu của đặc trưng vật lý và/hoặc
hóa học phụ thuộc vào những gì đã biết về công thức vật liệu, dữ liệu về độc
tính và an toàn phi lâm sàng và lâm sàng tồn tại, cũng như bản chất và thời
gian tiếp xúc của cơ thể với trang thiết bị y tế. Ở mức tối thiểu,
đặc trưng phải đề cập đến các hóa chất cấu thành của trang thiết bị y tế và các chất
hỗ trợ hoặc phụ gia chế biến có thể còn dư lại được sử dụng trong quá trình sản
xuất thiết bị đó”.
5.3 Đánh giá
sự tương đương vật liệu/hóa học với vật liệu hoặc trang thiết bị y tế đã được
thiết lập lâm sàng
Khi được quy định trong sơ đồ, thông
tin tổng hợp trong 5.2 phải được sử dụng để so sánh trang thiết bị y tế đang được
xem xét với thiết bị khác đã được thiết lập lâm sàng. Cụ thể, thông tin được sử
dụng để xác định xem trang thiết bị y tế được xem xét có tương đương, về cấu
hình, thành phần, sản xuất, chế biến và mục đích sử dụng, với trang thiết bị y
tế đã được thiết lập lâm sàng hay không. Phụ lục C và TCVN 7391-1 (ISO 10993-1)
trình bày các nguyên tắc đánh giá sự tương đương.
Trong một số trường hợp (ví dụ: thay đổi
nhà cung cấp vật liệu cho một thành phần), có thể đủ để chứng minh sự tương
đương của vật liệu. Phải thu thập đủ thông tin định tính và định lượng để xác định
liệu một vật liệu đang được xem xét có tương đương, về thành phần (bao gồm cả tạp
chất), các đặc tính vật lý và hóa học, quá trình chế biến và sử dụng, với một vật
liệu đã được thiết lập lâm sàng hay không. Nếu một thiết bị hoặc vật liệu được
xác định là tương đương với thiết bị hoặc vật liệu đã được thiết lập lâm sàng
thì xác định đó phải được chứng minh và lập thành văn bản.
Khi một trang thiết bị y tế tương
đương đã được thiết lập lâm sàng có thể được nhận dạng và chứng minh cho thiết
bị đang được xem xét, thì quá trình đặc
trưng hóa học phải được coi là đã hoàn thành. Khi trang thiết bị y tế tương
đương đã được thiết lập lâm sàng không thể được thiết lập và chứng minh, thì
các hệ số khác của đánh giá sinh học phù hợp với TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) phải
được xem xét, bao gồm cả đặc trưng hóa học bổ sung, như được thiết lập bằng các
bước bổ sung trong hệ thống sơ đồ.
Sự tương đương của vật liệu có thể dựa
trên thành phần vật liệu hoặc dữ liệu hồ sơ chất chiết so với vật liệu đã được
thiết lập lâm sàng, với điều kiện là các phương pháp phân tích được sử dụng để
tạo ra dữ liệu là hợp lý.
Các đặc tính vật lý, hóa học, hình
thái cấu trúc và hình thái bề mặt (xem ISO/TS 10993-19 và ISO/TR 10993-22 nếu
có) cần được coi là phù hợp khi xác định sự tương đương của vật liệu.
5.4 Đánh giá
sự thôi ra hóa chất trong trường hợp xấu nhất giả định dựa trên tổng mức phơi
nhiễm với các thành phần hóa học của trang thiết bị y tế
5.4.1 Thiết lập giả
thuyết thôi ra hóa chất trong trường hợp xấu nhất
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.4.2 Đánh giá sự
thôi ra hóa chất trong trường hợp xấu nhất giả định
Tác động đến sức khỏe của các thành phần
hóa học riêng biệt của trang thiết bị y tế được đánh giá bằng cách cung cấp sự
thôi ra hóa chất trong trường hợp xấu nhất giả định, được thiết lập trong 5.4.1
cho người đánh giá rủi ro để thiết lập tác động bất lợi tiềm ẩn mà các thành phần
hóa học có thể có đối với sức khỏe của người có khả năng bị ảnh hưởng theo TCVN
7391-1 (ISO 10993-1) và TCVN 7391-17 (ISO 10993-17).
Khi việc tiếp xúc với toàn bộ thành phần
của trang thiết bị y tế có thể được coi
là có thể chấp nhận được (ví dụ bằng cách so sánh mức độ phơi nhiễm với ngưỡng
an toàn được thiết lập trong 5.5), thì quá trình đặc trưng hóa học phải được
coi là đã hoàn thành. Đánh giá sinh học sau đó có thể được hoàn thành theo TCVN
7391-1 (ISO 10993-1). Khi việc phơi nhiễm với toàn bộ thành phần của trang thiết
bị y tế là không thể
chấp nhận được, thì quá trình đặc trưng hóa học có thể được tiếp tục bằng cách
chuyển sang bước tiếp theo (xem 5.5, 5.6 và Hình 3). Ngoài ra, có thể thích hợp
quay lại TCVN 7391-1:2023 (ISO 10993-1:2018) để tiếp tục đánh giá điểm cuối
sinh học, nếu thông tin về đặc trưng không có khả năng cung cấp thêm lợi ích.
CHÚ THÍCH 1: Trong một số trường hợp,
định dạng thành phần lý thuyết có thể không đủ (ví dụ: nếu có khả năng xảy ra
các sản phẩm phân hủy và các chất nhiễm bẩn không mong muốn trong quá trình sản
xuất).
CHÚ THÍCH 2: Có thể đánh giá tính an
toàn sinh học của các thiết bị có mức độ phơi nhiễm rủi ro thấp (ví dụ: da lành
lặn) dựa trên thông tin định tính về thành phần vật liệu, nếu thiết bị được
làm bằng vật liệu được sử dụng phạm vi rộng rãi, có lịch sử sử dụng nhiều trong
lâm sàng và được sản xuất bằng các phương pháp giống nhau (ví dụ: thép không gỉ
cấp cấy ghép ISO và xử lý thụ động hóa thông thường và sau khi thụ động hóa).
Trong những trường hợp này, phân tích hóa học và đánh giá rủi ro độc tính có thể
không cần thiết.
5.5 Thiết lập
ngưỡng đánh giá phân tích
Một AET phải được xác định và chứng minh (xem Phụ
lục E). AET tốt nhất nên được lấy từ một ngưỡng dựa trên an toàn (chẳng hạn như
TTC) nhưng nếu điều này không thể đạt được trên thực tế, một ngưỡng phân tích,
chẳng hạn như Giới hạn Định lượng (LOQ) có thể được sử dụng làm ngưỡng báo cáo.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa AET và LOQ sẽ được xem xét trong đánh giá rủi ro độc
tính và sự khác biệt phải được chứng minh.

Hình 3 - Quá
trình định dạng chất chiết
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một nghiên cứu chiết có thể được thực
hiện để nhận dạng và định lượng các chất chiết để đánh giá rủi ro độc tính theo
TCVN 7391-17 (ISO 10993-17). Trong một số trường hợp (ví dụ: với quá trình chiết
kỹ), thông tin về động học thôi ra của các hóa chất chiết được có thể hữu ích.
Các điều kiện chiết được sử dụng; Việc sử dụng chiết kỹ, quá mức hoặc mô phỏng
phải được lập thành văn bản và chứng minh. Phụ lục D cung cấp hướng dẫn về
nguyên tắc chiết.
Bản chất của việc sử dụng đối với một
số trang thiết bị y tế (ví dụ: thiết bị tiếp xúc gián tiếp như túi truyền nước
muối) có thể ngăn cản nhu cầu thử nghiệm chất chiết, vì các điều kiện sử dụng liên
quan đến việc con người phơi nhiễm tối đa với chất ngâm chiết có thể được lặp lại
và các dung dịch sử dụng trong lâm sàng có thể được đã phân tích một cách đơn
giản. Trong những trường hợp như vậy, thử nghiệm chất chiết có thể được thay thế
một cách hợp lý bằng thử nghiệm chất ngâm chiết.
CHÚ THÍCH 1: Trong một số trường hợp,
các chất chiết có thể được dự báo thông qua các phương pháp tính toán và khoa học
hợp lý, cũng như được xác định theo kinh nghiệm.
CHÚ THÍCH 2: Như đã nêu trong TCVN
7391-1 (ISO 10993-1), thử nghiệm sinh học hoặc thử nghiệm phân tích bổ sung có
thể được sử dụng để giảm thiểu các mối liên quan tiềm ẩn do đặc trưng hóa học đặt
ra.
Việc thiết kế nghiên cứu chiết cần
tính đến bản chất của sự tiếp xúc (của thiết bị) với người dùng có khả năng bị ảnh
hưởng; cũng có thể cần phải xem xét ảnh hưởng của (hoặc tương tác với) các chất
khác như thuốc trong thiết bị truyền dịch.
Mục tiêu chính của quá trình chiết là
tạo ra hồ sơ chất chiết ít nhất là toàn diện như hồ sơ chất ngâm chiết của thiết
bị, có nghĩa là hồ sơ chất chiết bao gồm tất cả các chất ngâm chiết dưới dạng
chất chiết và nồng độ của chất chiết ít nhất cũng lớn bằng nồng độ của chất
ngâm chiết. Hồ sơ của các chất chiết được đánh giá quá cao so với hồ sơ của chất
ngâm chiết, cụ thể bằng cách đánh giá quá cao nồng độ của chất chiết so với nồng
độ của chất ngâm chiết, cung cấp thêm một biên độ cho sự không đảm bảo trong
đánh giá rủi ro độc tính và có thể thích hợp trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên,
phải cẩn thận để hạn chế mức độ đánh giá quá cao, vì các điều kiện chiết quá
tích cực có thể dẫn đến hồ sơ của các
chất chiết bị thay đổi.
Trong nhiều trường hợp, các điều kiện
chiết được khuyến nghị trong Bảng 2 sẽ cung cấp một đánh giá quá cao thích hợp. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp nhất định, việc đánh giá quá cao các điều kiện
chiết kỹ được khuyến nghị sẽ là quá mức và do đó các trường hợp chiết được khuyến
nghị là không thích hợp. Đối với tất cả các phân loại thiết bị, các điều kiện
chiết đáng tin cậy thay thế có thể được xem xét và sử dụng nếu thấy thích hợp.
Việc sử dụng các điều kiện chiết thay thế phải được lập thành văn bản và chứng
minh. Việc chiết được thực hiện cho các mục đích cụ thể khác ngoài việc nhận dạng
và định lượng các chất chiết (ví dụ: xác định động học thôi ra) có thể được tiến
hành bằng cách sử dụng các điều kiện chiết khác.
Bảng 2 - Các
điều kiện chiết được khuyến nghị
Loại tiếp
xúc
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các giải
pháp thay thế đáng tin cậy
Thiết bị tiếp xúc giới
hạn
Điều kiện sử dụng được mô phỏnga
Điều kiện chiết quá mức
Thiết bị tiếp xúc
kéo dài
Điều kiện chiết kỹ
Điều kiện chiết quá mứcb,c
Thiết bị tiếp xúc
lâu dài
Điều kiện chiết kỹ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a Lưu ý một số cơ
quan có thẩm quyền
(ví dụ: FDA Hoa Kỳ) có thể yêu cầu chiết quá mức, trừ khi có lý do khác.
b Ví dụ về
các trường hợp mà thông thường sẽ không yêu cầu chiết kỹ bao gồm:
- thiết bị sử dụng một lần được sử dụng
trong thời gian ít hơn 24 h, trong đó việc sử dụng lặp lại một thiết bị mới mỗi
ngày sẽ dẫn đến việc được phân loại là tiếp xúc kéo dài hoặc lâu dài;
- các thiết bị sử dụng một lần được
sử dụng trong vài ngày, trong đó việc sử dụng lặp lại các thiết bị mới sẽ dẫn
đến việc được phân loại là tiếp xúc kéo dài hoặc lâu dài;
- các thiết bị có thể tái sử dụng,
trong đó bệnh nhân có thể phơi nhiễm với việc sử dụng nhiều lần cùng một thiết
bị, dẫn đến được phân loại là tiếp xúc kéo dài hoặc lâu dài; khi chiết quá mức
được sử dụng cho một thiết bị có thể tái sử dụng, việc chiết phải tính đến thời
gian sử dụng của từng cá nhân.
c Các điều kiện
chiết quá mức có thể thích hợp cho các thiết bị tiếp xúc bề mặt giao tiếp bên
ngoài hoặc không hấp thụ, với sự chứng minh.
d Ví dụ: một
thiết bị được làm hoàn toàn bằng kim loại không không có khả năng hấp thụ (ví dụ: khung
giá đỡ (stent) mạch máu), vì không thể di chuyển các thành phần từ bên trong
vật liệu và các thành phần quan tâm chỉ liên quan đến bề mặt và chiết quá mức
có thể đủ để tạo một hồ sơ chất chiết hoàn chỉnh.
Xem xét việc lặp lại các phần chiết, lặp
lại một lần chiết duy nhất cho mỗi môi trường phải đủ trong những trường hợp có
thể thiết lập sự thay đổi trong thành phần của vật phẩm thử nghiệm và/hoặc sự
thay đổi trong quá trình chiết là thấp, chứng tỏ việc chiết đơn lẻ là đại diện
thích hợp cho vật phẩm thử nghiệm và quá trình chiết. Trong trường hợp thông
tin khác (ví dụ: thử nghiệm kỹ thuật) cho thấy sự biến thiên cao hơn trong hoặc
trên các đơn vị hoặc lô vật phẩm thử nghiệm hoặc vốn có đối với quá trình chiết,
có thể cần phải chiết nhiều lần (ví dụ: hai hoặc ba lần). Nhiều phép chiết cũng
nên được thực hiện trong những trường hợp mà vật phẩm thử nghiệm và/hoặc sự biến
thiên của phép chiết không được biết. Bất kể số lần chiết lặp lại được thực hiện
là bao nhiêu, số lần chiết được tạo ra phải hợp lý.
CHÚ THÍCH: Nhiều lần chiết (ví dụ ba lần)
trên mỗi dung môi có thể quan trọng đối với:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Các thiết bị có tiêu chuẩn cụ thể hiện
hành hoặc hướng dẫn cụ thể cho thiết bị
yêu cầu nhiều lần chiết.
Các dịch chiết phải được phân tích bằng
các phương pháp nhạy cảm và chọn lọc nhằm sàng lọc các dịch chiết để tìm các chất
chiết, và các chất chiết được phát hiện trên ngưỡng đánh giá phân tích, AET
(5.5 và Phụ lục E), phải được nhận dạng và định lượng. Độ phân giải sắc ký
thích hợp là một ví dụ về cách chứng minh độ chọn lọc thích hợp. Các phương
pháp phân tích phải được lựa chọn và kết quả phân tích được báo cáo phù hợp với
AET. Bảng 4 thiết lập các phương pháp phân tích có thể áp dụng chung cho các
nghiên cứu về chất chiết.
Quá trình phân tích nên được lặp lại bằng
cách thử nghiệm nhiều phần của dịch chiết, để tính đến sự khác biệt trong phân
tích. Mặc dù khuyến nghị sử dụng ba lần, nhưng một số lượng nhỏ các lần lặp lại
có thể thực tế hơn, nếu hợp lý.
Thông tin từ nghiên cứu này sẽ được sử
dụng để xác định rủi ro liên quan đến việc thôi ra hóa chất ước tính. Nếu đánh
giá rủi ro độc tính xác định một hóa chất hoặc các hóa chất có thể là rủi ro
đối với người có khả năng bị ảnh
hưởng bằng cách sử dụng dữ liệu chất chiết, thì việc chiết có liên quan về
mặt lâm sàng có thể được thực hiện để ước tính chính xác hơn lượng hóa chất hoặc
các hóa chất thôi ra từ trang thiết bị y tế trong sử dụng lâm sàng (xem 5.8).
Khi không thể chứng minh
cho việc chiết phù hợp hơn về mặt lâm sàng, các phương án giảm thiểu rủi ro
khác có thể bao gồm phân tích mục tiêu, thử nghiệm sinh học, giảm lượng hóa chất
trong thiết bị và trong một số trường hợp, ghi nhãn như mô tả trong TCVN 8023
(ISO 14971), TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và TCVN 7391-17 (ISO 10993 -17).
5.7 Đánh giá
sự thôi ra hóa chất ước tính (hồ sơ chất chiết)
Kết quả của nghiên cứu chiết phải được
báo cáo để có thể đánh giá các rủi ro liên quan đến từng chất chiết được nhận dạng
theo TCVN 7391-17 (ISO 10993-17), TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và TCVN 8023 (ISO
14971).
5.8 Xác định
sự thôi ra hóa chất thực tế; thực hiện nghiên cứu ngâm chiết
Khi lượng chất chiết được thôi ra khỏi
trang thiết bị y tế có thể gây ra
nguy cơ tiềm ẩn về an toàn dựa trên sự thôi ra lâm sàng ước tính của chất chiết,
thì một ước tính chính xác hơn về mức độ phơi nhiễm thực tế và trường hợp thôi
ra hóa chất thực tế, hóa chất đó có thể được thiết lập bằng cách thực hiện đánh
giá chất ngâm chiết của thiết bị bằng cách sử dụng các điều kiện chiết thực tế
hoặc tăng tốc (ví dụ: sử dụng nhiệt độ cao) như được trình bày trong Hình 4. Nếu
một nghiên cứu về chất ngâm chiết được thực hiện vì các chất cần quan tâm đã được
nhận dạng trong một nghiên cứu về chất chiết, thì nghiên cứu mới nên tập trung
vào những chất cần quan tâm. Các chất chiết không có mối quan tâm tiềm ẩn về độc
tính theo lượng thôi ra lâm sàng ước tính đã được thiết lập là an toàn và đặc
trưng là không cần thiết. Khi dự đoán có thể có các chất ngâm chiết bổ sung
không được phát hiện là chất chiết, thì nghiên cứu chất ngâm chiết phải bao gồm
cả việc sàng lọc
các chất ngâm chiết bổ sung.
Ngoài ra, một người đảm trách có thể
quyết định thực hiện một nghiên cứu về chất ngâm chiết mà trước đó không phải
thực hiện các quá trình đặc trưng hóa học khác (ví dụ: định dạng chất chiết).
Ví dụ: có thể dễ dàng thực hiện nghiên cứu ngâm chiết với một môi trường tiếp
xúc có khả năng phân tích nhanh trong điều kiện sử dụng lâm sàng chính xác hoặc
tăng tốc (ví dụ: đối với một trang thiết bị y tế dùng để cung cấp chất lỏng).
Trong trường hợp như vậy, môi trường ngâm chiết phải được sàng lọc để tìm chất
ngâm chiết theo cách tương tự và với các yêu cầu tương tự đối với sàng lọc chất
chiết như đã thảo luận trong 5.6.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 4 - Quá
trình định dạng chất ngâm chiết
Các nghiên cứu về chất ngâm
chiết bao gồm hai hành động: tạo ra dịch ngâm chiết và thử nghiệm dịch ngâm chiết.
Ở giai đoạn này trong quá trình đánh giá hóa chất, các điều kiện ngâm chiết cần
được đẩy nhanh hoặc sử dụng thực tế trên lâm sàng. Trong cả hai trường hợp, các
điều kiện ngâm chiết được sử dụng để tạo ra dịch ngâm chiết phải được lập thành
văn bản và chứng minh.
Dịch ngâm chiết phải được phân tích bằng
các phương pháp nhạy cảm và chọn lọc, đồng thời định lượng mức độ mục tiêu hoặc
chất ngâm chiết đã sàng lọc. Bảng 4 liệt kê các phương pháp phân tích thường được
áp dụng để định lượng chất ngâm chiết.
Các phương pháp phân tích được sử dụng
để định lượng
chất ngâm chiết phải được đánh giá chất lượng cho mục đích đó (xem 6.5 và Phụ lục
F để biết thêm thông tin liên quan đến đánh giá chất lượng phương pháp). Xây dựng
mục tiêu các chất ngâm chiết và sử dụng các phương pháp phân tích được đánh giá
chất lượng để định lượng
chúng sẽ tạo ra một đánh giá chính xác hơn về mức độ phơi nhiễm của một người
có khả năng bị ảnh hưởng so với đánh giá thu được bằng cách sử dụng dữ liệu
sàng lọc có thể chiết được.
5.9 Đánh giá
sự thôi ra hóa chất thực tế (hồ sơ chất ngâm chiết)
Kết quả của các nghiên cứu về chất ngâm
chiết, bao gồm cả chất ngâm chiết được nhắm mục tiêu và chất ngâm chiết được
phát hiện qua sàng lọc ở các cấp trên AET, phải được báo cáo để có thể đánh giá
các rủi ro tiềm ẩn liên quan đến
từng thành phần được thôi ra theo TCVN 7391-17 (ISO 10993-17), TCVN 7391-1 (ISO
10993-1) và TCVN 8023 (ISO 14971).
5.10 Thoát
khỏi quá trình đặc trưng hóa học
Nếu đặc trưng hóa học hỗ trợ sự tương
đương, hoặc kết luận đánh giá rủi ro độc tính (theo TCVN 7391-17 (ISO
10993-17)) mà các thành phần, chất chiết hoặc chất ngâm chiết có rủi ro đối với
sức khỏe có thể chấp nhận được, thì quá trình đặc trưng hóa học đã được hoàn
thành và kết quả này có thể được sử dụng để hỗ trợ đánh giá sinh học theo TCVN
7391-1 (ISO 10993-1).
Nếu việc đặc trưng hóa học không hỗ trợ
cho kết luận đánh giá rủi ro độc tính (theo TCVN 7391-17 (ISO 10993-17)) mà các
thành phần, chất chiết hoặc nước ngâm chiết có rủi ro đối với sức khỏe có thể
chấp nhận được, thì quá trình đặc trưng hóa học đã được hoàn thành nhưng không
thể được sử dụng để hỗ trợ đánh giá sinh học. Sự cần thiết phải đánh giá thêm
(ví dụ: thử nghiệm sinh học) hoặc hoạt động giảm thiểu khác phải được đánh giá
theo TCVN 7391-1 (ISO 10993-1) và TCVN 7391-17 (ISO 10993-17).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.1 Yêu cầu
chung
Điều 5 mô tả việc tạo từng bước dữ liệu
đặc trưng hóa học định tính và định lượng để sử dụng trong đánh giá rủi ro. Các
thông số đặc trưng được sử dụng phải phù hợp với vật liệu hoặc trang thiết bị y
tế thành phẩm. Do sự đa dạng của các trang thiết bị y tế, thừa nhận không phải
tất cả các thông số được nhận dạng cho một vật liệu sẽ được yêu cầu cho tất cả/một
số mục đích sử dụng trang thiết bị y tế. Như đã đề cập trước đây, mức độ đặc
trưng cần thiết được xác định bởi mức độ xâm lấn và thời gian phơi nhiễm lâm
sàng theo mục đích sử dụng (xem 6.11 trong TCVN 7391-1:2023 (ISO 10993-1:2018).
Loại và số lượng dữ liệu mô tả phải nhất quán với tất cả các thông số được coi
là có liên quan để đánh giá rủi ro của trang thiết bị y tế và nên xem xét ứng dụng
lâm sàng.
Dữ liệu về đặc trưng hóa học có thể được
thu thập bằng cách thu thập thông tin từ thông tin nhà cung cấp hoặc xem xét
tài liệu, hoặc được tạo ra bằng cách tạo thông tin thông qua việc thử nghiệm
trang thiết bị y tế hoặc vật liệu trực tiếp ở trạng thái tự nhiên của nó (ví dụ:
phân tích IR của màng phim). Tuy nhiên, thông thường cần phải hòa tan toàn bộ
hoặc một phần mẫu thử trước khi phân tích. Loại và mức độ hòa tan được sử dụng
phải phù hợp với dự định và mục đích của thử nghiệm. Ví dụ: nếu mục đích là:
- tạo thông tin về thành phần của vật
liệu (ví dụ: phụ gia, dư lượng), sau đó quá trình hòa tan thích hợp có thể liên
quan đến việc hòa tan hoàn toàn hoặc chiết kỹ vật phẩm thử nghiệm;
- thiết lập sự có mặt của các tạp chất
nguyên tố trong vật liệu, sau đó việc phân hủy vật liệu có thể thích hợp;
- thiết lập hồ sơ các chất chiết của vật
phẩm thử nghiệm, sau đó việc hòa tan hoàn toàn là không phù hợp, và việc chiết
kỹ, quá mức, tăng tốc hoặc sử dụng mô phỏng là phù hợp.
Ngoài ra, các môi trường được sử dụng
để hòa tan cần được xem xét trong bối cảnh của các phương pháp được chọn để thử
nghiệm các dịch chiết đó, vì các môi trường đó phải tương thích với các phương
pháp thử nghiệm được sử dụng để phân tích các dịch chiết. Nếu các hạt hoặc kết
tủa nhìn thấy được xuất hiện trong quá trình chiết và không được hòa tan, chúng
cũng cần được phân tích bằng các phương pháp thích hợp.
Do sự đa dạng của các trang thiết bị y
tế, vật liệu cấu tạo của chúng và điều kiện sử dụng trong lâm sàng, thừa nhận
các điều kiện chiết phù hợp để mô phỏng, tăng tốc hoặc quá mức sử dụng trong
lâm sàng sẽ khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên, Phụ lục D đưa ra những xem xét
trong việc xác định các thông số chiết cho các trang thiết bị y tế điển hình,
bao gồm cả việc lựa chọn môi trường chiết, dựa trên loại tiếp xúc và thời gian
phơi nhiễm.
Xem xét các phương pháp phân
tích phù hợp với dữ liệu liên quan, 6.2 và 6.3 cung cấp các ví dụ về các thông
số định tính và định lượng có thể liên quan để đánh giá cấu trúc và thành phần của
vật liệu trang thiết bị y tế, đồng thời cung cấp các ví dụ về các phương pháp cụ
thể có thể được sử dụng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vì thành phần vật liệu của trang thiết
bị y tế có liên quan đến tính tương thích sinh học của nó, nên cần phải xác định
và xem xét các đặc tính của thiết bị tạo nên thành phần của thiết bị. Bảng 3 liệt
kê một số đặc tính có thể liên quan, cùng với các ví dụ về cách tiếp cận phân
tích thích hợp.
Bảng 3 - Các
phương pháp thử để thiết lập thành phần vật liệu của các vật
liệu trang thiết bị y tế
Loại vật liệu
Đặc tính
Phương pháp
ví dụa
Định tính
Định lượng
Polyme tổng hợp
Dư lượng monome
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
X
Thành phần bề mặt
FTIR
X
Xf
XPS
X
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Quang phổ hấp thụ nguyên tửe
(*)
X
X
LC (*)
X
X
Phụ gia, dư lượng quá trình, các chất
dạng vết
GC, LC, IC (*)
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tạp chấtb
Nhiễu xạ tia X
X
-
Dư lượng trên quá trình đánh lửa
X
Xg
Huỳnh quang tia X
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
GC, LC, IC (*)
X
X
Cấu tạo hóa học
FTIR
X
Xf
13C và 1H
NMR (*)
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kim loại và hợp kim
Thành phần vật liệuc
Huỳnh quang tia X
X
Xf
EDX/SEM, XPS
X
Xf
Phân tích quá trình đốt cháy (C, S)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
Quang phổ hấp thụ nguyên tửe (*)
X
X
Hỗn hợp khí (N, O, H)
X
X
Chuẩn độ
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đo trọng lượng
-
X
Điện giải
X
X
Đo màu
X
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
EDX/SEM, XPS
X
Xf
Hiển vi điện tử
X
X
Thành phần pha hoặc bề mặt
EDX/SEM, XPS
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Gốm
Truy vết các chất, bao gồm các chất
phụ giad
Huỳnh quang tia X
X
Xf
Quang phổ hấp thụ nguyên tửe
(*)
X
X
LC, GC (*)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
Anion
Sắc ký ion (IC)
X
X
Thành phần vật liệu
Nhiễu xạ tia X
X
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhận dạng
Đo màu
X
-
2D PAGE (*)
X
X
GPC/SEC
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cấu tạo hóa học
Chuỗi axit amin
X
X
FTIR
X
Xf
13C và 1H
NMR (*)
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a Không bao hàm hoặc loại trừ.
Các phương pháp được ký hiệu bằng dấu (*) là các phương pháp được sử dụng phổ
biến nhất cho mục đích được chỉ định. Trong một số trường hợp nhất định, các
phương pháp khác được liệt kê trong bảng này có thể được sử dụng.
b Ví dụ có
thể bao gồm: chất bôi trơn, chất liên kết chéo, chất thổi khuôn và tháo
khuôn, và chất xúc tác.
c Kim loại và hợp
kim thường xuyên được cung cấp với thành phần được lập thành văn bản. Khi
đã có thông tin như vậy, thông thường không cần lặp lại phân tích.
d Ví dụ về các chất
phụ gia cần được xem xét bao gồm các chất khử hoạt tính kim loại, chất ổn định
ánh sáng/nhiệt, chất làm dẻo, chất bôi trơn, chất biến tính cải thiện độ nhớt,
chất biến tính bền tác động, chất chống tĩnh điện, chất chống vi khuẩn, chất
chống oxy hóa, chất chống cháy, chất làm trắng, chất độn, chất nung kết, chất
tháo khuôn, chất kết dính, bột màu và chất phủ.
e Quang phổ hấp thụ
nguyên tử bao gồm AA và quang phổ plasma ghép cảm ứng với phát hiện phát xạ
quang học (ICP-AES) hoặc phát hiện khối phổ (ICP-MS).
f Bản chất của các
phép phân tích này là sao cho các phép đo định lượng của chúng được đặc trưng
bởi độ nhạy cảm
giới hạn hoặc mức độ không chính xác tương đối cao.
g Phương pháp này định
lượng tạp chất tổng số nhưng không định lượng tạp chất riêng lẻ.
6.3 Chất chiết
và chất ngâm chiết
Các phương pháp thử nghiệm có thể được
sử dụng trong các nghiên cứu sàng lọc chất chiết và chất ngâm chiết được liệt
kê trong Bảng 4.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Định tính chất chiết hữu cơ có thể được
xếp thành ba loại dựa trên tính dễ bay hơi của chúng: VOC, SVOC VÀ NVOC. Các kỹ
thuật phân tích được sử dụng để sàng lọc các loại chất chiết hữu cơ này là khác
nhau, mặc dù một loại hóa chất thường có thể được phát hiện bằng nhiều kỹ thuật
khác nhau; ví dụ: sắc ký khí với lấy mẫu pha hơi (HS-GC) thường được sử dụng để
phân tích VOC, sắc ký khí (GC) thường được sử dụng để phân tích SVOC và LC được
sử dụng để phân tích NVOC. Các kỹ thuật sắc ký được sử dụng để sàng lọc được kết
hợp với các phương pháp phát hiện độ nhạy cảm, có thể áp dụng rộng rãi và nhiều
thông tin thích hợp để nhận dạng và nồng độ của các chất chiết. Vì vậy, ví dụ: sự
phân tách GC có thể được kết hợp với sự ion hóa ngọn lửa (FID) và đầu dò MS và
sự phân tách LC có thể được kết hợp với sự hấp thụ bức xạ tia cực tím (UV) và đầu
dò MS.
Bảng 4 -
Phương pháp thử nghiệm đối với các chất chiết và ngâm chiết
Loại vật liệu
Đặc tính
Phương pháp
ví dụa
Định tính
Định lượng
Tất cả
Chất chiết hữu cơ, VOC
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
X
Tổng cacbon
hữu cơ (TOC)b
-
X
Chất chiết hữu cơ, SVOC
HS-GC và GC,
với FID và/hoặc MS *
X
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
-
-
Tổng cacbon
hữu cơ (TOC)b
-
X
NMR
X
X
Chất chiết hữu cơ, NVOC
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
X
NMR
X
X
Tổng cacbon
hữu cơ (TOC)b
-
X
Cặn không
bay hơi*
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
Chất chiết nguyên tố
ICP-AES,
1CP-MS*b
X
X
Anion và cation
Sắc ký ion
b X
X
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b Thường được
sử dụng cho các dung môi chiết dạng nước (ví dụ: nước, nước muối).
Vì dịch chiết có thể chứa các hợp chất
từ cả ba loại (VOC, SVOC và NVOC), nên một phương án thích hợp để sàng lọc toàn
diện tất cả dịch chiết để tìm các chất chiết hữu cơ có thể liên quan đến việc
áp dụng cả ba kỹ thuật sắc ký và các phương án phát hiện khác. Sự kết hợp chính
xác của các phương án tách và phát hiện được sử dụng để thực hiện sàng lọc phụ
thuộc vào bản chất của chất chiết hữu cơ, vì không có phương pháp sắc ký đơn lẻ
nào có thể áp dụng cho nhiều loại chất chiết hữu cơ.
Mặc dù các phương pháp GC-MS và LC-MS
là các công cụ chính được sử dụng để sàng lọc các chất chiết hữu cơ, các phương
pháp bổ sung có thể được áp dụng khi cần thiết và thích hợp. Ví dụ: NMR có thể
được áp dụng để tạo điều kiện nhận dạng các chất chiết hữu cơ.
Trong khi các phương pháp sắc ký sàng
lọc các dung dịch cho các hợp chất hữu cơ được chiết, các phương pháp quang phổ
hấp thụ nguyên tử, bao gồm hấp thụ nguyên tử (AA), quang phổ phát xạ nguyên tử
plasma ghép cảm ứng (ICP-AES) và các dung dịch sàng lọc khối phổ plasma kết hợp cảm ứng
(ICP-MS) cho các nguyên tố chiết có thể được kết hợp với các chất chiết hữu cơ
hoặc vô cơ. Lưu ý phân tích ICP không chỉ giới hạn trong việc phân tích các chất
chiết vô cơ, vì một số nguyên tố thường được đưa vào phân tích ICP có thể tồn tại ở
cả dạng hữu cơ và vô cơ (ví dụ: S, Si, Zn).
Một thiếu sót tiềm ẩn trong phân tích
ICP là không phát hiện được hình thức mà yếu tố tồn tại. Điều này có thể làm phức
tạp việc đánh giá rủi ro độc tính của dữ liệu ICP trong một số trường hợp
(nhưng không phải tất cả). Ví dụ: lưu huỳnh có thể được chiết dưới dạng lưu huỳnh
nguyên tố, dưới dạng ion sunphat hoặc là một phần của chất chiết hữu cơ (chẳng
hạn như mercaptobenzothiazole). Dạng hóa học của lưu huỳnh được phát hiện trong
phân tích ICP có thể cần thiết
để thực hiện đánh giá rủi ro độc tính, vì độc tính của lưu huỳnh có thể phụ thuộc
vào dạng của nó.
IC có thể được áp dụng để sàng lọc các
chất chiết để giải quyết các anion vô cơ chiết được (ví dụ: florua, clorua,
sulphat) và các axit hữu cơ có trọng lượng phân tử thấp (ví dụ: axit axetic
và formic).
Các phương pháp chung như NVR và TOC
cung cấp các ước tính về tổng lượng các chất được chiết nhưng không cung cấp nhận
dạng của các chất chiết cũng như nồng độ của các chất chiết riêng lẻ.
Các cuộc thảo luận sâu hơn về các
phương án và phương pháp phân tích thích hợp cho việc sàng lọc và định dạng các
chất chiết và chất ngâm chiết được nêu trong Tài liệu tham khảo [34] và [48].
Trong nhiều trường hợp, việc định dạng
chất ngâm chiết liên quan đến việc định lượng các nguồn ngâm chiết đã biết và
được nhắm mục tiêu riêng. Trong tình huống này, các phương pháp phân tích phù hợp
với mục đích này phải được phát triển và được đánh giá chất lượng. Trong nhiều trường
hợp, các phương pháp phân tích tương tự được sử dụng để sàng lọc các chất chiết
có thể được tối ưu hóa cho mục đích
phân tích các chất ngâm chiết được nhắm mục tiêu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vì thành phần cấu trúc hoặc cấu hình của
vật liệu trang thiết bị y tế có thể liên quan đến tính tương thích sinh học của
nó, đặc biệt là trong trường hợp thiết lập và chứng minh cho các thiết bị thay
thế, nên có thể
thích hợp để thiết lập
các đặc tính của thiết bị này. Bảng 5 liệt kê một số đặc tính có thể liên quan,
cùng với các ví dụ về cách tiếp cận phân tích thích hợp.
Bảng 5 - Các
phương pháp thử nghiệm có thể chấp nhận để đánh giá thành phần cấu trúc của vật liệu
trang thiết bị y tế
Loại vật liệu
Đặc tính
Phương pháp
ví dụa
Định tính
Định lượng
Polyme tổng hợp
Cấu trúc thành phần
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
X
Độ kết tinh
DSC, X-ray nhiễu xạ, Raman
X
X
Cấu hình, phân tích nhóm đối xứng
Chuẩn độ
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Quang phổ (NMR)
X
X
Cấu hình, có các liên kết đôi
Quang phổ (IR/UV)
X
X
Chỉ số iốt
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cấu hình, đặc trưng các đồng trùng hợp
Quang phổ (IR/NMR)
X
X
Cấu hình chuỗi, lập thể
Quang phổ (13C NMR)
X
X
DSC, TGA
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
-
Cấu hình chuỗi, có các liên kết chéo
Chiết gel-dung dịch DMTA
X
-
DMTA
-
X
Phân nhánh chuỗi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
X
Cấu hình
Lưu biến
X
-
Khối lượng phân tử và/hoặc sự phân bố
khối lượng phân tử
GPC
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phân tích nhóm kết thúc
-
X
Đo độ thẩm thấu
-
X
Phân tán ánh sáng tĩnh
-
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
-
X
Độ lắng
-
X
Khối phổ
X
X
Kim loại và hợp kim
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhiễu xạ tia X
X
-
Nhiễu xạ điện tử
X
-
Cấu trúc vi mô/vĩ mô
Kim tương học
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Gốm sứ
Hóa trị
Phân tích đo màu
X
-
Các pha
Nhiễu xạ tia X
X
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hiển vi
-
X
Các đại phân tử tự nhiên
(xem CHÚ THÍCH)
Cấu hình, phân tích nhóm đối xứng
Chuẩn độ
-
X
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
X
X
Cấu hình chuỗi, lập thể
Quang phổ (13C
NMR)
X
X
DSC
X
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chiết gel-dung dịch
X
-
Phân tích liên kết Di-sulphide
-
X
Cấu hình chuỗi, phân nhánh
DMTA
-
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Quang phổ
X
X
a Không bao
hàm hoặc loại trừ.
CHÚ THÍCH 1: Các đại phân tử tự
nhiên được sử dụng trong các trang thiết bị y tế bao gồm nhưng không giới hạn
ở protein,
glycoprotein, polysaccharid và gốm sứ. Ví dụ: gelatin, collagen, elastin,
fibrin, albumin, alginate, cellulose, axit béo (như axit stearic), heparin,
chitosan, xương đã qua xử lý, san hô và cao su tự nhiên. Những vật liệu này
có thể đã được xử lý, tinh chế và biến tính theo các mức độ khác nhau.
CHÚ THÍCH 2: Đối với các đại phân tử tự
nhiên, điều cần thiết là sinh vật nguồn (loài) và giếng/dòng được nhận
dạng rõ là bước đầu tiên.
CHÚ THÍCH 3: Bộ TCVN 9858 (ISO
22442) đề cập đến việc sử dụng an toàn mô động vật và các dẫn xuất trong sản
xuất trang thiết bị y tế. TCVN 13415-3 (BS EN 455-3) bao gồm việc đánh giá rủi
ro liên quan đến dư lượng protein trong latex cao su thiên nhiên.
CHÚ THÍCH 4: Các chuyên khảo về dược điển
(ví dụ: Ph, Eur./USP/JP) hiện có cho nhiều loại vật liệu này và một số tiêu
chuẩn của Ban kỹ thuật ASTM F04 về Vật liệu và Trang thiết bị Y tế và Phẫu
thuật cũng đề cập đến đặc tính của các vật liệu này (xem Thư mục tài liệu
tham khảo).
CHÚ THÍCH 5: Đối với đặc trưng của vật
liệu nano, xem ISO/TR 10993-22.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các phương pháp phân tích được sử dụng
trong đặc trưng hóa học thường phục vụ một trong hai mục đích: sàng lọc mẫu cho
các chất phân tích không được quy định và mẫu thử cho các chất phân tích đã quy
định (được nhắm mục tiêu). Mục
đích của phân tích sàng lọc là để phát hiện các chất phân tích có trong mẫu
trên ngưỡng báo cáo liên quan (ví dụ: AET), để ước tính nồng độ của các chất
phân tích đó và để đảm bảo nhận dạng của các chất phân tích đó. Mục đích của
phân tích xây dựng mục tiêu là thiết lập một cách chính xác và độ chụm nồng độ
của các chất phân tích được quy định (được nhắm mục tiêu) và nhận dạng trong mẫu.
Các phương pháp phân tích thích hợp phải
được phát triển và được đánh giá chất lượng cho những mục đích này, trong đó việc
đánh giá chất lượng được định nghĩa là quá trình mà một phương pháp được thiết
lập để phù hợp với mục đích sử dụng của nó. Trước khi phát triển phương pháp mới,
nên tham khảo các tiêu chuẩn hiện có, sách chuyên khảo, bài báo khoa học hoặc
các tài liệu khoa học liên quan khác để kiểm tra các phương pháp thử phù hợp hiện
có. Các phương pháp từ tài liệu có thể cần được điều chỉnh và được đánh
giá chất lượng trước khi sử
dụng. Nếu không nhận dạng được các phương pháp phù hợp thì phải phát triển các
phương pháp mới thích hợp.
Vì trường hợp thông thường, một tập hợp
các chất phân tích tiềm năng được xử lý bằng các phương pháp sàng lọc phân tích
là lớn và đa dạng, một phương pháp duy nhất không thể được đánh giá chất lượng
cho tất cả các chất phân tích tiềm năng và không thể có một phương pháp duy nhất
tạo ra các ước tính nồng độ chính xác và độ chụm cao cho tất cả các chất phân
tích tiềm năng. Do đó, các phương pháp phân tích được sử dụng để sàng lọc phải
được đánh giá chất lượng, bất cứ khi nào có thể, sử dụng một tập hợp các chất
phân tích thay thế đại diện cho toàn bộ tổng thể các chất phân tích có thể chấp
nhận được. Ví dụ: khi một phương pháp phân tích được sử dụng để sàng lọc chất
chiết cho các chất chiết được trên AET, thì phương pháp này phải được đánh giá
chất lượng khi sử dụng một tập hợp các chất chiết tiềm năng làm chất phân tích thay
thế. Cơ sở lý luận của việc lựa chọn chất phân tích thay thế phải được lập
thành văn bản. Các yếu tố tiềm ẩn trong cơ sở lý luận như vậy có thể bao gồm kiến
thức về các chất mong đợi từ thành phần vật liệu, thông tin nhóm chức từ MS hoặc
sự tương đồng về thời gian lưu.
Ngoài ra, một phương pháp được sử dụng
để phân tích một mẫu thử nhằm thiết lập các mức của chất phân tích mục tiêu thường
được tối ưu hóa cho mục đích
này và do đó, mặc dù có thể hy sinh phạm vi rộng (điều quan trọng trong các
phương pháp sàng lọc), làm như vậy theo cách nâng cao các tính chất tính năng
khác như độ chính xác và độ chụm. Vì phương pháp xây dựng mục tiêu nhắm mục
tiêu đến một danh sách nhỏ và đã xác định các chất phân tích, đánh giá chất lượng
của phương pháp đề cập đến
tính năng của phương pháp cụ thể cho mỗi và mọi chất phân tích được nhắm mục
tiêu.
Đánh giá chất lượng của một phương
pháp phân tích được thảo luận trong Phụ lục F.
7 Báo cáo dữ liệu đặc
trưng hóa học
Mục đích của báo cáo đánh giá hóa chất
là cung cấp thông tin cho phép xem xét dữ liệu đặc trưng hóa học và hỗ trợ việc
đánh giá rủi ro độc tính của thông tin này. Các báo cáo đó phải nêu rõ mục
đích và mục tiêu của
việc đánh giá hóa chất đã được thực hiện và phải bao gồm mô tả và giải thích
cho những điều sau:
a) mô tả vật phẩm thử nghiệm (vật liệu
hoặc trang thiết bị y tế) và chi tiết của việc chuẩn bị mẫu;
b) phương pháp phân tích và điều kiện
chiết (ví dụ: lựa chọn môi trường chiết, thời gian và chu kỳ chiết, nhiệt độ
chiết, tỷ lệ chiết/mẫu, phương pháp khuấy và tốc độ trong quá trình chiết);
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
d) giá trị và sự chứng minh của ngưỡng
báo cáo (ví dụ: AET);
e) dữ liệu định tính được tạo ra (ví dụ:
nhận dạng chất chiết, bao gồm
mô tả về quy trình nhận dạng);
f) dữ liệu định lượng được tạo ra (ví
dụ: nồng độ chất chiết, bao gồm mô tả các quy trình định lượng và cung cấp phân
loại dữ liệu định lượng như phân tích định lượng ước tính, phân tích bán định
lượng hoặc phân tích định lượng);
g) thông tin cần thiết để ước tính mức
độ tiếp xúc lâm sàng với hóa chất (ví dụ: lượng chất phân tích tính bằng μg/thiết
bị).
Khi cần thiết và thích hợp, các chất
được nhận dạng trong dung dịch thử nghiệm có thể được nhóm lại thành các nhóm hợp
chất, dựa trên các điểm tương đồng về cấu trúc hoặc nhóm chức, để hỗ trợ trong
các đánh giá rủi ro độc tính.
Thông tin hoặc dữ liệu hóa học hoặc
thành phần thu được mà người đảm trách thiết bị không phải thực hiện thử nghiệm
(ví dụ: dữ liệu do nhà cung cấp vật liệu cung cấp, dữ liệu có sẵn từ tài liệu hóa
học) có thể được đưa vào báo cáo, nếu có liên quan và thích hợp. Yêu cầu báo
cáo đối với dữ liệu thu được từ các nguồn bổ sung như vậy bao gồm các mục tương
tự như đã nêu ở trên đối với dữ liệu thử nghiệm do người đảm trách tạo nhưng
ngoài ra sẽ bao gồm thảo luận về mức độ liên quan của nó với việc đánh giá rủi
ro độc tính.
Ngoài việc chứa đựng các chi tiết cần
thiết liên quan đến thiết kế nghiên cứu và dữ liệu đánh giá hóa học liên quan
và thích hợp, do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét nghiên cứu và đánh
giá rủi ro độc tính, một báo cáo phải chứa đầy đủ thông tin để thiết lập sự phù
hợp của các quá trình phân tích được sử dụng. Thông tin như vậy sẽ liên quan đến
việc thiết lập các quy trình phân tích phù hợp với mục đích sử dụng và được thực
hiện một cách thích hợp tại thời điểm sử dụng của chúng.
Các loại thông tin có thể được đưa vào
báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá rủi ro độc tính và xem xét
các dữ liệu và quy trình phân tích được liệt kê trong Phụ lục G.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(tham
khảo)
Nguyên tắc chung của đặc trưng hóa học
A.1 Quá trình đặc
trưng hóa học
Đặc trưng hóa học là quá trình thu thập
thông tin hóa học về một
trang thiết bị y tế, liên quan đến việc đánh giá sinh học của nó và các đánh
giá rủi ro độc tính. Việc đặc trưng hóa học của một trang thiết bị y tế, các
thành phần hoặc vật liệu cấu tạo của nó bao gồm nhiều quá trình, bao gồm cả việc
thu thập và tạo ra thông tin, để:
- thiết lập thành phần vật liệu và cấu
hình của thiết bị;
- nhận dạng và định lượng các chất chiết
và/hoặc các chất ngâm chiết liên quan đến thiết bị.
Đặc trưng hóa học của một trang thiết
bị y tế và/hoặc các thành phần và vật liệu cấu tạo của nó là một khía cạnh cần
thiết để đánh giá tính an toàn sinh học của trang thiết bị y tế đó.
A.2 Việc sử dụng đặc
trưng hóa học
Đặc trưng hóa học có thể tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình đánh giá an toàn sinh học theo một trong ba cách bằng
cách cung cấp:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- cơ sở hóa học để so sánh trang
thiết bị y tế nghiên cứu với tiêu chuẩn vật liệu liên quan (xác nhận sự phù hợp),
và
- thông tin hóa học làm cơ sở cho việc
đánh giá rủi ro độc tính (cho phép đánh giá).
Trong một số trường hợp nhất định, tác
động độc hại liên quan đến việc sử dụng trang thiết bị y tế có thể được đánh
giá bằng cách so sánh thiết bị nghiên cứu với thiết bị đã được thiết lập lâm
sàng. Trong những trường hợp như vậy, việc đặc trưng hóa học là rất quan trọng
trong việc thiết lập sự tương đương hóa học, ví dụ giữa:
- một hạng mục được đề xuất (vật liệu,
thành phần hoặc thiết bị) và một hạng mục đã được thiết lập lâm sàng (xem Phụ lục
C),
- một trang thiết bị y tế thành phẩm
và có thể bán trên thị trường và một thiết bị nguyên mẫu, và
- một vật liệu, thành phần hoặc trang
thiết bị y tế sau khi thay đổi quá trình, vật liệu, ứng dụng hoặc sản xuất.
Các tiêu chuẩn bao gồm các yêu cầu về
thành phần vật liệu hiện có đối với một số vật liệu trang thiết bị y tế [ví dụ:
bộ TCVN 6795 (ISO 5832)). Có thể vật liệu phù hợp với tiêu chuẩn như vậy sẽ
không yêu cầu thêm đặc trưng hóa học để hỗ trợ đánh giá độc tính hoặc sinh học.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi vật liệu thành dạng thành phẩm của trang thiết bị y
tế có thể tạo ra các chất gây ô nhiễm hoặc dư lượng quá trình. Những chất này
có thể được ngâm chiết từ trang thiết bị y tế và liên quan về độc tính. Việc
đánh giá trang thiết bị y tế thành phẩm cần xem xét và giải quyết những chất
ngâm chiết như vậy. Ngoài ra, các đặc tính vật lý, hóa học, hình thái cấu trúc
và hình thái bề mặt của một bộ phận được chế tạo bằng vật liệu này có thể cần
được đánh giá để xác định mức độ an toàn tổng thể.
Cuối cùng và trong các trường hợp
khác, đáng chú ý nhất là khi mới ra đời và trong trường hợp không có trang thiết
bị y tế phù hợp được thiết lập lâm sàng, các tác động độc tính liên quan đến việc
sử dụng thiết bị, bao gồm các thành phần hoặc vật liệu cấu tạo của nó, có thể
được đánh giá bằng cách sử dụng cách tiếp cận đặc trưng hóa học. Cách tiếp cận
như vậy có thể bao gồm thu thập dữ liệu, tạo dữ liệu (ví dụ: hồ sơ chất chiết
hoặc chất ngâm chiết) và diễn giải dữ liệu.
Tổng quan về quy trình đặc trưng hóa học
được nêu trong tiêu chuẩn này và mối quan hệ của nó với việc đánh giá rủi ro được
nêu trong Điều 5. Quy trình này dựa trên những xem xét sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Mức độ đặc trưng hóa học (ví dụ: liệu
việc thu thập thông tin có thể đầy đủ hay không; thiết kế các nghiên cứu chiết,
nếu được thực hiện) phải phản ánh:
1) bản chất và thời gian phơi nhiễm
lâm sàng;
2) dạng vật lý của vật liệu được sử dụng
(ví dụ: chất lỏng, gel, bột nhão, chất rắn hoặc vật liệu có nguồn gốc sinh học);
3) lịch sử sử dụng của các vật liệu.
Hơn nữa, cần cung cấp đủ dữ liệu cần
thiết để thiết lập tính an toàn sinh học của trang thiết bị y tế.
c) Thiết lập cấu hình của trang
thiết bị y tế, bằng cách mô tả vật liệu cấu tạo của nó, là bước đầu tiên cần
thiết để thiết lập tính tương thích sinh học của thiết bị vì (a) việc sử dụng vật
liệu cấu tạo thích hợp làm tăng khả năng thiết bị sẽ tương thích sinh học và
(b) kiến thức về vật liệu cấu tạo có thể cung cấp điểm khởi đầu để thiết lập sự
tương đương hóa học đối với một thiết bị đã được thiết lập lâm sàng.
Đối với một số trang thiết bị y tế,
thông tin cấu hình và thành phần vật liệu có thể có sẵn cho nhà sản xuất
thiết bị như một phần của thông số kỹ thuật thiết bị hoặc có thể thu thập được
thông qua yêu cầu. Trong các trường hợp khác, thông tin đó có thể thu được bằng
cách thử nghiệm
thiết
bị thích hợp. Trong mọi trường hợp, chất hỗ trợ và phụ gia chế biến (xem Bảng
3, chú thích b và d) phải được đưa vào như một phần của thông tin thành phần
này.
d) Thiết lập thành phần vật liệu cấu tạo
của trang thiết bị y tế là bước cần thiết để thiết lập tính tương thích sinh học
của thiết bị, vì (a) thành phần của các vật liệu cấu tạo riêng biệt có thể dùng
làm cơ sở để thiết lập sự tương đương hóa học với thiết bị đã được thiết lập lâm
sàng, và (b) các thực thể hóa học có
trong vật liệu cấu tạo có thể là nguồn chất chiết và chất ngâm chiết.
1) Dữ liệu thành phần bao gồm dữ liệu
định tính, mô tả thành phần của vật liệu và thiết lập hóa chất nào có trong vật liệu
và dữ liệu định lượng thiết lập nồng độ của các thành phần hóa học của vật liệu.
Thông tin định lượng có thể cần thiết để đánh giá tính an toàn sinh học, vì nhận
dạng và số lượng các thành phần cấu tạo của trang thiết bị y tế cho phép điều
tra độc tính nội tại của từng thành phần. Dữ liệu thu được nhằm mục đích sử dụng
bởi nhà sản xuất
trang thiết bị y tế để hỗ trợ việc đánh giá sinh học của trang thiết bị y tế.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
e) Xác định các hóa chất tiềm ẩn của
trang thiết bị y tế trong điều kiện sử dụng lâm sàng có thể cung cấp cơ sở để
hiểu và đánh giá tác động tiềm ẩn về an toàn của thiết bị. Mặc dù các chất trong
vật liệu hoặc các chất phụ gia được sử dụng trong quá trình sản xuất trang thiết
bị y tế có thể bị ngâm chiết từ thiết bị và do đó trở thành khả dụng
sinh học, nhưng có thể cần phải có thông tin chứng minh mức độ mà các chất sẽ
được ngâm chiết dưới các điều kiện sử dụng lâm sàng của thành phẩm để ước tính
rủi ro phát sinh từ chúng. Điều này có thể được ước tính bằng cách thực hiện
các nghiên cứu chiết của trang thiết bị y tế. Các điều kiện chiết thích hợp phải được
thiết lập, chứng minh và sau đó được sử dụng để đảm bảo các chất có khả năng
thôi ra trong quá trình sử dụng thành phẩm sẽ được thôi ra vào môi trường chiết
(xem thêm Phụ lục D). Chiết có thể được sử dụng để xác định tổng lượng vật liệu
có thể chiết có trong trang thiết bị y tế/vật liệu (chiết kỹ) hoặc tổng lượng vật
liệu có thể chiết được (chiết sử dụng quá mức hoặc mô phỏng) để hoàn thành đánh giá rủi
ro độc tính. Việc chiết kỹ nói chung là cần thiết để tạo ra đủ dữ liệu cho các
trang thiết bị y tế tiếp xúc kéo dài hoặc lâu dài; chiết quá mức chỉ nên được sử
dụng cho các thiết bị tiếp xúc lâu dài nếu được chứng minh một cách thích hợp.
Bất kể các biện pháp thu được dịch chiết
là gì, dịch chiết được phân tích định lượng để tạo ra dữ liệu để sử dụng trong
đánh giá rủi ro độc tính của trang thiết bị y tế (xem TCVN 7391-17 (ISO
10993-17)).
Tùy thuộc vào bản chất và nguồn của
thông tin hóa học được thu thập, việc hoàn thành thành công việc đặc trưng hóa
học được nêu trong tiêu chuẩn này có thể yêu cầu chuyên môn về khoa học vật liệu
hoặc hóa học phân tích để cung cấp dữ liệu định tính và định lượng cần thiết mà
người đánh giá rủi ro có thể sử dụng để đánh giá an toàn trang thiết bị y tế.
Kiến thức chuyên môn về độc tính có giá trị trong việc hiểu các loại hợp chất
có thể liên quan về độc tính để các chuyên gia vật liệu và hóa học có thể thiết
kế các thí nghiệm thích hợp.
Đặc trưng hóa học được nêu trong tiêu
chuẩn này được thực hiện như một phần của quá trình đánh giá tính tương thích
sinh học ban đầu của trang thiết bị y tế. Cần lưu ý độ an toàn sinh học của
trang thiết bị y tế chỉ được suy ra theo thời gian trang thiết bị y tế có mặt
trên thị trường miễn là vật liệu cấu tạo và quá trình sản xuất của thiết bị
không thay đổi. Điều quan trọng là phải đưa ra các biện pháp kiểm soát để ngăn
nhà cung cấp vật liệu thay đổi thành phần của vật liệu được cung cấp theo tên
thương mại cụ thể hoặc thỏa thuận cung cấp mà không cần thông báo trước cho nhà
sản xuất trang thiết bị y tế. Nhà sản xuất phải đánh giá và ghi lại hậu quả của
các thay đổi đã được thông báo về tính an toàn sinh học của sản phẩm.
A.3 Ngưỡng đánh giá
phân tích
Một khía cạnh quan trọng của phân tích
chất chiết/chất ngâm chiết là thử nghiệm mẫu lỏng (ví dụ: dịch chiết, chất phân
hủy) để phát hiện, nhận dạng và định lượng các chất đã được hòa tan (chiết
hoặc ngâm chiết). Đối với mục đích đánh giá độc tính, các phương pháp thử nghiệm
phân tích sẽ có khả năng
phát hiện, nhận dạng và định lượng các chất hòa tan trong dịch chiết ở các mức có thể
có ảnh hưởng đến sức khỏe của những người có khả năng bị ảnh hưởng khi tiếp xúc
với trang thiết bị y tế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, một số
hoạt động đặc trưng hóa học thiết yếu, chẳng hạn như sự nhận dạng, không thể được
thực hiện. Trong trường hợp không có nhận dạng đáng tin cậy hoặc không đủ thông
tin độc tính cho các hợp chất đã nhận dạng, rủi ro có thể xảy ra thường có thể
được suy ra thông qua việc áp dụng các khái niệm ngưỡng độc tính. Do đó, các chất
thấp hơn ngưỡng
như vậy không yêu cầu thêm đặc trưng hóa học, bao gồm cả nhận dạng và định lượng. Cần lưu
ý các ngưỡng này tạo ngoại lệ cho các hợp chất trong trường hợp đặc biệt có độc
tính cao đã biết.
Nếu một ngưỡng được biểu thị bằng liều
lượng, thì không thể áp dụng trực tiếp cho việc đặc trưng phân tích của một mẫu
thử chất lỏng. Tuy nhiên, các ngưỡng này có thể được chuyển đổi thành nồng độ
thông qua phép chuyển đổi toán học thích hợp, có tính đến việc sử dụng lâm sàng
của trang thiết bị y tế và các điều kiện thực nghiệm được sử dụng để lấy mẫu chất
lỏng. Ngưỡng dựa trên nồng độ như vậy, được gọi là AET, trở thành ngưỡng
mà trên ngưỡng đó nhà hóa học phân tích phải cung cấp thông tin đó (nồng độ và
nhận dạng) cần thiết để đánh giá rủi ro độc tính (ví dụ: áp dụng TCVN 7391-17
(ISO 10993-17)). Một chất có trong mẫu lỏng ở nồng độ thấp hơn AET được thiết lập là có rủi
ro độc tính có thể chấp nhận được mà không cần đánh giá thêm, có nghĩa là chất
đó không cần phải được định lượng hoặc nhận dạng chính xác.
AET không áp dụng cho các phương pháp
mục tiêu phân tích trong đó các chất phân tích được quy định là các hợp chất có
đủ dữ liệu an toàn về độc tính để xử lý theo TCVN 7391-17 (ISO 10993-17).
Việc tính toán và áp dụng AET được thảo
luận chi tiết hơn trong Phụ lục E.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mục tiêu chính của bộ TCVN 7391 (ISO
10993) là bảo vệ con người khỏi các rủi ro sinh học tiềm ẩn phát sinh từ
việc sử dụng các trang thiết bị y tế. Mục tiêu này đạt được thông qua việc đánh
giá sinh học các trang thiết bị y tế, bao gồm các biện pháp (quy trình thử nghiệm)
để tạo ra dữ liệu sinh học và các biện pháp giải thích dữ liệu sinh học trong bối
cảnh đánh giá rủi ro.
Nói chung, thông tin về tính tương
thích sinh học có thể thu được từ hai loại đánh giá: (1) đặc trưng hóa học cùng
với dữ liệu độc tính liên quan và (2) thử nghiệm sinh học. Nói chung, đánh giá
rủi ro nên bao gồm sự kết hợp thích hợp của dữ liệu hóa học và sinh học, có thể
thay đổi tùy theo từng trường hợp. Nếu thông tin từ cả hai loại đánh giá đề cập
đến cùng một điểm cuối sinh học theo cách có thể so sánh được, thì thông tin từ
một trong hai loại đánh giá có thể được sử dụng để giải quyết điểm cuối đó. Tuy
nhiên, các thử nghiệm in vitro nên ưu tiên càng nhiều càng tốt (xem TCVN
7391-2 (ISO 10993-2)). Trong trường hợp thu được dữ liệu mâu thuẫn, thử nghiệm
sinh học (với độ nhạy cảm chấp nhận được) phải có trọng lượng lớn hơn do có thể
áp dụng trực tiếp cho các hệ thống sinh học.
Phân loại đánh giá sinh học chung có
thể được chia nhỏ hơn nữa thành hai loại phụ: những loại thử nghiệm đó đánh giá
tác dụng toàn thân (ví dụ: một loại phụ thuộc vào sự phân bố có hệ thống của
các dịch chiết hoặc dịch ngâm chiết), và những loại đánh giá tác dụng cục bộ
(nghĩa là những xảy ra ở vùng lân cận của trang thiết bị y tế). Các thử nghiệm
đánh giá tác dụng toàn thân hoặc điểm cuối (ví dụ: độc tính toàn thân) có nhiều
khả năng được giải quyết một cách thích hợp bằng đặc trưng hóa học hơn là các
thử nghiệm đối với tác dụng tại chỗ (ví dụ: tác dụng kích ứng và cấy ghép). Các
điểm cuối có cả tác động tại chỗ và toàn thân (ví dụ: sự nhạy cảm) có thể được
giải quyết thông qua đặc trưng hóa học, nếu có đủ dữ liệu về độc tính.
Việc sử dụng đặc trưng hóa học thay
cho thử nghiệm sinh học phải được lập thành văn bản và chứng minh.
Phụ
lục B
(tham
khảo)
Nguồn thông tin để đặc trưng hóa học
B.1 Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
B.2 Thông tin từ nhà
cung cấp vật liệu
Thông tin sau đây, nếu có, sẽ hữu ích
để chỉ rõ vật liệu được sử dụng (ví dụ: vật liệu ban đầu thô và cơ bản, chất hỗ
trợ chế biến), và thông tin tổng hợp đặc biệt hữu ích để hỗ trợ đánh giá rủi ro
định lượng:
a) tên của nhà sản xuất hoặc nhà cung
cấp vật liệu;
b) tên thương mại vật liệu chung;
VÍ DỤ: Silastic®, Dacron®, Tetoron®,
Pellethane®, Nylon, Tefon®1).
c) số nhận dạng hóa học (ví dụ số CAS)
hoặc tên có hệ thống (ILIPAC/USAN) (xem B.5);
d) mã và số sản phẩm;
VÍ DỤ: Pellethane 2393-80AE,
rnethylvinylpolysiloxane 0215.
e) quy định kỹ thuật của nhà sản xuất
vật liệu, bao gồm, ví dụ: độ tinh khiết, nhận dạng và mức độ tạp chất, chất lượng,
trọng lượng phân tử, phân bố trọng lượng phân tử, đặc tính nhiệt, độ bền kéo, độ
cứng Rockwell, mô đun uốn, độ dẫn điện và những thông số khác ngoài các thông số
chung được mô tả trong 5.2;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH: Đối với các thành phần cấp
y tế thường được sử dụng trong các trang thiết bị y tế, có thể tìm thấy mô tả
chi tiết trong tiêu chuẩn vật liệu [ví dụ: ASTM F136-13 Standard Specification
for Wrought Titanium-6Aluminum-4Vanadium ELI (Extra Low Interstitial) Alloy for
Surgical Implant Applications (Quy định kỹ thuật tiêu chuẩn cho Hợp kim Titan-6Al
nhôm-4Vanadium ELI (kẽ hở cực thấp) cho các ứng dụng cấy ghép phẫu thuật)] và
đôi khi trong dược điển.
g) chứng chỉ phù hợp các bản trích yếu
của khu vực và các quy định toàn cầu có liên quan (ví dụ: REACH, phụ gia thực
phẩm gián tiếp).
B.3 Phân tích hóa học
B.3.1 Yêu cầu chung
Thêm vào Điều 6, một số phương thức
phân tích hóa học được mô tả trong B.3.2 đến B.3.5.
B.3.2 Phân tích
hóa học không đặc hiệu liên quan đến đánh giá phơi nhiễm
Các phân tích hóa học không cụ thể đã
được đưa vào một số tiêu chuẩn quốc tế và các hướng dẫn hoặc tiêu chuẩn quốc
gia nhằm đảm bảo an toàn. Các phương pháp này thường có thể sử dụng để ước tính
không chính xác, trước hết về các nguy cơ hóa học của các trang thiết bị y tế, mặc
dù mối quan hệ trực tiếp của chúng đối với sự an toàn còn hạn chế. Một số ví dụ
được đưa ra dưới đây:
VÍ DỤ 1: Hướng dẫn của OECD; Thử nghiệm
số 120[17],
Thủ tục thử nghiệm này[17] mô tả quy
trình xác định dung dịch/hoạt động chiết của polyme trong nước tại nhiệt độ 20
°C tại pH 2 và pH 9 và tại nhiệt độ 37 °C tại pH 7. Nên phân tích tổng hàm lượng
cacbon hữu cơ (TOC) để xác định tổng số loại polyme trong pha nước. Các phương
pháp khác cụ thể hơn cũng được mô tả.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp JP và Ph. Eur (xem Tài liệu
tham khảo[21] và [20]) bao gồm các phương
pháp thử và thông số kỹ thuật đối với cặn khi bắt lửa, kim loại nặng, các chất
chiết được như chất khử kali pemanganat và cặn bay hơi. Các phương pháp USP
(Tài liệu tham khảo[22]) bao gồm các
phương pháp thử nghiệm và thông số
kỹ thuật về độ axit/kiềm, độ hấp thụ tia cực tím, tổng cacbon hữu cơ (TOC), kim
loại chiết được, phụ gia polyme và tính tương thích sinh học.
B.3.3 Phân tích định
tính
Nếu thành phần vật liệu và/hoặc công
thức được yêu cầu nhưng thông tin định tính có sẵn được đánh giá là không đầy đủ
hoặc không có sẵn, thì có thể cần thử nghiệm hóa học thêm. Tùy thuộc vào nhu cầu
thông tin, thông tin định tính hoặc định lượng có thể được yêu cầu.
Nhiều phương pháp phân tích được sử dụng
để đặc trưng hóa học có khả năng phân tích cả định tính và định lượng. Tuy
nhiên, mục đích của phân tích định tính là cung cấp danh sách các thành phần
hóa học được nhận dạng trong mẫu. Ngược lại, mục đích của phân tích định lượng
là thiết lập mức độ hoặc số lượng của từng thành phần hóa học riêng lẻ trong một
mẫu, cho dù thành phần đó có được nhận dạng hay không. Vì việc đánh
giá rủi ro độc tính thường dựa trên cả nhận dạng (thiết lập khả năng gây độc của
thành phần) và nồng độ (thiết lập mức độ phơi nhiễm), nên cả phân tích định
tính và định lượng đều quan trọng và phù hợp.
CHÚ THÍCH: Các phương pháp bán
định lượng có thể đủ để đánh giá rủi ro ban đầu và các phương pháp định lượng
có thể cần thiết khi một
rủi ro cụ thể đã được nhận dạng (nghĩa là mức an toàn không đủ được tìm thấy sau khi
phân tích bán định lượng).
B.3.4 Phân tích định
lượng các hóa chất độc hại cụ thể để đánh giá mức độ phơi nhiễm
Nếu các phép phân tích định tính nhận
dạng các hóa chất có liên quan đến độc tính thì phải thực hiện phân tích định
lượng và cụ thể. Độ đặc hiệu, mức độ nhạy cảm và giới hạn định lượng của phương
pháp phân tích phải đủ cho mức độ đánh giá rủi ro cần thiết.
B.3.5 Phương pháp
phân tích định tính và định lượng
NMR, phản xạ toàn phần bị suy giảm/quang
phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (ATR/FT-IR) và sắc ký khí nhiệt phân/khối phổ
là những phương pháp hữu ích cho phân tích thành phần và công thức. Các dịch
chiết từ trang thiết bị y tế hoặc vật liệu có thể được phân tích bằng các phương
pháp sắc ký kết hợp với các kỹ thuật phát hiện thích hợp (ví dụ: GC và LC, mỗi
chất kết hợp với MS) để nhận dạng và định lượng các chất được chiết,
nếu thích hợp. Phân tích OM huyết tương kết hợp cảm ứng rất hữu ích để thiết lập
mức độ của các nguyên tố có trong dịch chiết hoặc phân hủy của trang thiết bị y
tế hoặc vật liệu, mặc dù phương pháp này không thiết lập dạng hóa học của
nguyên tố. Các phương pháp phân tích như vậy có thể được sử dụng để giải quyết
các khoảng trống trong thành phần vật liệu và/hoặc công thức sản phẩm một cách
đầy đủ và thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hầu hết các tiêu chuẩn vật liệu và/hoặc
sản phẩm quy định chất lượng vật liệu trong tiêu chuẩn liên quan đến mục đích sử
dụng. Khi vật liệu được sử dụng trong trang thiết bị y tế đáp ứng tiêu chuẩn
như vậy và khi loại và thời gian tiếp xúc của thiết bị tương đương với vật liệu
trong tiêu chuẩn, thì việc đưa ra tiêu đề và số hiệu của tiêu chuẩn có thể đủ để
đặc trưng của vật liệu. Khả năng áp dụng của những tiêu chuẩn để đặc trưng hóa
học phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
- Tiêu chuẩn có quy định trang thiết bị
y tế và thời gian tiếp xúc không?
- Tiêu chuẩn có quy định vật liệu
không (ví dụ: vật liệu cụ thể, loại vật liệu)? Nếu như vậy, đến mức độ nào?
- Tiêu chuẩn có đặt ra bất kỳ giới hạn
nào về mức độ của một số hóa chất nhất định không? Các giới hạn đó là toàn diện,
cụ thể, chung chung hay tổng số?
- Trang thiết bị y tế hoặc vật liệu được
tiêu chuẩn hóa có lịch sử sử dụng lâm sàng an toàn không?
Mức độ đề cập đến các yếu tố này trong
tiêu chuẩn xác định mức độ mà việc sử dụng chúng có thể đáp ứng các nhu cầu về
đặc trưng hóa học.
CHÚ THÍCH: Việc sử dụng các tiêu chuẩn
vật liệu có thể không đủ để giải quyết các ảnh hưởng mà quá trình sản xuất và
chế biến có thể có đối với vật liệu khi được kết hợp vào thiết bị hoàn thiện. Ví dụ: quá
trình sản xuất các trang thiết bị y tế được sản xuất từ vật liệu kim loại được
mô tả trong tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế về vật liệu hoặc sản phẩm
có thể có ảnh hưởng
tiêu cực đến tính tương thích sinh học tổng thể, vì dư lượng dầu cắt gọt được sử
dụng trong quá trình cắt CNC có thể không được loại bỏ đầy đủ.
B.5 Báo cáo mô tả
hóa học của vật liệu
B.5.1 Tên chung của
vật liệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH: Tên chung có thể bị hiểu nhầm. Ví dụ:
"polyester" dùng để chỉ một loại polyme bao gồm các liên kết este,
nhưng thường được dùng để chỉ poly (ethylene terephthalate).
B.5.2 Các danh
pháp khác và mô tả hóa học của vật liệu
B.5.2.1 Yêu cầu
chung
Có một số hệ thống danh pháp quy định
các vật liệu chính xác hơn.
B.5.2.2 Danh pháp
IUPAC và công thức cấu tạo của các hóa chất polyme
Liên minh Quốc tế về Hóa học và Hóa học
Ứng dụng (IUPAC) Ủy ban Danh pháp Đại phân tử đã công bố các quy tắc đặt tên
polyme[37]. Đặt tên và
mô tả polyme theo quy tắc trình bày một số đặc điểm chính xác của hóa chất polyme như
đã xác định. Tuy nhiên, không cung cấp bất kỳ thông tin nào về các polyme có sẵn
trên thị trường thường chứa một số chất phụ gia.
B.5.2.3 Số đăng ký
CAS, USAN, REACH và tên và/hoặc số đăng ký khác
Chemical Abstract Service (CAS) và
United States Adoped Name (USAN) đưa ra một con số và tên cụ thể tương ứng cho
các hóa chất polyme mới được phát triển như vật liệu kính áp tròng. Khi vật liệu
được sử dụng có số CAS và/hoặc tên USAN đã cho, rất dễ dàng phân biệt với các vật
liệu tương tự nhưng không giống nhau. Thông tin ngắn gọn về các thành phần/thành
phần hóa học có
thể có sẵn từ USAN.
Mặc dù số đăng ký REACH chủ yếu để chứng
minh đăng ký REACH, nhưng nó cung cấp một liên kết đến cơ sở dữ liệu ECHA có thể
chứa thông tin hữu ích như nhận dạng chất, độ tinh khiết, nhận dạng và mức độ tạp
chất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số thông số thường có thể sử dụng
để quy định bản chất hóa học của vật liệu được sử dụng. Các thông số này khác
nhau tùy theo loại vật liệu. Đối với polyme tổng hợp, ví dụ về các thông số như
vậy là khối lượng phân tử và sự phân bố của nó, nhiệt độ chuyển thủy tinh, điểm
nóng chảy, khối lượng riêng, bản chất hòa tan và trương nở.
CHÚ THÍCH: Hướng dẫn của OECD,
Phần 1, Thử nghiệm số 118:1996 có thể hữu ích cho các polyme tổng hợp[16].
B.7 Bộ hồ sơ tổng thể
vật liệu
Khi có thể được bảo mật, một bộ hồ sơ
tổng thể có thể được sử dụng để xem xét đơn đăng ký đang chờ cấp phép lưu hành
cho một trang thiết bị y tế cụ thể. Bộ hồ sơ tổng thể thường chứa thông tin chi
tiết về một công thức vật liệu cụ thể hoặc quá trình chế biến, được sử dụng
trong một trang thiết bị y tế. Đây là nguồn tham khảo cho phép bên thứ ba gửi
thông tin đến cơ quan quản lý. Bộ hồ
sơ tổng thể rất hữu ích để hỗ trợ tính tương đương của vật liệu hoặc tính phù hợp
của vật liệu đối với một hạng mục sử dụng cụ thể. Nội dung của tệp được coi là
thông tin bí mật thương mại hoặc bí mật thương mại.
Phụ
lục C
(tham
khảo)
Nguyên tắc thiết lập tương đương sinh học
C.1 Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
C.2 Nguyên tắc tương
đương sinh học
Khái niệm tương đương sinh học bao gồm
các yếu tố sau (Hình C.1):
- Tương đương hóa học: tình huống
trong đó các đặc trưng hóa học của hai vật liệu hoặc trang thiết bị y tế hoàn
toàn giống nhau, sao cho thành phần và quá trình chế biến không dẫn đến các mối
quan tâm về độc tính bổ sung hoặc khác nhau.
- Tương đương vật lý: tình huống trong
đó các đặc tính vật lý của hai vật liệu hoặc trang thiết bị y tế hoàn toàn giống
nhau, chẳng hạn như cấu hình, hình thái cấu trúc, hình thái bề mặt (theo ISO/TS
10993-19) và hình ảnh không dẫn đến các mối quan tâm về tính tương thích sinh học bổ
sung hoặc khác nhau.
- Tương đương vật liệu: tình huống
trong đó hai vật liệu hoặc trang thiết bị y tế thể hiện sự tương đương về hóa học
và vật lý.
- Tương đương tiếp xúc: tình huống
trong đó mục đích sử dụng lâm sàng của hai vật liệu hoặc trang thiết bị y tế đủ
giống nhau đến mức các điểm cuối của đánh giá sinh học được nhận dạng là giống
nhau theo A.1 trong TCVN 7391-1:2023 (ISO 10993-1:2018).
- Tương đương sinh học: tình huống
trong đó hai vật liệu hoặc trang thiết bị y tế chứng minh sự tương đương về vật
liệu và tiếp xúc.

Hình C.1 - Sơ
đồ mối quan hệ tương đương sinh học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình C.2 mô tả quá trình xác định sự
tương đương sinh học giữa hai trang thiết bị y tế.
Nếu tương đương sinh học được thiết lập,
điều này hoàn thành một cách thỏa đáng việc đánh giá rủi ro sinh học của một
trang thiết bị y tế mới hoặc đã được sửa đổi.
Nếu không thể thiết lập tương đương sinh
học, thì tính tương thích sinh học của một trang thiết bị y tế mới hoặc đã được
sửa đổi chỉ có thể được
thiết lập dựa trên sự tiếp xúc của chính trang thiết bị y tế đó, các đặc tính
hóa học, vật lý, độc học và sinh học.

Hình C.2 - Sơ
đồ quá trình tương đương sinh học
C.4 Các ví dụ về
tương đương hóa học
Danh sách các ví dụ sau đây được cung
cấp để hỗ trợ thiết lập tương đương hóa học (theo 5.3), khi đáp ứng
các yêu cầu về tương đương hóa học.
a) Thành phần hoặc hồ sơ chiết của vật
liệu được đề xuất tương đương với thành phần (nghĩa là cùng một hóa chất ở cùng
cấp độ hoặc thấp hơn và không có hóa chất mới) với thành phần của một vật liệu
đã được thiết lập lâm sàng và không có sự khác biệt đáng kể về các đặc tính vật
lý, hóa học, hình thái cấu trúc và hình thái bề mặt có thể ảnh hưởng đến an
toàn sinh học của trang thiết bị y tế.
CHÚ THÍCH: Nếu có sự gia tăng nhẹ của
bất kỳ hóa chất nào, có thể hợp lý để chứng minh cho sự tương đương của hóa chất
trong sự biến thiên thống kê của các phương pháp bán định lượng đang được sử dụng.
Việc sử dụng các chất chuẩn hiệu chuẩn trên nhiều loại hóa chất và nồng độ có
thể hữu ích cho phương pháp này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c) Một thành phần hoặc dư lượng hóa học
trong vật liệu đã được thiết lập lâm sàng được thay thế trong vật liệu được đề
xuất bằng thành phần hoặc dư lượng hóa học có hồ sơ an toàn về độc tính không
kém hơn thành phần hoặc dư lượng mà nó đang thay thế, giả sử mức độ phơi nhiễm
tương tự.
d) Sự khác biệt duy nhất giữa vật liệu
được đề xuất và vật liệu đã được thiết lập lâm sàng là vật liệu được đề xuất đã
loại bỏ hoặc giảm mức độ của phụ gia/chất gây ô nhiễm/dư lượng có trong vật liệu
đã được thiết lập lâm sàng.
e) Sự khác biệt duy nhất giữa vật liệu
được đề xuất và vật liệu đã được thiết lập lâm sàng là vật liệu được đề xuất được
sản xuất bằng cách sử dụng các điều kiện xử lý để duy trì hoặc giảm số lượng
và/hoặc mức các chất chiết trong vật liệu đã được thiết lập lâm sàng.
g) Cả vật liệu được đề xuất và vật liệu
đã được thiết lập lâm sàng đều đáp ứng các thông số kỹ thuật thành phần nghiêm
ngặt và có liên quan.
Phụ
lục D
(tham
khảo)
Nguyên tắc chiết mẫu
D.1 Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vì đặc trưng hóa học là một thuật ngữ
chung mô tả một số hoạt động riêng lẻ với các mục tiêu khác nhau (ví dụ: phân
tích thành phần, định dạng các chất chiết), rõ ràng là có rất nhiều biện pháp để
thực hiện chiết, trong đó các biện pháp thực hiện chiết được liên kết chặt chẽ
với mục tiêu của các đặc trưng. Do đó, việc chiết để hỗ trợ thiết lập thành phần
của trang thiết bị y tế được thực
hiện một cách nhất thiết và phù hợp khác với việc chiết được thực hiện để hỗ trợ
thiết lập hồ sơ chất chiết của trang thiết bị y tế trong các điều kiện sử dụng
lâm sàng điển hình của thiết bị.
Nói chung, có thể có bốn mục tiêu chiết
để đặc trưng hóa học:
- để thiết lập các khía cạnh thành phần
của cấu hình của một trang thiết bị y tế hoặc thành phần của vật liệu cấu tạo
(phân hủy, hòa tan hoặc chiết kỹ);
- để thiết lập hồ sơ chất chiết trong
trường hợp xấu nhất của một thiết bị y tế hoặc vật liệu dưới dạng tổng số chất
chiết trong trang thiết bị y tế (chiết kỹ) hoặc lượng tối đa có thể chiết trong
các điều kiện thực nghiệm xác định làm quá mức các điều kiện sử dụng lâm sàng của
thiết bị (chiết quá mức hoặc tăng tốc);
- để thiết lập hồ sơ chất chiết của một
trang thiết bị y tế hoặc vật liệu trong điều kiện sử dụng lâm sàng của nó (chiết
mô phỏng);
- để tương quan dữ liệu hóa học với kết
quả của thử nghiệm sinh học được thực hiện như được mô tả ở những phần
khác trong bộ TCVN 7391 (ISO 10993).
Mỗi trường hợp này sẽ được xem xét chi
tiết hơn trong các điều khoản tiếp theo liên quan đến việc thiết lập các điều
kiện chiết thích hợp phù hợp với mục tiêu của trường hợp đó.
Bất kể hình thức chiết được thực hiện
là gì, chiết là một quá trình phức tạp chịu ảnh hưởng của các khía cạnh bao gồm
thời gian, nhiệt độ, tỷ lệ diện tích bề mặt trên thể tích, môi trường chiết và đặc
điểm phân vùng của các chất trong mẫu thử liên quan đến môi trường chiết. Nói
chung, các điều kiện chiết không được làm thay đổi vật phẩm thử nghiệm, trừ khi
được chứng minh, vì việc thay đổi vật phẩm thử nghiệm có thể làm thay đổi số lượng
và/hoặc loại chất chiết từ vật phẩm thử nghiệm. Do đó, các tính chất hóa học của
vật liệu cũng có thể cần được xem xét khi lựa chọn các môi trường chiết, ví dụ:
để tránh hoặc tăng cường (ví dụ: trong các nghiên cứu về độ hòa tan) sự hòa tan
của vật liệu cơ bản.
Như đã nêu trong 3.8 của TCVN 7391-12
(ISO 10993-12), các điều kiện chiết được mong đợi ít nhất cũng có hiệu quả
tương đương với các điều kiện sử dụng trong lâm sàng. Tuy nhiên, đối với các
nghiên cứu chất chiết và chất ngâm chiết, tránh sử dụng các dung môi chiết có
thể gây phồng rộp đáng kể và/hoặc làm ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của mẫu thử. Sự
trương nở đáng kể có thể làm giảm dung môi chiết tự do, điều này có thể ảnh hưởng
đến nồng độ của chất chiết được và dẫn đến tính toán phân tích không chính xác.
Về hao hụt do bay hơi có thể xảy ra trong quá trình chiết, không nên bù lượng dung môi bị
hao hụt bằng cách thêm dung môi bổ sung sau khi chiết xong: thay vào đó, cần thực
hiện các bước để giảm hao hụt do bay hơi (ví dụ bằng cách đậy các vật chứa mẫu),
hoặc thể tích dịch chiết cuối cùng phải được đo để tính toán sau này trên thiết
bị chiết. Việc đo thể tích dung môi để bù lại lượng dung môi bị hao hụt do trương
nở cần được thực
hiện thận trọng, vì lượng dung môi làm
trương nở một vật phẩm thử nghiệm có thể không biết và khó đo. Trong cả hai trường
hợp, thể tích chiết cuối cùng phải được đo và báo cáo cho các tính toán sau này
về các chất chiết được trên mỗi thiết bị. Hơn nữa, sự trương nở do phá hủy có
thể gây ra sự phân hủy vật liệu/trang thiết bị y tế và dẫn đến các mảnh vụn dạng
hạt, và các chất chiết và chất ngâm chiết mà nếu không thì không có; điều này
có thể gây trở ngại cho việc phân tích.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH: Đối với một số khu vực quy
định, chẳng hạn như Hoa Kỳ, ba dung môi (ví dụ: phân cực, không phân cực và bán
phân cực) được khuyến nghị cho việc cấy ghép lâu dài, trừ khi được chứng minh.
Ví dụ về các môi trường chiết có thể sử
dụng được trình bày trong Bảng D.1. Việc đưa các dung môi này vào Bảng D.1 chỉ
đóng vai trò là điểm khởi đầu cho việc lựa chọn môi trường dung môi và không phải
là lý do đầy đủ cho việc sử
dụng chúng.
THẬN TRỌNG AN TOÀN - Nếu sử dụng các
dung môi nguy hiểm, cần tuân thủ các yêu cầu về sức khỏe nghề nghiệp.
Bảng D.1 -
Các thông số của dung môi thường được sử dụng để chiết các trang thiết bị y tế/vật
liệu polyme
Dung môia
Chỉ số phân
cực[50]
Điểm sôi
(°C)b
Cực
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
10,2
100
Bán phân cực
Dimetyl sulfoxit
7,2
189
Acetonitril
5,8
82
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5,1
65
Axeton
5,1
56
Ethanold
4,3
78
Tetrahydrofuran
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
65
Rượu n-propyl
4,0
97
Không phân cực
i-Propyl alcohol
3,9
82
Dichlorometan
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
41
Toluen
2,4
111
Cyclohexan
0,2
81
Heptan
0,1e
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
n-Hexan
0,1
69
a Những dung
môi này chỉ đóng vai trò là điểm khởi đầu để lựa chọn môi trường
dung môi và việc đưa chúng vào đây
không phải là lý do đầy đủ cho việc sử dụng chúng.
b Không liên
quan nhất quán đến độ phân cực của dung môi (ví dụ: Tài liệu tham khảo[49]), nhưng có
giá trị thực tế khi dung môi được làm bay hơi khỏi dịch chiết (ví dụ: trong các
cách tiếp cận thông thường đối với NVR trong chiết kỹ).
c Nước muối
sinh lý và hệ đệm dung dịch như nước muối đệm phosphat (PBS) cũng được coi là
dung môi phân cực. Mặc dù các giá trị cụ thể cho chỉ số phân cực của chúng
chưa được phát triển, sự có mặt của một lượng tương đối nhỏ các muối hòa tan
được cho là sẽ không làm thay đổi rõ rệt khả năng chiết của chúng.
d Dung dịch
nước của etanol sẽ có sự phân cực giữa etanol nguyên chất và nước; chỉ số phân cực
của chúng có thể được ước tính theo Công thức (D.1). Ví dụ: dung dịch ethanolaq
20 % sẽ có chỉ số phân cực ước tính là 9,0.
e Xem Tài liệu
tham khảo[32].
Chỉ số phân cực do Snyder phát triển
được lấy theo kinh nghiệm từ dữ liệu về hỗn hợp dung môi thường được sử dụng trong sắc
ký (pha tĩnh GC và pha động LC)[49]. Các phương án phân
loại khác đã được đề xuất để phân loại công suất chiết dung môi. Ví dụ: Hansen[35] đã mở rộng thông
số độ hòa tan Hildebrand ‘δ’[36], cố gắng tính đến
các ảnh hưởng của lực phân tán, mômen lưỡng cực và liên kết hydro. Khi các
thông số về độ hòa tan của Hansen có sẵn cho cả vật liệu và dung môi, chúng có
thể cung cấp ước tính về mức độ tương tác giữa vật liệu và dung môi; các vật liệu
có các thông số hòa tan tương tự có thể tương tác với nhau, dẫn đến độ hòa tan,
khả năng trộn lẫn hoặc trương nở. Một trong hai thang đo này có thể góp phần tạo
cơ sở cho việc lựa chọn môi trường chiết trong đặc trưng hóa học. Stults, et
al.[52] đã tổng hợp
một số thông tin về khả năng tương thích của nhựa và chất đàn hồi với một số
dung môi phổ biến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Pmix = (ΦA
x PA) + (ΦB
x PB) (D.1)
Trong đó:
ΦA là phần mol của
dung môi A;
PA là độ phân cực
của dung môi A;
ΦB là phần mol
của dung môi B;
PB là độ phân cực
của dung môi B.
D.2 Phương pháp tiếp
cận để thiết lập các khía cạnh thành phần cấu hình của một trang thiết bị y tế
hoặc thành phần của vật liệu cấu tạo
Các thuật ngữ thành phần áp dụng cho vật
liệu và cấu hình áp dụng cho trang thiết bị y tế đề cập đến cùng một khái niệm ở
chỗ chúng đều thiết lập các thực thể hóa học có trong vật phẩm thử nghiệm và lượng
chúng có mặt. Mặc dù có một số phương pháp thử không phá hủy nhất định để thiết
lập thành phần và cấu hình, nhưng thường thì cả hai đều yêu cầu hòa tan vật phẩm
thử nghiệm sau đó là thử nghiệm hóa học của dung dịch thu được. Khi quá trình
hòa tan được sử dụng, có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau bao gồm
phân hủy hoặc hòa tan.
Để thiết lập thành phần nguyên tố của
vật phẩm thử nghiệm bằng gốm, kim loại hoặc polyme, nên phân hủy bằng hóa chất
thích hợp (ví dụ: axit mạnh, bazơ hoặc enzym). Khi phân hủy vật phẩm thử nghiệm,
dạng hóa học của các thành phần của nó phần lớn bị phá vỡ và các thành phần thường
được chuyển đổi thành dạng nguyên tố của chúng. Mặc dù việc sử dụng phân hủy
thường không thích hợp để đánh giá các chất chiết, nhưng có thể tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thu thập thông tin không có sẵn về thành phần vật liệu và
thiết lập tổng số thực thể nguyên tố tuyệt đối và tối đa có trong một vật phẩm
thử nghiệm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các kết hợp dung môi/kháng dung môi có
thể có cho các polyme phổ biến được liệt kê trong Bảng D.2 và có thể được nêu
trong tài liệu [28]
[29]
[30] [31] [33] [43].
Khác với phần thảo luận chung này, phụ
lục này không cung cấp thêm thông tin chi tiết về việc thực hiện quá trình hòa
tan và phân hủy, vì các cách tiếp cận được áp dụng để thực hiện quá trình hòa
tan hoặc phân hủy khác nhau đáng kể trong từng trường hợp cụ thể.
Khái niệm chiết kỹ được thảo luận
trong Phụ lục D của TCVN 7391-12 (ISO 10993-12). Quá trình chiết kỹ thiết lập
lượng tối đa các chất chiết có thể được loại bỏ (chiết) khỏi trang thiết bị y tế
hoặc vật liệu và do đó xác định giới hạn trên về lượng chất ngâm chiết có thể
được thiết bị hoặc vật liệu thôi ra trong quá trình sử dụng lâm sàng/trọn vòng
đời. Trong nhiều trường hợp, chiết kỹ sẽ đạt được kết quả tương tự như phân hủy
hoặc hòa tan, nhưng không có sự hòa tan của trang thiết bị y tế.
Đối với các trang thiết bị y tế được cấy
ghép lâu dài, nên chiết kỹ. Nếu sử dụng phương pháp chiết quá mức, thì việc sử
dụng nó nên được chứng minh. Cũng cần nhận thấy là nếu tổng số chất chiết từ
quá trình chiết kỹ (hoặc chiết quá mức hợp lý) của một trang thiết bị y tế cấy ghép dài hạn
vượt quá mức phơi nhiễm hàng ngày cho phép, thì động học chiết (ví dụ để xác định
lượng thôi ra hàng ngày tối đa) có thể cần được đánh giá (ví dụ: bằng cách phân
tích lặp lại quá trình chiết được mô phỏng theo thời gian), hoặc thực hiện
nghiên cứu chất ngâm chiết, nếu có thể. Một chuyên gia về chất độc có thể được tư vấn
để thiết lập các dữ liệu cụ thể cần thiết để hỗ trợ đánh giá rủi ro khi cần hiểu
động học của quá trình thôi ra.
Bảng D.2 -
Các kết hợp dung môi/chất chống dung môi có thể có cho các polyme phổ biến
Polyme
Dung môia
Chống dung
môia
Polyetylen
(tỷ trọng cao)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Axeton,
MeOH, ête
Polyetylen
(tỷ trọng thấp)
Toluene
MeOH, ACN
Polypropylene
(chung)
Toluene
MeOH, ACN
Polypropylene
(atactic)
Các
hydrocacbon chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Polypropylene
(isotactic)
Xyleneb,
Decalineb, TCBb
Axeton,
MeOH, ête
Polybutadiene
Hydrocacbon,
benzen
Xăng, rượu, este,
xeton
Polyisoprene
Benzen
Xăng, rượu,
este, xeton
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
HFIP, axit
formic, DMF, m-cresol
MeOH, ACN
Polyurethanes
DMF
MeOH, ête
Polyeste
(trừ PET)
Toluen,
cloroform, benzen
MeOH, EtOH,
iPrOH, ête
PET
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
MeOH,
axeton
Polycarbonate
THF, DCM
MeOH, EtOH,
ACN
Poly (metyl
metacrylat)
Toluen,
cloroform, axeton, THF
MeOH, EtOH,
ACN, ête dầu mỏ
Poly (vinyl
clorua)
Toluen,
THF, DMF
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Poly
(vinylidene clorua)
THF,
dioxan, xeton, butylacetat
Hydrocacbon,
rượu, phenol
Poly (rượu
vinyl)
Nước,
formamide
Xăng,
hydrocacbon thơm, rượu
Polystyrene
Toluen,
cloroform, xyclohexanone, DCM
MeOH, EtOH,
ACN
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Toluen,
axeton
MeOH, EtOH,
ACN
Polysulphone
THF
THF-nước
gradient
Cao su
Toluen,
hydrocacbon clo hóa
MeOH, ACN,
xeton, este
Este
xenluloza
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hydrocacbon
béo
a Các chữ viết
tắt bao gồm:
ABS =
poly(acrylonitrile-butadien-styren);
ACN = axetonitril;
AE = etyl axetat;
DCM = diclometan;
DMF = dimetylamit;
HFIP = hexafluoroisopropanol;
PET = poly(etylen terephthalate);
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
THF = tetrahydrofuran;
MeOH = metanol;
EtOH = etanol;
iPrOH = rượu isopropyl.
b Thực hiện ở
nhiệt độ cao (> 130 °C).
Theo định nghĩa trong 3.15, chiết kỹ
bao gồm chiết liên tiếp vật phẩm thử nghiệm trong các điều kiện chiết liên quan
và bằng môi trường chiết liên quan và đạt được khi mức chất chiết được theo phương
pháp trọng lực (hoặc phép phân tích khác) trong bước chiết tiếp theo nhỏ hơn 10
% của cùng một chất chiết được trong dịch chiết ban đầu. Việc đạt được mức 10 %
cần thiết cho mỗi chất chiết riêng biệt có thể là một thách thức về mặt phân
tích và thực tế (ví dụ: khi mức 10 % thấp hơn LOQ của phương pháp, do đó, có thể
cần phải xác định mức chiết 10 % đã được thiết lập bằng các biện pháp thay thế
(ví dụ: tổng diện tích pic, TOC, cặn
không bay hơi). Các biện pháp thay thế như vậy cần được chứng minh. Trong một số
trường hợp, mức 10 % không thể đạt được trong một số lần chiết theo trình tự thực
tế. Trong những trường hợp này, nhà phân tích nên xem xét quá trình chiết
thay thế (ví dụ: sử dụng môi trường chiết có công suất chiết lớn hơn) để có thể
đạt được mức 10 % trong một số lần chiết liên tiếp hợp lý. Cũng có thể ước tính
mức phơi nhiễm trọn vòng đời từ các lượng liên tiếp được chiết, ngay cả khi không
đạt được mức 10 %.
Ngoài ra, Phụ lục D của TCVN 7391-12
(ISO 10993-12), mô tả một tập hợp các môi trường chiết [metanol, axeton,
isopropanol-hexan (50:50) và hexan] có thể được sử dụng, nếu thích hợp, trong các
thí nghiệm sơ bộ có mục đích tối ưu hóa trình tự chiết và thảo luận về nhu cầu
sử dụng các điều kiện chiết và môi trường chiết (bao gồm cả những điều kiện được
mô tả ở trên) không
dẫn đến sự thay đổi hóa học của vật phẩm thử nghiệm hoặc thực thể hóa học được
chiết. Bất kể các thông số chiết cụ thể được chọn là gì, mỗi bước của quá trình
chiết kỹ phải sử dụng các thông số chiết đồng nhất.
Các biện pháp để thực hiện các bước
chiết riêng biệt trong quá trình chiết kỹ liên tiếp là rất nhiều và rất đa dạng.
Kỹ thuật chiết chất lỏng cho polyme trải qua một thế kỷ phát triển và sử dụng
và có thể được chia thành hai loại "truyền thống" và "hiện đại".
Các kỹ thuật truyền thống, bao gồm chiết Soxhlet, đun sôi dưới điều kiện hồi
lưu, chiết trong bình lắc, và hiệu ứng sóng siêu âm được sử dụng rộng rãi ngay cả
ngày nay và ít nhiều đơn giản để thực hiện bằng cách sử dụng các thiết bị phòng
thí nghiệm cơ bản. Vì các kỹ thuật truyền thống đã được sử dụng trong một thời
gian dài, nên khả năng và tính năng của chúng đã được nhiều người biết đến và
ghi nhận. Tuy nhiên, chúng có thể có những thiếu sót thực tế đáng kể bao
gồm hiệu suất chiết thấp, thời gian chiết lâu và việc sử dụng số lượng lớn các
môi trường chiết không phù hợp với môi trường. Những thiếu sót như vậy, ở một mức
độ nhất định, được giải quyết bằng các kỹ thuật chiết hiện đại hơn, bao gồm chiết
có sự hỗ trợ của vi sóng, chiết chất lỏng có áp suất và chiết chất lỏng ở trạng thái
siêu tới hạn, thường sử dụng các phương tiện dụng cụ để tăng nhiệt và/hoặc áp
suất tại đó quá trình chiết xảy ra hoặc công suất của môi trường chiết[26][51]. Tuy nhiên,
thực tế là các kỹ thuật "hiện đại" hơn không làm cho chúng vượt trội.
Việc sử dụng bất kỳ kỹ thuật nào, "truyền thống" hay "hiện đại",
nên xem xét cẩn thận và đầy đủ các hạn chế về kỹ thuật và thực tế cũng như mức độ
phù hợp của chúng với việc sử dụng lâm sàng các trang thiết bị y tế.
Từ quan điểm thực tế, chiết liên tiếp
được tạo điều kiện thuận lợi khi trình tự chiết bao gồm số bước chiết ít nhất
có thể trong khi không làm giảm chất phụ gia và thành phần.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
D.3 Chiết quá mức để
ước tính hồ sơ chất chiết trong trường hợp xấu nhất của một trang thiết bị y tế
hoặc vật liệu
Như đã nêu trong 3.16 các chất chiết
được định nghĩa là các chất được thôi ra ra từ trang thiết bị y tế hoặc vật liệu
cấu tạo bằng các môi trường chiết và/hoặc các điều kiện chiết trong phòng thí nghiệm.
Tuy nhiên, rõ ràng là các điều kiện chiết được sử dụng để thiết lập cấu hình và
thành phần thường khắc nghiệt hơn nhiều so với các điều kiện sử dụng lâm sàng của
trang thiết bị y tế, và do đó các chất chiết được phát hiện trong các nghiên cứu
về thành phần ít có khả năng xuất hiện dưới dạng chất ngâm chiết từ thiết bị
trong điều kiện sử dụng lâm sàng của nó. Tuy nhiên, như đã thảo luận trong Điều
5, việc đánh giá trường hợp xấu nhất đối với việc ngâm chiết trang thiết bị y tế
là xem xét tình huống mà tất cả các thành phần và chất phụ gia bị ngâm chiết khỏi
trang thiết bị y tế một cách nguyên vẹn. Nếu đánh giá rủi ro độc tính trong trường
hợp xấu nhất này thiết lập rủi ro liên quan đến tổng lượng thành phần và phụ
gia có thể chấp nhận được thì việc đánh giá về cơ bản đã hoàn tất và trang thiết
bị y tế được chấp nhận là phù hợp với mục đích sử dụng mả không cần thử nghiệm
hóa chất nữa.
Tuy nhiên, nếu việc đánh giá rủi ro độc
tính thiết lập trường hợp xấu nhất do chiết kỹ có thể gây ra vấn đề an toàn,
thì một ước tính quá mức ít khắc nghiệt hơn, thực tế hơn về các đặc tính ngâm
chiết của trang thiết bị y tế là cần thiết và thích hợp. Ước tính như vậy thu
được bằng cách sử dụng các điều kiện chiết quá mức hợp lý mà phần nào phản ánh
gần hơn các điều kiện lâm sàng của việc sử dụng. Tất nhiên, chiết quá mức cũng
có thể hữu ích cho các mục đích khác, chẳng hạn như giải quyết các trang thiết
bị y tế có thời gian hạn
chế và kéo dài.
Mục đích của việc chiết quá mức là để
tạo ra một hồ sơ chất chiết ít nhất là hoàn chỉnh và phức tạp như hồ sơ chất
ngâm chiết trong trường hợp xấu nhất. Điều này có nghĩa là các chất chiết quá mức
bao gồm tối thiểu tất cả các chất ngâm chiết và các mức của các chất chiết quá
mức đáp ứng hoặc vượt quá các mức cao nhất mà chất ngâm chiết đạt được. Quá
trình chiết quá mức thiết lập trong một lần chiết lượng cao nhất của chất chiết
mà trang thiết bị y tế hoặc vật liệu có nhiều khả năng sẽ được thôi ra bên ngoài dưới dạng
chất ngâm chiết trong quá trình sử dụng lâm sàng. Việc chiết quá mức được thực
hiện bằng cách sử dụng các điều kiện chiết, theo một hoặc nhiều thứ nguyên, được
quá mức so với các điều kiện sử dụng lâm sàng. Ví dụ: một quá trình chiết quá mức
có thể được thực hiện khi xem xét một hoặc nhiều điều kiện dưới đây:
- Ở nhiệt độ vượt quá nhiệt độ sử dụng lâm sàng
(thường được gọi là chiết tăng tốc, xem D.4);
- Với thời gian vượt quá thời gian sử
dụng thuốc trên lâm sàng;
- Với môi trường có công suất chiết vượt
quá công suất của dung dịch làm trung gian tiếp xúc lâm sàng giữa trang thiết bị
y tế và người có khả năng bị ảnh hưởng;
- Ở tỷ lệ diện tích/thể tích bề mặt vượt quá mức
tiếp xúc sử dụng trong lâm sàng;
- Thông qua việc sử dụng chiết kỹ
(liên tiếp) cho các trang thiết bị y tế tiếp xúc hạn chế hoặc kéo dài.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu một quá trình chiết quá mức không
thể được chứng minh hoặc xác minh bằng thực nghiệm, thì việc sử dụng nó để tạo
ra thông tin hóa học làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro độc tính không được
khuyến khích.
Khi sử dụng chiết quá mức, cần tính đến
tính quá mức cả khi thiết kế chiết và giải thích kết quả của nghiên cứu chiết.
Một biện pháp để tính toán mức độ quá mức là thông qua hệ số quá mức (một hệ số
ước tính mức độ mà việc chiết quá mức làm khuếch đại các điều kiện sử dụng lâm
sàng, mặc dù các biện pháp khác có thể được hình dung và sử dụng. Bất kể biện
pháp nào, mức độ quá mức được thiết lập bằng cách đánh giá nghiêm ngặt việc chiết
và các điều kiện sử dụng lâm sàng và kiến thức về mức độ quá mức có thể được sử
dụng để điều chỉnh kết quả của quá trình chiết quá mức nhằm cho phép đánh giá rủi
ro độc tính của các chất chiết. Do đó, ví dụ: nếu số lượng trang thiết bị y tế
được chiết tăng gấp đôi so với số lượng được sử dụng trong lâm sàng, hoặc diện
tích bề mặt tiếp xúc của thiết bị với tỷ lệ thể tích dung dịch tiếp xúc của quá trình chiết
tăng gấp đôi mức độ quá mức này cần được tính đến khi dữ liệu về chất chiết được
báo cáo để đánh giá rủi ro độc tính. Cần lưu ý tỷ lệ diện tích bề mặt/thể
tích dung dịch được làm quá mức lên có thể không tạo ra các hồ sơ chất chiết
quá mức theo tỷ lệ, làm cho việc tính toán mức độ quá mức trở nên khó khăn hơn.
Hơn nữa, bất kỳ định lượng nào về mức độ quá mức chiết đều phải giải quyết liệu
nồng độ của các chất chiết đã đạt đến mức cân bằng dựa trên trạng thái cân bằng
hay chưa (nghĩa là các điều kiện chìm đã được duy trì).
Do có rất nhiều trang thiết bị y tế và các điều kiện
sử dụng khác nhau trong phạm vi của tiêu chuẩn này, nên việc cung cấp hướng dẫn
cụ thể ở đây là không
thực tế. Tuy nhiên, những điểm cần lưu ý trong việc thiết lập các điều kiện quá
mức được nêu như sau.
Các thứ nguyên cần xem xét khi thiết lập
và chứng minh cho môi trường chiết quá mức bao gồm độ pH (đối với môi trường lỏng)
và độ phân cực (đối với môi trường hữu cơ hoặc "giống hữu cơ"). Xem
xét pH của môi trường chiết, cần lưu ý pH là một thứ nguyên quá mức chỉ đối với
các chất chiết có tính axit hoặc bazơ (nghĩa là việc chiết các chất chiết trung
tính hoặc không ion hóa phần lớn không bị ảnh hưởng bởi độ pH của
môi trường chiết). Đối với các chất chiết có tính axit (ví dụ: axit stearic),
thường xảy ra trường hợp môi trường chiết có độ pH cao hơn độ pH của dung dịch
tiếp xúc lâm sàng sẽ chiết quá mức. Đối với chất chiết cơ bản (ví dụ:
dibenzylamine), thường xảy ra trường hợp môi trường chiết có độ pH thấp hơn độ
pH của dung dịch tiếp xúc lâm sàng sẽ chiết quá mức. Mức độ tích lũy chất chiết
trung tính sẽ không bị ảnh hưởng bởi pH trừ khi hợp chất trung tính đó phản
ứng như một hàm số của pH.
Đối với các chất chiết trung tính,
phân cực môi trường chiết có thể là một thứ nguyên quá mức. Ví dụ: việc tăng nồng
độ cồn của môi trường chiết so với dung dịch tiếp xúc lâm sàng thường sẽ dẫn đến
chiết quá mức.
Việc sử dụng nhiệt độ như một thứ
nguyên quá mức được đề cập trong D.4.
Các điều kiện chiết quá mức không được
làm thay đổi hồ sơ của chất chiết. Ví dụ: việc sử dụng nhiệt độ khắc nghiệt như
một biện pháp để thực hiện
quá trình làm quá mức có thể dẫn đến sự phân hủy của các chất chiết hoặc làm
thay đổi vật liệu của
trang thiết bị y tế (ví dụ: đóng rắn, liên kết chéo hoặc sự phân hủy vật liệu
polyme của thiết bị về cấu trúc, trạng thái vật lý thay đổi theo nhiệt độ chuyển
tiếp thủy tinh), bất kỳ điều nào trong số đó có thể dẫn đến thay đổi hồ sơ chất
chiết.
Khi quá trình chiết được làm quá mức bằng
cách sử dụng nhiều thứ nguyên (ví dụ: cả nhiệt độ và diện tích bề mặt), tác động
tổng hợp của nhiều thứ nguyên cần được xem xét và chứng minh, mặc dù việc làm như vậy có
thể là một thách thức về mặt khoa học.
Vì có thể thu được các hồ sơ của các
chất chiết bị thay đổi khi sử dụng các điều kiện chiết quá mức lên, do đó nên
giữ mức độ quá mức nhỏ đến mức cần thiết, giảm thiểu các tác động phức tạp có thể xảy ra
như sự phân hủy. Vì sự quá mức được chứng minh trong bối cảnh mà nó được sử dụng,
việc xác định xem sự quá mức là phù hợp hay vượt quá được thực hiện trên cơ sở
từng trường hợp và rất khó để đưa ra các hướng dẫn chung về thời điểm sự quá mức
không còn phù hợp và trở nên vượt
quá. Tuy nhiên, các điều kiện được làm quá mức cao có thể đến mức làm cho hồ sơ
các chất chiết được làm quá mức trở nên kém tương quan với hồ sơ các chất
chiết được sử dụng trong lâm sàng. Việc chứng minh cho bất kỳ sự quá mức nào,
nhưng đặc biệt là sự quá mức đáng kể nên xem xét khuynh hướng của chiết quá mức
là làm thay đổi vật lý hoặc hóa học của mẫu thử và/hoặc các chất được chiết, vì
không được phép chiết làm thay đổi mẫu thử hoặc các chất được chiết.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bất kỳ sự quá mức nào do quá trình chiết
hoặc việc thử nghiệm các dịch chiết đều phải được mô tả rõ ràng để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đánh giá rủi ro an toàn chính xác và đúng đắn và để đảm bảo
sự quá mức được tính đúng trong đánh giá rủi ro an toàn.
D.4 Chiết được mô phỏng
hoặc tăng tốc để thiết lập hồ sơ chất chiết sử dụng trong lâm sàng
Việc chiết quá mức tạo ra một đánh giá
trường hợp xấu nhất thực tế về sự ngâm chiết của một trang thiết bị y tế. Như
đã thảo luận trong Điều 5, nếu việc đánh giá rủi ro độc tính trong trường hợp xấu
nhất thực tế này thiết lập rủi ro liên quan đến các chất chiết chấp nhận được
thì việc đánh giá rủi ro về cơ bản đã hoàn thành và trang thiết bị y tế được chấp
nhận là phù hợp về mặt hóa học với mục đích sử dụng mà không cần thử nghiệm hóa
chất nữa.
Tuy nhiên, nếu việc đánh giá rủi ro độc
tính cho thấy trường hợp xấu nhất thực tế có thể gây ra rủi ro, thì một ước
tính thực tế hơn về các đặc tính ngâm chiết của trang thiết bị y tế là cần thiết
và thích hợp. Ước tính thực tế hơn này có được bằng cách sử dụng các điều kiện
chiết mô phỏng phản ánh rất chặt chẽ các điều kiện sử dụng lâm sàng hoặc các điều
kiện chiết tăng tốc mà thời gian sử dụng ngắn hơn so với sử dụng trong lâm
sàng.
Mục đích của chiết mô phỏng là tạo ra
hồ sơ chất chiết phù hợp chặt chẽ với hồ sơ chiết trường hợp lâm sàng. Chiết sử
dụng mô phỏng thiết lập lượng thực tế của các chất chiết sẽ được trang thiết bị
y tế hoặc vật liệu thôi ra dưới dạng chất lỏng trong quá trình sử dụng lâm
sàng/trọn vòng đời. Việc chiết mô phỏng được thực hiện trong những trường hợp
không thể đạt được các điều kiện sử dụng lâm sàng trong phòng thí nghiệm hoặc
khi việc sử dụng các điều kiện lâm sàng tạo ra một dung dịch để thử nghiệm
không thể phân tích theo cấu trúc để tìm các chất ngâm chiết. Nếu các điều kiện
sử dụng lâm sàng có thể được lặp lại trong phòng thí nghiệm và nếu dung dịch
thu được có thể được phân tích theo cấu trúc để tìm các chất ngâm chiết, thì giá trị của việc thực hiện
chiết mô phỏng sẽ giảm đi và sẽ là hợp lý khi đề xuất chiết mô phỏng được thay thế bằng một
nghiên cứu chất ngâm chiết
thực tế.
Việc chiết mô phỏng được thực hiện bằng
cách sử dụng các điều kiện chiết (nghĩa là nhiệt độ và thời gian) bắt chước các
điều kiện sử dụng lâm sàng. Ngoài ra và khi thích hợp, quá trình chiết mô phỏng
có thể được thực hiện với một môi trường có công suất chiết tương đương với
công suất của dung dịch làm trung gian tiếp xúc lâm sàng giữa trang thiết bị y
tế và người có khả năng bị ảnh hưởng. Khía cạnh của việc quy định một môi trường
chiết mô phỏng đã được thảo luận trước đây khi xem xét các phép chiết quá mức
(xem D.3). Xem xét khía cạnh này cụ thể hơn để mô phỏng chiết, có thể cung cấp
hướng dẫn cho các danh mục trang thiết bị y tế nhất định xem xét bản chất của
tiếp xúc cơ thể và vị trí ứng dụng. Ví dụ: nếu ứng dụng lâm sàng của thiết bị:
- liên quan đến việc tiếp xúc với máu,
thì hỗn hợp etanol trong nước có thể là một môi trường mô phỏng thích hợp. Nếu
hỗn hợp etanol/nước được sử dụng, cần chứng minh để chiết các mức tương đương của
chất ngâm chiết đích đối với máu (ví dụ: Tài liệu tham khảo[38]). Có thể sử
dụng các môi trường mô phỏng khác nếu hợp lý;
- sao cho trang thiết bị y tế kết nối
với người có khả năng bị ảnh hưởng thông qua dung dịch nước, sau đó môi trường
mô phỏng thích hợp là nước muối sinh lý, được điều chỉnh và đệm đến độ pH liên
quan hoặc dung dịch nước muối được điều chỉnh độ pH thích hợp có thành phần phù
hợp. Nếu ứng dụng lâm sàng của trang thiết bị y tế liên quan đến việc tiếp xúc
với nhiều dung dịch có độ pH khác nhau (ví dụ: bộ truyền dịch), thì phạm vi pH
phải được đặt trong khung đúng bởi hai môi trường mô phỏng, một môi trường được
điều chỉnh đến pH bằng 2 và môi trường kia được điều chỉnh và đệm để pH bằng 10
(xem Tài liệu tham khảo[40]). Nếu phạm vi pH của các dung dịch khi sử dụng
lâm sàng nhỏ hơn phạm vi này, có thể sử dụng các dung dịch chiết mô phỏng trong
phạm vi nhỏ hơn;
- sao cho trang thiết bị y tế giao tiếp
với người có khả năng bị ảnh hưởng thông qua một dung dịch có đặc tính ưa béo (ví
dụ: nhũ tương lipid, các sản phẩm thuốc có chứa chất hòa tan như polysorbate
80) thì một môi trường mô phỏng thích hợp phải được nhận dạng và chứng minh một
cách khoa học. Trong nhiều tình huống, hỗn hợp cồn/nước có tỷ lệ cồn so với nước
là hợp lý, có thể dùng như một môi trường mô phỏng phù hợp. Tài liệu tham khảo[38] chứa thông tin
có thể tạo thuận lợi cho việc nhận dạng và chứng minh các tỷ lệ như vậy đối với
một số dung dịch "giống hữu cơ" nhất định.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các thông số thiết kế khác thường được
khớp giữa chiết mô phỏng và các điều kiện sử dụng lâm sàng. Do đó, trong chiết
mô phỏng, tỷ lệ diện tích bề mặt/thể tích được sử dụng là tỷ lệ tương tự trong
quá trình sử dụng lâm sàng, nếu có thể. Ví dụ: đối với hệ thống truyền dịch, có
thể sử dụng diện tích bề mặt thiết bị và thể tích dịch truyền. Ngược lại, thường
sẽ khó xác minh tỷ lệ diện tích/thể tích bề mặt cho các thiết bị được cấy ghép,
vì có thể khó thiết lập thể tích chất lỏng sinh lý tiếp xúc với thiết bị theo
thời gian cấy ghép. Hơn nữa, chiết liên tiếp nói chung không thích hợp cho các
ca chiết mô phỏng, ngoại trừ các trang thiết bị y tế có thể tái sử dụng hoặc sử
dụng nhiều lần.
Trong một số trường hợp nhất định (chẳng
hạn như đối với các trang thiết bị y tế có thời gian tiếp xúc lâu dài), một
phép chiết mô phỏng có thể được thực hiện trong các điều kiện tăng tốc. Ví dụ: chiết
tăng tốc có thể được thực hiện ở nhiệt độ vượt quá nhiệt độ sử dụng lâm sàng và
thời gian ngắn hơn nhiệt độ sử dụng lâm sàng. Tuy nhiên, quá trình chiết tăng tốc
phải được thực hiện theo cách mà các điều kiện tăng tốc và điều kiện sử dụng
lâm sàng khiến thiết bị phải phơi nhiễm với cùng một mức nhiệt (nghĩa là cùng một
sự truyền nhiệt năng). Ngoài ra, việc tăng tốc có thể được thực hiện bằng cách
lắc trong quá trình chiết hoặc sử dụng các môi trường chiết tuần hoàn hoặc dòng
chảy. Tuy nhiên, mức độ tăng tốc của các phương pháp này có thể là một thách thức
để định lượng.
Trong một số trường hợp nhất định, chẳng
hạn như khi quá trình chiết tăng tốc có thể thích hợp để mô phỏng thời gian dài
hơn và sự xâm lấn lớn hơn của tiếp xúc, một phân tích cung cấp thông tin về động
học của quá trình chiết có thể cần thiết để thiết lập và chứng minh cho quy
trình chiết thích hợp.
Xem xét sự tăng tốc của các điều kiện
chiết, việc đẩy nhanh thời gian tiếp xúc giới hạn dưới 24 h là rất ít có ý nghĩa và
trong những trường hợp như vậy, các điều kiện sử dụng thực tế trên lâm sàng được
sử dụng trong quá trình chiết mô phỏng. Một logic tương tự áp dụng cho khoảng
thời gian tiếp xúc kéo dài từ 3 d trở xuống. Tuy nhiên, đối với thời gian tiếp
xúc dài hơn 3 d và đối với tất cả thời gian tiếp xúc lâu dài, có thể mong muốn
tăng tốc để tạo điều kiện chiết thích hợp.
Giống như trường hợp chiết quá mức đã
thảo luận trước đây, các điều kiện chiết tăng tốc phải được chứng minh đầy đủ
và chặt chẽ. Mặc dù một số điều kiện tăng tốc nhất định có thể hợp lý trong một
số trường hợp nhất định, nhưng điều kiện tăng tốc tương tự hoặc cùng một cách
chứng minh có thể không áp dụng được cho các tình huống khác.
Các điều kiện chiết tăng tốc không thuộc
phạm vi của tiêu chuẩn này và tình
trạng khoa học tốt hiện nay đã cung cấp hướng dẫn cụ thể về cách thiết lập và
luận giải cho việc chiết tăng tốc cũng như cách tính toán các hệ số tăng tốc
phù hợp và hợp lý cho tất cả các thiết bị y tế và điều kiện sử dụng lâm sàng của
chúng. Tuy nhiên, việc xem xét cẩn thận các tài liệu hóa học có thể gợi ý các
biện pháp để thực hiện các tính toán và luận giải đó.
Cần thận trọng trong việc lựa chọn các điều
kiện tăng tốc và ảnh hưởng của nhiệt độ cao hơn hoặc các điều kiện tăng tốc
khác lên động học chiết và cần xem xét cẩn thận nhận dạng của các chất chiết được
nếu sử dụng quá trình chiết tăng tốc. Điều kiện tăng tốc thích hợp là những điều kiện làm giảm
thời gian chiết đến một giá trị ngắn hơn thời gian sử dụng lâm sàng nhưng không
dẫn đến sự thay đổi hóa học của chính thiết bị hoặc đối với loại và lượng chất
được chiết. Bất kỳ mô hình hoặc khái niệm nào được sử dụng để thiết lập các hệ
số tăng tốc hoặc quá mức phải được chứng minh và lập thành văn bản.
D.5 Chiết được thực
hiện để đặc trưng hóa học tương quan với thử nghiệm sinh học
Thông thường, có hai lý do giải thích
mối tương quan giữa đặc trưng hóa học với thử nghiệm sinh học:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- để thiết lập kết quả thử nghiệm sinh
học của một hóa chất hoặc bộ hóa chất.
Khi đặc trưng hóa học tương quan, rất
có thể là định dạng các chất chiết, với thử nghiệm sinh học, lý tưởng nhất là khi thử
nghiệm hóa học và thử nghiệm sinh học xảy ra trên cùng một dịch chiết, vì như vậy
sẽ tạo ra mối tương quan chặt chẽ. Các phương pháp chiết thích hợp để thử nghiệm
hóa học và sinh học tương quan được nêu trong TCVN 7391-12 (ISO 10993-12), cụ
thể là trong Điều 10 và Phụ lục C. Khi có thể, các điều kiện chính xác được sử
dụng để tạo ra dịch chiết cho phép thử sinh học cũng phải được sử dụng để tạo
ra dịch chiết cho đặc trưng hóa học. Khuyến nghị này thường dễ đạt được hơn đối
với các thông số chiết như diện tích bề mặt đến thể tích, thời điểm chiết và
khoảng thời gian chiết. Tuy nhiên, có thể khó thực hiện theo khuyến nghị này
hơn khi xem xét môi trường chiết. Như đã lưu ý trong C.7 của TCVN 7391-12 (ISO
10993-12), "các môi trường được chọn làm môi trường chiết (để thử nghiệm
sinh học) phải phù hợp để sử dụng trong các hệ thống thử nghiệm sinh học cụ thể".
Mặc dù khuyến nghị như vậy chắc chắn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thử
nghiệm sinh học, nhưng trong một số trường hợp nhất định, lại gây trở ngại cho việc
thử nghiệm hóa học, vì một môi trường chiết thích hợp để thử nghiệm sinh học có
thể không phù hợp với thử nghiệm hóa học. Trong những trường hợp như vậy, cần tìm
một môi trường chiết thay thế để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thử nghiệm
hóa học hoặc dịch chiết để thử nghiệm sinh học nếu sử dụng để có thể phân tích
được. Nếu sử dụng môi trường chiết thay thế thì môi trường chiết thay thế như vậy,
ngoài khả năng phân tích, lý tưởng phải có các đặc tính chiết tương tự như
môi trường chiết được sử dụng để thử nghiệm sinh học. Nếu sử dụng thao tác hóa
học (ví dụ tạo dẫn xuất) đối với dịch chiết, cần cẩn thận để tránh sự thay đổi
hóa học của một hoặc nhiều chất chiết.
Điều 10.3.5 của TCVN 7391-12 (ISO
10993-12), thiết lập các môi trường chiết thích hợp để thử nghiệm sinh học, bao
gồm:
- các môi trường chiết phân cực như nước,
nước muối sinh lý, môi trường nuôi cấy không có huyết thanh;
- các môi trường chiết không phân cực
như dầu thực vật mới tinh luyện;
- các môi trường chiết bổ sung như
ethanol/nước, etannlisaline, polyethylene glycol 400 (pha loãng đến áp suất thẩm
thấu sinh lý), dimethylsulphoxide và môi trường nuôi cấy với huyết thanh.
Một số môi trường chiết này có thể dễ
dàng thích hợp để thử nghiệm hóa học và do đó nên được sử dụng cho cả thử nghiệm
sinh học và hóa học khi mong muốn có sự tương quan giữa hai phương pháp này.
Môi trường chiết như vậy có thể bao gồm nước, nước muối sinh lý, etanol/nước,
etanol/nước muối và dimetylsulphoxit.
Các môi trường chiết khác được liệt kê
trước đây có thể có hoặc có thể không khả thi về mặt phân tích từ quan điểm đặc
trưng hóa học. Nếu có thể thiết lập một môi trường chiết như vậy có thể phân
tích được từ khía cạnh hóa học, thì môi
trường đó phải được sử dụng cho cả thử nghiệm sinh học và hóa học. Nếu môi trường
không thể phân tích được, thì môi trường thay thế nên được sử dụng để thử nghiệm
hóa học.
Do mục đích của việc sử dụng môi trường
thay thế là để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện ra các tác nhân hóa học chịu
trách nhiệm cho kết quả xét nghiệm sinh học, nên bất kỳ môi trường thay thế nào hoàn
thành mục tiêu này đều là dung môi thay thế thích hợp. Các môi trường chiết thay
thế tiềm năng có thể được sử dụng để thử nghiệm hóa học và đáp ứng các yêu cầu
kép về công suất chiết gần đúng và tạo thuận lợi cho thử nghiệm phân tích được
nêu trong Bảng D.3. Mặc dù việc sử dụng các môi trường thay thế này không đảm bảo
cuộc điều tra hóa chất sẽ thành công, nhưng chúng thể hiện một điểm khởi đầu tốt
cho một cuộc điều tra như vậy và việc sử dụng chúng thường sẽ dẫn đến kết quả
tích cực mong muốn. Cần cung cấp sự chứng minh cho các môi trường
chiết thay thế đã chọn. Việc chứng minh nên bao gồm thử nghiệm sinh
học xác nhận các hóa chất bị cáo buộc thực sự gây ra sự thất bại của thử nghiệm
sinh học, cũng có thể xác nhận mối quan hệ nhân quả với thông tin từ các tài liệu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bảng D.3 -
Các môi trường chiết thay thế tiềm năng để tạo mối tương quan giữa hóa chất với chất thử
sinh học
Môi trường
chiết để thử nghiệm
sinh học
Môi trường
chiết thay thế tiềm năng để thử nghiệm hóa học
Nướcf
Nước
Nước muối sinh lýf
Nước muối sinh lý
Ethanol/nướcf
Ethanol/nước
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ethanol/nước muối
Dirnethylsulphoxidef
Dimethylsulphoxicle
Môi trường nuôi cấy không có huyết
thanh
1/9 (v/v) ethanol/nước muốia
Dầu thực vật
1/1 (v/v) etanol/nướcb (Tài
liệu tham khảo [25])
Polyetylen glycol 400e
1/3 (v/v) etanol/nướcc
(Tài liệu tham khảo [38])
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2/3 (v/v) etanol/nước muốid
(Tài liệu tham khảo [38])
a Thông thường, môi trường nuôi cấy chứa
tất cả các yếu tố mà hầu hết
vi khuẩn cần để phát triển, bao gồm: nguồn cacbon (chẳng hạn như glucose), nước,
các loại muối khác nhau, và nguồn axit amin và nitơ (ví dụ: thịt bò, chiết nấm
men). Để tính hàm
lượng muối của môi trường nuôi cấy, nước muối được sử dụng trong môi trường thay
thế. Để tính đặc
tính hữu cơ của môi trường nuôi cấy, 10 % (theo thể tích) phần etanol
được sử dụng trong môi trường thay thế.
b Khuyến nghị
này dựa trên các môi trường chiết thay thế được quy định và sử dụng rộng rãi
với bao bì thực phẩm. Môi trường chiết thay thế này (1/1 etanol/nước) được chấp
nhận đối với hầu hết các polyme; tuy nhiên, đối với polyolefin phù hợp với 21
CFR 177.1520 và đồng trùng hợp etylen - vinyl axetat phù hợp với 21 CFR
177.1350, nên xem xét môi trường chiết thay thế 95 % hoặc etanol tuyệt đối.
c Nghiên cứu đã được
công bố lưu ý "glycol (như polyetylen glycol và propylen glycol) là chất
hòa tan yếu và có thể được mô phỏng bằng hỗn hợp etanol/nước có chứa 25 %
etanol hoặc ít hơn". Vì vậy, hỗn hợp 1/3 etanol/nước được khuyến nghị làm
môi trường mô phỏng thích hợp cho polyetylen glycol 400.
d Dựa trên
nghiên cứu đã được công bố, hỗn hợp etanol/nước 40 % (theo thể tích) được coi
là chất thay thế thích hợp cho máu và các chất liên quan đến máu, bao gồm cả
huyết thanh. Do đó, phần 40 % (theo thể tích) của môi trường thay thế (etanol)
được sử dụng để tính huyết thanh.
e Và các hỗn hợp nước
liên quan của nó.
f Những môi
trường này có thể phân tích nhanh và có thể dễ dàng được sàng lọc để tìm các
chất chiết. Do đó, các môi trường thay thế không được bảo hành.
CHÚ THÍCH 1: Cần nhấn mạnh về các ví dụ đối với
môi trường chiết được cung cấp trong Bảng D.3 chỉ nhằm mục đích
tương quan giữa các kết quả của thử nghiệm sinh học và hóa học. Các ví dụ này
không nhằm mục đích áp dụng cho việc lựa chọn và chứng minh các môi trường
chiết được sử dụng cho mục đích định dạng chất chiết hoặc chất ngâm chiết, mặc
dù trong một số trường hợp nhất định, các môi trường này có thể phù hợp
cho các mục đích đó. Hơn nữa,
cần lưu ý mặc dù những môi trường này có thể được áp dụng cho một số lượng lớn
các trang thiết bị y tế, nhưng không có môi trường ngâm chiết nào có thể áp dụng
cho mọi trang thiết bị y tế và mọi tình huống sử dụng lâm sàng. Do đó, việc sử
dụng những môi trường này hoặc bất kỳ môi trường nào khác nên được đánh giá
và xác minh trên cơ sở từng trường hợp.
CHÚ THÍCH 2: Việc đưa các môi trường
vào đây không hoàn toàn chứng minh cho việc sử dụng chúng trong các phép so
sánh hóa học-sinh học.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Với mức độ nhạy cảm có thể khác nhau đối
với thử nghiệm sinh học so với hóa học, các điều kiện chiết khác, chẳng hạn như
diện tích bề mặt chiết với tỷ lệ thể tích dung dịch chiết, có thể cần được điều
chỉnh để tạo điều kiện tạo ra mối tương quan hữu ích.
Phụ
lục E
(tham
khảo)
Tính toán và áp dụng ngưỡng đánh giá phân
tích (AET)
E.1 Thảo luận
Các phương pháp phân tích được sử dụng
để sàng lọc dịch chiết cho các chất được chiết phải thực hiện bốn chức năng:
a) phải phát hiện ra các chất chiết;
b) phải phân biệt giữa các chất chiết
để mỗi chất chiết cung cấp một phản hồi duy nhất;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
d) phải cung cấp thông tin để có thể
thiết lập nồng độ của chất chiết.
Xem xét các phương pháp sắc ký được sử
dụng để sàng lọc các dịch chiết cho các chất chiết hữu cơ, các
phương pháp này có thể có nhiều khả năng phát hiện các chất chiết hơn là nhận dạng chính
xác hoặc định lượng chính xác các chất chiết.
Khi phát hiện một chất chiết, cần phải
xem xét tác động an toàn mà chất chiết có thể có như một chất ngâm chiết. Tuy
nhiên, nếu không thiết lập được nhận dạng của chất chiết, thì không thể thực hiện
được đánh giá rủi ro độc tính của chất chiết này, như mô tả trong TCVN 7391-17 (ISO
10993-17). Hơn nữa, nếu chất chiết được định lượng không chính xác, thì kết quả
của các đánh giá rủi ro độc tính cũng có thể không chính xác.
Mục đích của phụ lục này là giải quyết
khía cạnh định lượng của sàng lọc
các chất chiết, đặc biệt xem xét vấn đề AET.
Các ngưỡng như TTC thiết lập liều lượng
chất ngâm chiết (và các tạp chất độc hại tiềm ẩn khác) mà dưới đó không có đủ số
lượng để gây ra độc tính, bất kể nhận dạng của các chất. Điều quan trọng cần
lưu ý là một số chất có độc tố cao (nghĩa là nhóm quan tâm) bị loại trừ khỏi
phương pháp tiếp cận TTC và cần loại trừ sự có mặt của chúng (xem TCVN 7391-17
(ISO 10993-17)) trước khi AET được áp dụng. Bất kỳ phân tích nhắm mục tiêu cụ
thể nào cần quan tâm đến trang thiết bị y tế cụ thể cũng phải được đánh giá riêng
lẻ, độc lập với AET.
Chất ngâm chiết có mặt ở các mức bên
dưới TTC được coi là an toàn thích hợp và không cần đánh giá thêm (nhận dạng và
định lượng). Về bản chất,
các ngưỡng này (ví dụ: TTC) kết hợp với một yếu tố thích hợp giải quyết độ
không đảm bảo của phương pháp phân tích, trở thành ngưỡng nhận dạng, vì các chất
được định lượng bằng và trên ngưỡng cần được nhận dạng để cho phép đánh giá độ
an toàn của chúng - trong khi các chất được định liều dưới ngưỡng được coi là
có rủi ro an toàn độc tính thấp có thể chấp nhận được mà không cần nhận dạng.
Khái niệm ngưỡng có thể được áp dụng
cho các chất chiết trong trường hợp các chất chiết được sử dụng để dự đoán trường
hợp xấu nhất thôi ra chất ngâm chiết từ các trang thiết bị y tế.
Việc áp dụng khái niệm ngưỡng yêu cầu
ngưỡng dựa trên liều lượng (TTC) được chuyển đổi thành ngưỡng dựa trên nồng độ
(AET), vì sự chuyển đổi như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định
đánh giá chất chiết dựa trên nồng độ của chất chiết được trong dịch chiết.
Một ngưỡng phân tích như vậy đã được gọi
là AET. Theo định nghĩa, AET thiết lập một ngưỡng cho việc đánh giá rủi ro độc
tính của các chất chiết hoặc chất ngâm chiết. Các chất chiết có nồng độ cao hơn
AET nên được nhận dạng và định lượng như một điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi
ro độc tính của chúng, vì có đủ khả năng các chất chiết có thể gây độc. Mặt
khác, các chất chiết có nồng độ thấp hơn AET không cần phải nhận dạng hoặc định
lượng để đánh giá rủi ro độc tính.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mối quan hệ giữa AET và các giới hạn
phân tích thường gặp, chẳng hạn như giới hạn phát hiện (LOD) và LOQ, như sau
đây. Vì AET là ngưỡng yêu cầu hợp chất chịu trách nhiệm cho phản ứng phân tích
phải được nhận dạng và định lượng, nên rõ ràng là phản ứng phân tích phải rõ
ràng trên nhiễu phân tích (được phát hiện) trước khi hợp chất nguồn của nó có
thể được nhận dạng. Vì vậy, AET phải lớn hơn hoặc bằng LOD vì AET
thấp hơn LOD sẽ chỉ ra phương pháp phân tích không có khả năng tạo ra các
phản ứng phân tích ở các mức nồng độ cần thiết cho các hợp chất liên quan. Mặc
dù LOD có thể không xác định được đối với các hợp chất được phát hiện trong quá
trình sàng lọc, nhưng LOD của một hoặc nhiều chất thay thế hoặc chuẩn thay thế
có liên quan có thể được sử dụng để đại diện cho LOD của phương pháp cho tất cả
các hợp chất mà phương pháp phù hợp. Cũng rõ ràng là nếu một mục đích của thử
nghiệm phân tích là định lượng thì AET phải cao hơn hoặc bằng LOQ. Tuy nhiên, cần
hiểu là các ước tính nồng độ bán định lượng thu được trong quá trình sàng lọc
không thể đáp ứng độ
chính xác nghiêm ngặt và mong đợi về độ chụm vốn có trong LOQ và do đó có thể
có trường hợp các nghiên cứu sàng lọc cung cấp ước tính nồng độ khi AET thấp
hơn LOQ được xác định nghiêm ngặt. Các ước tính nồng độ thấp hơn LOQ đã thiết lập
của một phương pháp có thể không đủ chính xác để hỗ trợ cho việc đánh giá rủi
ro độc tính hợp lệ. Cuối cùng, quan sát thấy AET cũng là một ngưỡng nhận dạng
và quá trình nhận dạng yêu cầu phản hồi chứa thông tin phức tạp và/hoặc nâng
cao hơn so với quá trình định lượng (nghĩa là định lượng thường có thể được thực
hiện ở nồng độ thấp hơn nồng độ cần thiết để nhận dạng). Trong trường hợp này,
AET có thể cao hơn LOQ nhưng vẫn không thể đảm bảo nhận dạng cho chất
phân tích có trong mẫu tại AET.
E.2 Tính toán AET
Việc chuyển đổi từ ngưỡng dựa trên liều
lượng (ví dụ: TTC) sang ngưỡng dựa trên nồng độ (AET) yêu cầu các đầu vào bao gồm:
- tần suất và thời gian sử dụng trang
thiết bị y tế trên lâm sàng;
- các điều kiện chiết khác nhau được sử
dụng để tạo ra hồ sơ chất chiết;
- độ không đảm bảo của phương pháp
phân tích.
Thời gian sử dụng lâm sàng của trang
thiết bị y tế có thể quy định giá trị thực tế được sử dụng cho ngưỡng dựa trên
liều lượng (ví dụ: TTC theo giai đoạn dựa trên thời gian)[18] trong khi tần
suất sử dụng lâm sàng thiết lập mức độ phơi nhiễm lâm sàng. AET tính bằng μg/mL
có thể được tính như đã nêu trong Công thức (E.1):

(E.1)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A là số lượng trang thiết bị y tế đã
được chiết để tạo ra dịch chiết;
B là thể tích của dịch chiết, tính bằng
mL;
C là mức độ phơi nhiễm lâm sàng với
trang thiết bị y tế (số lượng thiết bị mà người dùng sẽ phơi nhiễm
trong một ngày trong điều kiện thực hành lâm sàng bình thường);
DBT là ngưỡng dựa trên liều lượng (ví
dụ: TTC hoặc SCT), tính bằng μg/d, (nhà độc chất học nên được tư vấn
để chọn một ngưỡng cụ thể có thể hỗ trợ đánh giá rủi ro);
UF là hệ số không đảm bảo có thể được
áp dụng để tính đến độ không đảm bảo phân tích của các phương pháp sàng lọc được
sử dụng để ước tính nồng độ của chất chiết trong dịch chiết (xem E.3 để thảo luận
về cách xác định giá trị thích hợp để gán cho UF).
Quá trình xử lý chiết (ví dụ: các bước
pha loãng hoặc nồng độ) cần được xem xét trong quá trình tính toán nồng độ phân
tích và việc tính toán giá trị AET được điều chỉnh cho phù hợp.
Một số ví dụ về xác định AET được cung
cấp trong E.4 để
minh họa quá trình trong các cài đặt khác nhau. Các ví dụ này sử dụng các
giá trị cho các đầu vào khác nhau (ví dụ: UF) đã được chọn cho các mục đích
minh họa và lựa chọn này không có nghĩa là giá trị chính xác được sử dụng nên
được áp dụng đơn phương trong mọi trường hợp.
CHÚ THÍCH: Việc áp dụng Công thức
(E.1) cho việc cấy ghép lâu dài có thể yêu cầu kiến thức và xem xét động học
thôi ra của các thành phần cần quan tâm.
E.3 Xác định hệ số
không đảm bảo
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các biện pháp định lượng khác có thể tạo
ra các ước tính nồng độ chính xác cao. Ví dụ: nếu việc định lượng đạt được
thông qua việc sử dụng các đường chuẩn được tạo ra thông qua việc phân tích các
chất chuẩn xác thực được sử dụng trong các phương pháp phân tích đủ điều kiện,
thì ước tính nồng độ thu được đối với các chất phân tích được đánh giá chất lượng
sẽ có độ chính xác cao. Như đã nói ở trên, nếu các hệ số đáp ứng là không đổi,
thì việc định lượng bằng chuẩn thay thế cũng sẽ có độ chính xác cao.
Các phương án định lượng khác có thể tạo
ra các ước tính nồng độ có độ chính xác nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này; độ
chính xác cao hơn so với việc sử dụng hệ số đáp ứng của chất chuẩn thay thế
nhưng độ chính xác thấp hơn so với việc sử dụng đường hiệu chuẩn được tạo với chuẩn
tham chiếu xác thực. Ví dụ: hệ số
đáp ứng tương đối có thể thu được đối với chất chiết, trong đó hệ số đáp ứng
tương đối là tỷ số giữa phản ứng của chất chiết so với chuẩn thay thế ở nồng độ
bằng nhau của chất chiết và chất chuẩn thay thế. Sử dụng các hệ số đáp ứng
tương đối trong tài khoản định lượng và điều chỉnh sự khác biệt trong các hệ số
đáp ứng, chất chiết so với chất chuẩn thay thế.
Nhận thức được các hệ số đáp ứng đối với
các chất chiết và các chất chuẩn thay thế có thể khác nhau, AET được điều chỉnh
để tính đến các chất phân tích có phản ứng kém hơn. Việc điều chỉnh như vậy làm
tăng khả năng ngay cả một chất phân tích phản ứng kém cũng có thể được công nhận
là ở trên AET khi nó có mặt trong mẫu ở các mức lớn hơn hoặc bằng AET. Việc điều chỉnh
được thực hiện bằng cách thêm hệ số không đảm bảo (UF) vào tính toán của AET để
tính đến sự thay đổi của hệ số đáp ứng. Sử dụng UF giống như nguyên tắc tính
toán AET cuối cùng từ AET ước tính (ví dụ: xem Tài liệu tham khảo[45]).
Về bản chất, việc sử dụng UF điều chỉnh AET xuống giá trị thấp
hơn, đảm bảo các hợp chất phản ứng kém được đánh dấu thích hợp là bằng hoặc cao
hơn AET và do đó có thể được báo cáo.
Trong trường hợp sự thay đổi của hệ số
đáp ứng được biết là thấp có thể chấp nhận được, thì giá trị UF bằng 1 có thể
được chứng minh. Ví dụ về các trường hợp này là các phương pháp có hệ số đáp ứng
có thể so sánh được giữa các chất chiết được mong đợi và các chất chuẩn thay thế
được áp dụng, các phương pháp được đánh giá chất lượng cho các chất chiết được
nhắm mục tiêu và sử dụng hợp chất phản ứng kém làm chuẩn thay thế. Mặt khác,
giá trị của hệ số không đảm bảo dựa trên đánh giá về phương pháp phân tích mà
AET được áp dụng. Ví dụ: giá trị UF bằng 2 đã được đề xuất[39][45] là thích hợp,
trong một số tình huống nhất định, để sàng lọc các dịch chiết cho các chất chiết
hữu cơ thông qua GC-FID hoặc GC-MS, như các hệ số đáp ứng FID hoặc MS phân tích
cho chất chiết có phần nhất quán, có thể chiết thành chất chiết. Ngoài ra, UF đối
với các phương pháp phân tích khác được sử dụng để sàng lọc các chất chiết, chẳng
hạn như HPLC-MS, có thể cao hơn, do có sự thay đổi thường xuyên về hệ số đáp ứng
giữa các chất chiết
theo phương pháp này. Tại thời điểm hiện tại, không có hướng dẫn chung nào đề
xuất một giá trị cụ thể cho UF cho các phương pháp này; tuy nhiên, người dùng
nên xác minh các giá trị UF đã chọn.
Một cách tiếp cận để thiết lập và chứng
minh cho một UF cụ thể là phân tích thống kê cơ sở dữ liệu về các hệ số đáp ứng
cụ thể đối với
phương pháp phân tích đang được xem xét và tập hợp các chất chiết mà phương
pháp đó có thể áp dụng được. Trong cách tiếp cận này, giá trị của UF được liên
kết với độ lệch chuẩn tương đối của các hệ số đáp ứng theo Công thức (E.2):

(E.2)
trong đó: RSD là độ lệch chuẩn
tương đối của các hệ số đáp ứng từ cơ sở dữ liệu tham chiếu Công thức (E.2) giả
định sự phân bố bình thường nhiều hơn hoặc ít hơn của các hệ số đáp ứng, điều
này không được hiển thị cho tất cả các phương pháp phát hiện sắc ký. Cơ sở dữ
liệu về các hệ số đáp ứng được sử dụng để tính toán UF theo công thức này cần
được mô tả và xem xét lại để thiết lập xem liệu UF thu được có đủ bảo toàn để
tính đúng các chất phân tích hệ số đáp ứng thấp hay không. Trong một số trường
hợp nhất định, các phương thức thay thế để thiết lập UF có thể được xem xét và
chứng minh nếu được thông qua.
Công thức (E.2) tương đương với các
công thức do PQRI và Jordi đề xuất (xem Tài liệu tham khảo [41] và [46]).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong trường hợp độ lệch chuẩn lớn hơn
hoặc bằng giá trị trung bình (nghĩa là: RSD ≥ 1), UF không
thể được tính bằng Công thức (E.2), vì kết quả là vô cùng hoặc là số âm. Rõ
ràng một phương pháp phân tích với nhiều sự thay đổi trong các hệ số đáp ứng
không phải là tối ưu cho mục đích báo cáo dữ liệu là nền tảng của đánh giá rủi
ro độc tính. Cần xem
xét việc tối ưu hóa phương pháp để giảm sự thay đổi của hệ số đáp ứng.
Trong trường hợp không thể thiết lập
được sự khác biệt về hệ số đáp ứng giữa các giá trị chất chiết hoặc khi sự thay
đổi được thiết lập là lớn, giá trị
của UF có thể quá lớn (ví dụ: giá trị UF bằng 10 hoặc lớn hơn) đến mức AET được
điều chỉnh thấp đến mức khái niệm AET có ít giá trị thực tế (ví dụ: LoD hoặc
LoQ của phương pháp phân tích lớn hơn AET). Trong những trường hợp như vậy, cần
phải nhận dạng và định lượng tất cả các hợp chất liên quan đến tất cả các phản ứng
phân tích quan sát thu được từ các phép phân tích sàng lọc, vì tất cả các phản ứng
phân tích quan sát được có thể lớn hơn AET. Việc tối ưu hóa phương pháp để giảm
sự thay đổi của hệ số đáp ứng cần được xem xét trong những trường hợp như vậy.
Cần lưu ý việc sàng lọc các chất chiết
thường được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương pháp phân tích trực
giao và bổ sung, ví dụ: GC-MS và LC-MS. Việc sử dụng nhiều phương pháp phân
tích có thể làm giảm sự thay đổi của hệ số đáp ứng và có thể được xem xét trong
việc xác định UF cần thiết mà sau đó được áp dụng cho tất cả các phương pháp bổ
sung. Xem Tài liệu viện dẫn [56] và [57].
Trong bất kỳ trường hợp nào và trong mọi
trường hợp, việc sử dụng hệ số không đảm bảo, giá trị của hệ số không đảm bảo
được sử dụng và biện pháp thiết lập hệ số không đảm bảo phải luôn được chứng
minh.
E.4 Các ví dụ xác định
AET
VÍ DỤ A:
Xem xét một trang thiết bị y tế tiếp
xúc hạn chế (ví dụ: ống thông có bóng nong) trong đó một thiết bị duy nhất được sử dụng
trong lâm sàng và liệu pháp được hoàn thành trong vòng chưa đầy 1 ngày. Trong
nghiên cứu chiết, một thiết bị duy nhất được chiết trong 9,0 mL môi trường chiết.
Dịch chiết thu được không được pha loãng cũng không bị cô đặc. GC-FID được sử dụng
làm phương pháp phân tích; do đó, hệ số không đảm bảo bằng 2 được coi là phù hợp. Trong trường
hợp này, giá trị của DBT được đặt thành ICH M7 TTC cho các tạp chất có khả năng
gây đột biến[18], và DBT =
TTC = 120 μg/ngày (thời gian điều trị 24 h).
- A = 1 thiết bị
- B = 9,0 mL
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- UF = 2
và AET được tính theo cách áp dụng
Công thức (E.1):
AET (μg/mL) = {120 μg/ngày x [1 thiết bị/(1
thiết bị/ngày x 9,0 mL)]} ÷ 2
AET (μg/mL) = 6,6 μg/mL
VÍ DỤ B:
Hãy xem xét một trang thiết bị y tế được
sử dụng trong một liệu pháp được hoàn thành trong 7 ngày. Vào mỗi ngày trị liệu,
cần có 2 thiết bị. Trong nghiên cứu chiết, 4 thiết bị được chiết trong 100 mL môi
trường
chiết.
Dịch chiết thu được không được pha loãng cũng không bị cô đặc. Phương pháp phân
tích được hỗ trợ bởi cơ sở dữ liệu
hệ số đáp ứng, cơ sở dữ liệu này thiết lập các hệ số đáp ứng là nhất quán chấp
nhận được giữa các dữ liệu chất chiết. Trong trường hợp này,
- DBT = TTC = 120 μg/ngày (đánh giá M7
cho các tạp chất có khả năng gây đột biến, thời gian điều trị < 1 tháng),
- A = 4 trang thiết bị y tế,
- B = 100 mL,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- UF = 1
và AET được tính theo cách áp dụng
Công thức (E.1):
AET (μg/mL) = {120 μg/ngày x [4 thiết bị/(2
thiết bị/ngày x 100 mL)]} ÷
1
AET (μg/mL) = 2,4 μg/mL
VÍ DỤ C.1:
Hãy xem xét một trang thiết bị y tế được
cấy ghép vĩnh viễn (ví dụ: khung giá đỡ (stent) tim mạch) và một thiết bị duy
nhất được sử dụng. Trường hợp đây là mô cấy vĩnh viễn đòi hỏi nghiên cứu chiết
phải đầy đủ. Trong nghiên cứu chiết, 20 thiết bị được chiết trong 33,3 mL môi
trường chiết. Quá trình chiết kỹ được thực hiện trong 2 lần chiết liên tiếp, có
nghĩa là các mức chất chiết được có trong lần chiết thứ hai nhỏ hơn 10 % mức có
trong lần chiết thứ nhất. Dịch chiết thu được không được pha loãng cũng không bị
cô đặc. Phương pháp phân tích có một cơ sở dữ liệu hệ số đáp ứng thiết lập %RSD
của các hệ số đáp ứng là 25 %, gợi ý giá trị UF bằng 2 là phù hợp.
VÍ DỤ C.2:
Trong trường hợp này, vấn đề quan trọng
là thiết lập DBT thích hợp. Vì thiết bị là thiết bị cấy ghép vĩnh viễn, trường
hợp có khả năng bị ngâm chiết cao nhất là tất cả các chất chiết có trong trang thiết
bị y tế sẽ bị ngâm chiết ra khỏi thiết bị trong quá trình tiếp xúc với thiết bị/bệnh
nhân. Đây là lý do tại sao nghiên cứu chiết thích hợp để cấy ghép vĩnh viễn là
một cuộc chiết kỹ. Xem xét các chất chiết có khả năng gây đột biến, DBT bằng
120 μg/ngày là phù hợp, bất kể động học ngâm chiết, như được minh họa bên dưới.
Cần xem xét một chất gây đột biến, được
phát hiện sau khi chiết kỹ với mức 120 μg/ngày, tương ứng với 120 μg/thiết bị
trong ví dụ trên dựa trên một thiết bị duy nhất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nếu 120 μg/thiết bị ngâm chiết được
trong 31 ngày (1 tháng), lượng ngâm chiết được bằng 120/31 = 3,9 μg/ngày, thấp
hơn 20 μg/ngày, TTC cho loại thời lượng này trên mỗi ICH M7.
- Nếu 120 μg/thiết bị ngâm chiết được
trong 365 ngày (1 năm), lượng ngâm chiết được bằng 120/365 = 0,33 μg/ngày, thấp
hơn 10 μg/ngày, TTC cho loại thời lượng này trên mỗi ICH M7.
- 120 μg/thiết bị ngâm chiết được
trong 3 650 ngày (10 năm), lượng ngâm chiết được bằng 120/3 650 = 0,033 μg/ngày,
thấp hơn 1,5 μg/ngày, TTC cho loại thời gian này trên một ICH M7.
Lưu ý 20 μg/ngày trong 31 ngày sẽ là mức
phơi nhiễm 620 μg, 10 μg/ngày trong 365 ngày sẽ là mức phơi nhiễm 3 650 μg và
1,5 μg/ngày trong 3 650 ngày sẽ là mức phơi nhiễm 5 475 μg. Do đó, mỗi cách tiếp
cận nghiêm ngặt lý thuyết này sẽ được ước lượng ít hơn.
Trong trường hợp này, việc tính toán
AET tiến hành như sau:
- DBT = TTC = 120 μg/ngày (Tuy nhiên,
lưu ý DBT này được "phân bổ" qua cả hai bước chiết; do đó, DBT cho mỗi
bước chiết là 120
μg/ngày ÷ 2 dịch chiết = 60 μg/ngày),
- A = 20 trang thiết bị y tế,
- B = 33,3 mL,
- C = 1 trang thiết bị y tế/ngày,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
và AET được tính theo cách áp dụng
Công thức (E.1):
AET (μg/mL) = {60 μg/ngày x [20 thiết bị/(1
thiết bị/ngày x 33,3 mL)]} ÷
2
AET (μg/mL) = 18 [μg/mL]
VÍ DỤ C.3:
Vì thiết bị đã được chiết kỹ để sàng lọc các
hóa chất độc hại mà bệnh nhân có thể phơi nhiễm, việc áp dụng 1,5 μg/ngày mà
không cần sửa đổi là cách tiếp cận thận trọng nhất có thể được áp dụng để tất cả
các hóa chất độc hại có trong/trên thiết bị sẽ được nhận dạng/định lượng và đánh
giá rủi ro độc tính. Theo cách tiếp cận rất thận trọng này, DBT dự kiến sẽ
thành TTC bằng
1,5
μg/ngày và việc tính toán AET tiến hành như sau:
- DBT = TTC = 1,5 μg/ngày
(Tuy nhiên, lưu ý DBT này được "phân bổ" qua cả hai bước chiết; do
đó, DBT cho mỗi bước chiết là 1,5 μg/ngày ÷ 2 dịch chiết
= 0,75 μg/ngày)
- A = 20 trang thiết bị y tế,
- B = 33,3 mL,
- C = 1 trang thiết bị y tế/ngày,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
và AET được tính như đã cho bằng cách
áp dụng Công thức (E.1):
AET (μg/mL) = {0,75 μg/ngày x [20 thiết bị/(1
thiết bị/ngày x 33,3 mL)]} ÷ 2
AET (μg/mL) = 0,23 μg/mL
CHÚ THÍCH: Dữ liệu thiết lập động học
thôi ra thực tế của chất ngâm chiết có thể là đầu vào thiết yếu để thiết lập một
DBT bảo toàn thích hợp. Nếu động học thôi ra thực tế của chất ngâm chiết cho thấy
thời gian phơi nhiễm với chất chiết dưới 10 năm, thì dữ liệu động học có thể hỗ
trợ giá trị DBT cao hơn (xem ISO/TS 21726).
E.5 Sử dụng AET
Việc chuyển đổi DBT thành AET cho phép
một nhà hóa học phân tích giải quyết câu hỏi liệu một chất chiết cụ thể có cần
được nhận dạng và định lượng hay không. Tuy nhiên, các phương pháp phân tích
không tạo ra nồng độ một cách trực tiếp mà là một phản ứng theo đơn vị nên được
chuyển đổi thành nồng độ. Ví dụ: đầu ra của phép phân tích sắc ký của một mẫu
là một sắc ký đồ trong đó các chất chiết hiện dưới dạng các pic trên sắc ký đồ
(xem Hình E.1). Trong trường hợp này, pic A tương ứng với chất phân tích có
trong mẫu thử ở nồng độ bằng
với AET. Do đó, một đường AET nằm ngang có thể được vẽ trên sắc ký đồ bằng cách
sử dụng điểm cao nhất của A làm điểm tham chiếu. Các pic có phản ứng nằm trên
đường như vậy (ví dụ: pic B) có trong mẫu ở các mức trên AET và chất chịu trách
nhiệm về pic B phải được nhận dạng và báo cáo để đánh giá rủi ro độc tính. Các
pic có phản ứng nằm
dưới vạch (ví dụ: pic C) có trong mẫu ở các mức dưới AET và không cần nhận dạng
để đánh giá rủi ro độc tính.

Hình E.1 - Ứng dụng của AET
trong phân tích sắc ký
Mặc dù Hình E.1 minh họa ứng dụng của
AET về chiều cao pic, diện tích pic cũng có thể được sử dụng để so sánh các pic
chất chiết riêng
lẻ với AET và có thể thích hợp hơn. Hơn nữa, trong khi ví dụ và minh họa này
liên quan cụ thể đến phân tích sắc ký, khái niệm AET có thể áp dụng rộng rãi
cho nhiều kỹ thuật phân tích.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thuật ngữ "'nhóm quan tâm"
đã được áp dụng cho những tập hợp hợp chất có các nhóm cấu trúc có hiệu lực cao
đến mức lấy vào thậm chí thấp hơn TTC sẽ có khả năng gây ra rủi ro đáng kể về an
toàn cho bệnh nhân, bao gồm, nhưng không nhất thiết giới hạn ở, rủi ro gây ung
thư. Các loại hợp chất bao gồm các nhóm quan tâm được mô tả trong ISO/TS 21726.
Một số chất màu cũng có thể có khả năng liên quan và cần được xem xét để loại
trừ AET. Xem thêm Tài liệu tham khảo [42] và TCVN 7391-17 (ISO 10993-17).
Quy ước đã được thiết lập trước đây là
các chất chiết dưới AET được coi là an toàn về mặt độc tính học bất kể nhận dạng
của chúng rõ ràng là không áp dụng cho một nhóm quan tâm, vì theo định nghĩa,
nhóm có thể gây ra rủi ro ngay cả ở nồng độ thấp hơn AET. Vì AET vừa là ngưỡng
nhận dạng và định lượng, nên các nhóm quan tâm đưa ra một tình huống khó phân
tích theo nghĩa là không thể biết liệu một hợp chất có nồng độ nhỏ hơn AET có
phải là từ một nhóm quan tâm hay không trừ khi hợp chất được nhận dạng tại mức
độ mà cấu trúc phân tử của nó có thể được thiết lập đủ chi tiết để cho phép
đánh giá rủi ro độc tính. Mặc dù có một số lựa chọn để điều chỉnh
AET với các nhóm nghiên cứu tiềm năng cần quan tâm, nhưng một số lựa chọn không
thực tế. Ví dụ: việc bác bỏ khái niệm AET dựa trên khả năng có thể có một nhóm
quan tâm có thể là một phản ứng thận trọng quá mức đối với một trường hợp xác
suất tương đối thấp. Thay vào đó, quyết định là có chấp nhận rủi ro thấp của một
nhóm quan tâm và áp dụng AET cho tất cả các phản hồi phân tích hay thực hiện thử
nghiệm với mục đích thiết lập liệu một hoặc nhiều chất từ một nhóm quan tâm có
thể có mặt hay không. Để tạo thuận lợi cho quá trình ra quyết định, cách tiếp cận
sau đây được khuyến nghị.
- Khi có bằng chứng thực nghiệm hoặc
lý do cơ bản để nghi ngờ có thể có một nhóm quan tâm, thì sự vắng mặt chung của
các nhóm quan tâm phải được thiết lập bằng cách thu thập thông tin và tài liệu
thích hợp, hoặc các chất chiết phải được sàng lọc để tìm các chất tiềm
năng được nhắm mục tiêu từ nhóm quan tâm. Trong trường hợp không có nhóm quan
tâm, AET có thể được áp dụng cho tất cả các phản hồi phân tích. Nếu có các nhóm
quan tâm thì AET chỉ có thể được áp dụng cho các phản hồi phân tích không thuộc
nhóm quan tâm. Các phản hồi phân tích liên quan đến một chất thuần tập phải được
đánh giá an toàn dựa trên nồng độ của chất thuần tập và dữ liệu an toàn về độc
tính của nó.
- Khi không có bằng chứng thực nghiệm
hoặc một lý do tổng hợp nào cho thấy có thể có một chất thuần tập, thì có thể kết
luận khó có thể có một nhóm quan tâm và AET có thể được áp dụng cho tất cả các
phản hồi phân tích.
Phụ
lục F
(tham
khảo)
Đánh giá chất lượng các phương pháp phân tích
được sử dụng cho các chất chiết/ngâm chiết
Một phương pháp phân tích được đánh
giá chất lượng để thiết lập phù hợp với mục đích đã định. Trong các nghiên cứu
về chất chiết/ngâm chiết, các phương pháp phân tích phục vụ một trong hai mục
đích; sàng lọc mẫu đối với chất phân tích không được quy định và mẫu thử đối với
chất phân tích được quy định (được nhắm mục tiêu). Vì những mục đích này khá
khác nhau, nên việc đánh giá chất lượng sẽ khác nhau là điều hợp lý.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- các thông số đánh giá chất lượng
liên quan;
- các biện pháp thử nghiệm mà qua đó
các thông số đánh giá chất lượng sẽ được đánh giá;
- kỳ vọng về tính năng cho từng tham số.
Các thông số đánh giá chất lượng liên
quan cụ thể đến các phương pháp sàng lọc bao gồm:
- độ nhạy cảm, vì dự kiến LOQ của
phương pháp nhỏ hơn hoặc bằng ngưỡng báo cáo (lưu ý kỳ vọng này được thảo luận
chi tiết hơn trong Phụ lục E);
CHÚ THÍCH 1: Trong trường hợp
ngưỡng báo cáo rất thấp, có
thể không đạt được LOQ nhỏ hơn hoặc bằng ngưỡng báo cáo, trong những
trường hợp như vậy, nên sử dụng LOQ thấp nhất có thể đạt được một cách hợp lý
và tất cả các chất phân tích trên LOQ này phải được báo cáo. Nếu LOQ cao hơn
AET, điều này cần được giải thích và chứng minh.
- tính đặc hiệu, là khả năng đánh giá
rõ ràng chất phân tích khi có các thành phần khác có thể được mong đợi trong mẫu;
- độ chính xác, được coi là khả năng tạo
ra một phản hồi có thể so sánh với giá trị thực (ví dụ: nồng độ đo được trong dịch
chiết có chất tăng vọt
tương đương với lượng tăng vọt). Độ chính xác của các xét nghiệm sàng lọc thường
được thực hiện bằng cách sử dụng các chất thay thế đại diện cho các chất chiết;
- độ chụm, được coi là sự thay đổi
trong các phép phân tích lặp lại của cùng một dịch chiết hoặc một dung dịch
tiêu chuẩn có chứa chất chiết hoặc chất ngâm chiết;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH 2: Các mục tiêu của tham số
này có thể đạt được trong quá trình thiết lập LOQ cùng với các kết quả về tính
phù hợp của hệ thống.
CHÚ THÍCH 3: Có thể cần pha loãng nếu
chất phân tích quan tâm rõ ràng nằm ngoài dải.
Các thông số đánh giá chất lượng có
liên quan cụ thể đến các phương pháp xây dựng mục tiêu bao gồm:
- độ nhạy cảm, có liên quan trong trường
hợp phạm vi của phương pháp bao gồm hoặc gần với LOQ;
- tính đặc hiệu, như được mô tả cho
các phương pháp sàng lọc;
- độ chính xác, như được mô tả cho các
phương pháp sàng lọc; tuy nhiên, trái ngược với các thử nghiệm sàng lọc, độ chính
xác trong việc xác định mục tiêu được thực hiện với các chất thực sự được nhắm
mục tiêu;
CHÚ THÍCH 4: Các mẫu tạo gai có thể giúp xác định
độ thu hồi.
- độ chụm, như được mô tả cho các
phương pháp sàng lọc;
- dải động, được coi là dải nồng độ
trong đó phản ứng và nồng độ chất phân tích tạo ra phản ứng đó có thể liên
quan được bằng một hàm toán học đơn giản. Dải động có thể được thiết lập bằng
cách phân tích các dung dịch chuẩn ở các nồng độ khác nhau;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đánh giá chất lượng một phương pháp là
chắc chắn có liên quan cho cả phương pháp sàng lọc và xây dựng mục tiêu.
Các thông số tính năng bổ sung có thể
được bao gồm trong đánh giá chất lượng theo quyết định của người sử dụng phương
pháp và với lý do thích hợp. Các thông số bổ sung này có thể bao gồm: độ bền,
hiệu quả (đối với phép tách sắc ký, điều này có thể bao gồm độ phân giải), hiệu
ứng nền, độ ổn định của mẫu và chất chuẩn.
Với mục đích và chức năng khác nhau,
các quá trình đánh giá tiêu chuẩn của một phương pháp sàng lọc hoặc xây dựng mục
tiêu sẽ khác nhau, ngay cả khi các tiêu chí đủ điều kiện nói chung là giống
nhau. Ví dụ: trong khi cả hai phương pháp sàng lọc và xây dựng mục tiêu đều được
đánh
giá
chất lượng về độ chính xác, bản chất của hoạt động đánh giá chất lượng là khác
nhau. Mặc dù độ chính xác được thiết lập trong một phương pháp xây dựng mục tiêu
cụ thể cho các chất phân tích được quan tâm, trong một phương pháp sàng lọc, độ
chính xác được thiết lập một cách tổng quát hơn bằng cách xem xét một nhóm các
chất phân tích thay thế, Ngoài ra, khi các phương pháp sàng lọc cung cấp ước
tính nồng độ, tiêu chí chấp nhận cho độ chính xác là ít khắt khe hơn tiêu chí
chấp nhận về độ chính xác trong phân tích mục tiêu, trong đó nồng độ tính toán
được mong đợi là định lượng cao.
Khái niệm tương tự cũng được áp dụng
cho độ chụm, vì thường chấp nhận kỳ vọng về độ chụm đối với phương pháp xây dựng
mục tiêu khắt khe hơn kỳ vọng về độ chụm đối với phương pháp sàng lọc.
Tính đặc hiệu rất quan trọng
trong phương pháp sàng lọc vì việc nhận dạng các chất chiết riêng lẻ thuận lợi
nếu pic sắc ký liên quan đến chất chiết chỉ được tạo ra bởi chất chiết
đó. Trong phương pháp xây dựng mục tiêu, độ đặc hiệu cho hợp chất được nhắm mục
tiêu, nghĩa là pic sắc ký của hợp chất đích là tinh khiết, là cần thiết để cung
cấp mức độ chính xác và độ chụm cần thiết. Vì chất được nhắm mục tiêu được thiết
lập trước khi thực hiện phương pháp, tính cụ thể có thể được thiết lập trước.
Tuy nhiên, vì không thể thiết lập trước những gì chất phân tích có thể được
phát hiện trong quá trình sàng lọc, nên tính đặc hiệu của các phương pháp sàng
lọc thường được thiết lập tại thời điểm sử dụng. Do đó, độ đặc hiệu có thể được
đo và đánh giá khá khác nhau
trong sàng lọc so với xây dựng mục tiêu.
Một phương pháp được coi là đủ điều kiện
(nghĩa là phù hợp với mục đích sử dụng của nó) khi:
- đã thiết lập được phương pháp có thể
đáp ứng thường xuyên các kỳ vọng về tính năng có trong thủ tục đánh giá chất lượng
và
- tính phù hợp của hệ thống thích hợp
đã được thiết lập.
Ngoài việc có các khả năng hoạt động
được lập thành văn bản, các phương pháp phân tích được đánh giá chất lượng cần
có các biện pháp kiểm soát bổ sung có thể bao gồm, nhưng không giới hạn ở:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Phạm vi đã được phê duyệt và quy định,
được ghi lại trong SOP của phương pháp;
- mô tả khoa học chi tiết và giải
thích của phương pháp, thiết lập tính phù hợp của nó đối với mục đích sử dụng;
- yêu cầu phương pháp đủ điều kiện được
thực hiện bởi một đội ngũ nhân viên có trình độ và được đào tạo thích hợp;
- yêu cầu phương pháp được đánh giá chất
lượng được thực hiện trên thiết bị đo được hiệu chuẩn/được đánh giá chất lượng.
Xem xét cụ thể tính phù hợp của hệ thống,
thiết lập tính phù hợp của
hệ thống là đánh giá thời gian sử dụng nhằm giải quyết ba khía cạnh hoạt động của
phương pháp:
a) phương pháp đã được thiết lập và thực
hiện đúng cách;
b) phương pháp như đã thiết lập có khả
năng thực hiện ở cùng cấp độ
đã thực hiện trong quá trình đánh giá chất lượng;
c) phương pháp đã hoạt động được chấp
nhận trong suốt quá trình sử dụng.
Đánh giá tính phù hợp của hệ thống nên
tập trung vào số lượng các đặc tính tính năng tối thiểu mà từng đặc tính riêng
biệt và tổng hợp chứng tỏ ba tiêu chí tính năng này đã đạt được. Các thông số về
tính phù hợp của hệ thống cần được đánh giá và các tiêu chí chấp nhận liên
quan của chúng phải đủ nghiêm ngặt để đảm bảo phương pháp tạo ra dữ liệu có chất
lượng chấp nhận được nhưng không quá khắt khe đến mức các lần chạy phân tích có
thể chấp nhận được thường xuyên bị từ chối. Dữ liệu về tính phù hợp của hệ thống
được thu thập và đánh giá thống kê một cách thích hợp có thể cung cấp bằng chứng
chẩn đoán về sự thất bại của phương pháp sắp xảy ra.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ
lục G
(tham
khảo)
Báo cáo chi tiết đối với các phương pháp phân
tích và dữ liệu hóa học
G.1 Yêu cầu
chung
Điều 7 đưa ra các hướng dẫn chung về
loại thông tin hóa học và thành phần cần được báo cáo, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc sử dụng thông tin trong đánh giá rủi ro độc tính. Người sử dụng nên nhận
ra các chi tiết bổ sung có thể cần thiết để xem xét theo quy định đối với các
phương pháp phân tích và dữ liệu hóa học. Thông tin đó bao gồm:
G.2 Báo cáo dữ
liệu phân tích để tạo điều kiện đánh giá rủi ro độc tính
- Tính toán dữ liệu định tính được tạo
ra (ví dụ: nhận dạng chất chiết).
- Tính toán dữ liệu định lượng được tạo ra
(ví dụ: nồng độ của chất chiết, bao gồm thảo luận về cách tiếp cận định lượng
và cung cấp phân loại dữ liệu định lượng dưới dạng phân tích định lượng ước
tính, phân tích bán định lượng hoặc phân tích định lượng).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Danh sách các hợp chất hóa học trên
ngưỡng báo cáo. Danh sách như vậy có thể được cung cấp dưới dạng bảng và bảng
phải chứa các hợp chất hóa học bao gồm khối lượng của chúng, cấu trúc đề xuất,
công thức hóa học, tên hóa học IUPAC, tên hóa học thông thường) và các chữ viết
tắt, số đăng ký CAS, trạng thái nhận dạng của chúng (ví dụ: đã xác nhận, tin cậy,
dự kiến, suy đoán) và các mức đo được của chúng trong các mẫu liên quan. Thông
tin bổ sung, chẳng hạn như cấu trúc hóa học, có thể được cung cấp trong tài liệu.
Khi tìm thấy nhiều nhận dạng (ví dụ: một nhóm hợp chất như thường được báo cáo
trong các nhận dạng dự kiến), tất cả đều phải được báo cáo.
- Thông tin về việc sử dụng lâm sàng của
thiết bị, khi kết hợp với dữ liệu hóa học, cho phép tính toán lượng hóa chất
trong trường hợp xấu nhất theo các đơn vị thích hợp (ví dụ: μg/trang thiết bị y
tế) có thể được sử dụng dễ dàng trong đánh giá rủi ro độc tính (thiết lập con
người phơi nhiễm hàng ngày).
- Các số liệu, sơ đồ, v.v... thích hợp
minh họa dữ liệu phân tích và/hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét
và/hoặc giải thích dữ liệu (ví dụ: sắc ký đồ được dán nhãn, đường cong di chuyển).
- Phương pháp tiếp cận và giải quyết
cơ sở của nhóm các chất cần quan tâm (xem E.5).
Lưu ý việc báo cáo dữ liệu phân tích
phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính toán mức độ phơi nhiễm ước tính trên
lâm sàng với các hóa chất được báo cáo, vì đây là một khía cạnh thiết yếu của
việc đánh giá rủi ro độc tính. Bản thân các báo cáo phân tích không cần thiết
phải chứa các mức phơi nhiễm ước tính này.
Mặc dù thông tin nêu trên là đủ để cho
phép đánh giá rủi ro độc tính, nhưng thông thường không đủ để chỉ rõ và chứng
minh đầy đủ các phương pháp tiếp cận thử nghiệm và phân tích đã được sử dụng để
thực hiện một nghiên cứu cụ thể nhằm tạo ra dữ liệu và thông tin cụ thể. Thông
tin quan trọng này được sử dụng để thiết lập tính hợp lệ của thiết kế thử nghiệm,
khả năng áp dụng của phương pháp phân tích và tính phù hợp của các phương pháp
phân tích cụ thể được sử dụng cho mục đích dự kiến của chúng, chẳng hạn như
trong quá trình xem xét theo quy định. Do đó, một báo cáo nên bao gồm một số
thông tin sau để cung cấp bối cảnh thích hợp liên quan đến thiết kế thử nghiệm,
cách tiếp cận thử nghiệm và phương pháp thử nghiệm.
G.3 Chi tiết về
việc chuẩn bị vật phẩm thử nghiệm (sự chiết)
- Mô tả thích hợp và đầy đủ về vật phẩm
thử nghiệm, bao gồm các chi tiết xử lý liên quan (ví dụ: tiệt khuẩn, rửa sạch)
và các bộ phận được loại bỏ, nếu có;
- Phương pháp chiết có chứng minh (ví
dụ: phương pháp chiết quang, bình kín);
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Tỷ lệ môi trường chiết/mẫu chiết (ví
dụ: tỷ lệ diện tích bề mặt được chiết với thể tích dung dịch chiết);
- Thời gian và nhiệt độ chiết;
- Số chu kỳ chiết (ví dụ: chiết đơn lẻ
so với chiết kỹ);
- Các phương pháp xác định khi nào đạt
được các điểm cuối chiết kỹ (nếu thích hợp);
- Mô tả các thay đổi đối với môi trường
hoặc vật phẩm thử nghiệm (ví dụ: trang thiết bị y tế) sau khi chiết, bao gồm trạng
thái vật lý, hình dáng, màu sắc, độ trong hoặc sự có mặt của các hạt;
- Nếu các hạt có trong dịch chiết, mô
tả cách xử lý chúng, bao gồm các biện pháp tách hạt ra khỏi dịch chiết trước
khi phân tích và các biện pháp đặc trưng hạt về mặt hóa học, nếu thực hiện.
G.4 Chuẩn bị chiết
để phân tích
- Mô tả các độ pha loãng, nồng độ và
các bước xử lý quan trọng khác (ví dụ: trao đổi môi trường).
- Chứng minh cho tất cả các bước xử lý
quan trọng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Mô tả các điều kiện bảo quản và thời
hạn của chất chiết, nếu được bảo quản trước khi phân tích.
G.5 Mô tả các
phương pháp phân tích để thử nghiệm các chất chiết đã chuẩn bị (bao gồm tất cả
các phương pháp áp dụng)
- Chứng minh cho sự lựa chọn.
- Các điều kiện vận hành liên quan (ví
dụ: pha động sắc ký, các phương pháp, lưu lượng, thời gian chạy gradient, nhiệt
độ cột).
- Cột phân tích; Các thứ nguyên và pha
tĩnh được sử dụng.
- Nhà sản xuất thiết bị phân tích, mô
hình, các thành phần chính.
- Đối với các phương pháp sử dụng phát
hiện khối phổ:
- kỹ thuật ion hóa (APCI, ESI)
- chế độ phân cực (dương, âm),
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- độ phân giải khối lượng danh nghĩa.
- Đối với các phương pháp sử dụng phát
hiện tia cực tím, bước sóng phát hiện.
- Đối với các phương pháp phát hiện
khác, các tham số hoạt động chính.
- Các tiêu chuẩn thay thế được sử dụng,
với sự chứng minh và hệ số đáp ứng kết quả được áp dụng trong phân tích định lượng.
- Phương pháp tiếp cận định lượng được
áp dụng, với lý do:
- điểm cuối phân tích nào được sử dụng
để định lượng (ví dụ: tín hiệu MS hoặc phản ứng UV);
- mô tả về cách các chất thay thế và
chuẩn thay thế được áp dụng để định lượng các chất phân tích cụ thể (ví dụ: thời
gian lưu gần nhất, sự tương đồng về hóa học giữa chất chuẩn đối chiếu và chất
phân tích, hoặc việc sử dụng "trường hợp xấu nhất", nghĩa là hệ số
đáp ứng thấp nhất hoặc sử dụng giá trị trung bình hệ số đáp ứng).
- Mô tả về cách xác định và ấn định độ tin cậy đối
với các nhận dạng (ví dụ: định nghĩa của các thuật ngữ phân loại hoặc điểm đối
sánh), kèm theo sự chứng minh;
- Các biện pháp được sử dụng để giải
quyết các ẩn số (ví dụ: thử nghiệm phân tích bổ sung để nhận dạng hoặc giảm thiểu
rủi ro theo TCVN 7391-1 (ISO 10993-1));
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
G.6 Các chỉ số đo
lường đánh giá chất lượng cho các phương pháp phân tích
Tính phù hợp của hệ thống (theo thủ tục
đánh giá chất lượng trong Phụ lục F) bao gồm:
- LOD và LOQ (bao gồm cả cách LOQ được
thiết lập);
- Độ tuyến tính (các đường hiệu chuẩn);
- Tính đặc hiệu;
- Tính phù hợp của hệ thống;
- Độ thu hồi (độ chính xác);
- Độ chụm;
- Dải động;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thư mục tài
liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo chung có liên quan
[1] TCVN 6910-1 (ISO 5725-1), Độ
chính xác (độ đúng và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo - Phần 1:
Nguyên tắc và định nghĩa chung
[2] TCVN 6795-1 (ISO 5832-1), Vật cấy
ghép trong phẫu thuật - Vật liệu kim loại - Phần 1: Thép
không gỉ gia công áp lực
[3] TCVN 7391-2 (ISO 10993-2), Đánh
giá sinh học trang thiết bị y tế - Phần 2: Yêu cầu sử dụng động vật
[4] TCVN 7391-9 (ISO 10993-9), Đánh
giá sinh học trang thiết bị y tế - Phần 9: Khung nhận dạng và định lượng sản phẩm
phân hủy tiềm ẩn
[5] TCVN 7391-12 (ISO 10993-12), Đánh
giá sinh học trang thiết bị y tế - Phần 12: Chuẩn bị mẫu và mẫu chuẩn
[6] TCVN 7391-13 (ISO 10993-13), Phần
13: Nhận dạng và định lượng sản phẩm phân hủy từ
trang thiết bị y tế polyme
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[8] TCVN 7391-15 (ISO 10993-15), Đánh
giá sinh học trang thiết bị y tế - Phần 15: Nhận dạng và định lượng sản phẩm
phân hủy từ kim loại và hợp kim
[9] TCVN 13415-3 (BS EN 455-3), Găng
tay y tế sử dụng một lần - Phần 3: Yêu cầu và thử nghiệm đánh giá sinh học
[10] TCVN 9858-1 (ISO 22442-1), Thiết
bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 1: Áp dụng quản lý rủi ro
[11] TCVN 9858-2 (ISO 22442-2), Thiết
bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 2: Kiểm soát việc lập nguồn,
thu thập và xử lý
[12] TCVN 9858-3 (ISO 22442-3), Thiết
bị y tế sử dụng mô động vật và các dẫn xuất - Phần 3: Đánh giá xác nhận việc loại
trừ và/hoặc bất hoạt vius và các tác nhân gây bệnh xốp não lây truyền (TSE)
[13] USP 41, 2018, [1663] Assessment
of Extractables Associated with Pharmaceutical Packaging/Delivery Systems
[14] USP 41, 2018, [1664] Assessment
of Drug Product Leachables Associated with Pharmaceutical Packaging/Delivery
Systems
[15] Use of International Standard ISO
10993-1, Biological evaluation of medical devices - Part 1:
Evaluation and testing within a risk management process - Guidance for
Industry and Food and Drug Administration staff [viewed 2019-01-29], Available
from:
https://www.fda.gov/downloads/medicaldevices/deviceregulationandguidance/ guidancedocuments/ucm348890.pdf
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[16] OECD, 1996, Test No. 118:
Determination of the Number-Average Molecular Weight and the Molecular Weight
Distribution of Polymers using Gel Permeation Chromatography, OECD Guidelines
for the Testing of Chemicals, Section 1, OECD Publishing, Paris.
[17] OECD, 2000, Test No. 120:
Solution/Extraction Behaviour of Polymers in Water, OECD Guidelines for the
Testing of Chemicals, Section 1, OECD Publishing, Paris.
[18] ICH Technical Requirements for
Registration of Pharmaceutical for Human Use Draft Consensus Guideline, M7.
Assessment and Control of DNA Reactive (Mutagenic) Impurities in
Pharmaceuticals to Limit Potential Carcinogenic Risk. Current step 2 version; 6
February 2013.
[19] ICH Guideline for Elemental
Impurities [viewed 2019-01-29]. Available from: https://www.ich.org/fileadmin/Public_Web_Site/ICH_Products/Guidelines/Quality/Q3D/Q3D _Step2b.pdf
[20] Eur Ph., Ed. 9, 2016, Section
2.2.28, and Chapters 3.1 and 3.2.
[21] JP XVII, 2017 General
tests/plastic containers
[22] USP 41, 2018, [661] Plastic
packaging systems and their materials of construction
[23] USP 41, 2018, [1058] Analytical
instrument qualification
[24] ASTM F2129-17b, Standard Test
Method for Conducting Cyclic Potentiodynamic Polarization Measurements to
Determine the Corrosion Susceptibility of Small Implant Devices
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[26] Arias M., Penichet I., Ysambertt
F. et al., Fast supercritical fluid extraction of low-and high- density
polyethylene additives: comparison with conventional reflux and automatic
Soxhlet extraction. Journal of Supercritical Fluids. 2009; 50(1): 22-28
[27] Ball D., Blanchard J.,
Jacobson-Kram D. et al., Development of Safety Qualification Thresholds and
Their Use in Orally Inhaled and Nasal Drug Product Evaluation. Toxicological
Sciences. 2007; 97: 226-236
[28] Bart J.C.J., Additives in
Polymers - Industrial
Analysis and Applications, John Wiley & Sons, Inc.,
New York, (2005). (ISBN 0-470-85062-0)
[29] Bataillard P., Evangelista L,
Thomas M., in Plastics Additive Handbook, Zweifel E., (ed), Hanser Publishers,
Munich pp. 1047-1083 (2000)
[30] Brandrup J, Immergut E.H., Grulke
EA., (eds). Polymer Handbook, John Wiley & Sons, Inc., New York, (1999)
[31] Braun D., Simple Methods for
Identification of Plastics, Hanser Publishers, Munich (1996)
[32] Burdick & Jackson
Laboratories, Solvent guide. Published by Burdick and Jackson Laboratories;
McGaw Park, IL (1986)
[33] Freitag W., in
Kunststoff-Additive, Gachter R., Muller H., (eds), Hanser Publishers, Munich,
pp. 909-946 (1990)
[34] Gad-McDonald S., Gad C.S.,
Leachables and Extractables from Medical Devices, in Biomaterials, Medical
Devices, and Combination Products, CRC Press: 419-468. (2015)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[36] Hildebrand J.H., Scott R.L., The
solubility of nonelectrolytes. New York: Dover Publications (1964)
[37] International Union of Pure and
Applied Chemistry -
Macromolecular division - Commission
on macromolecular nomenclature: compendium of macromolecular nomenclature,
Prepared for publication by W. V. Metanomski, Blackwell Scientific Publications
Ltd., Oxford (1991)
[38] Jenke D., Liu N., Hua Y. et al.,
A means of establishing and justifying binary ethanol/water mixtures as
simulating vehicles in extractables studies. PDA J Pharm Sci Technol. 2015;
69(3): 366-382. Doi: 10.5731/pdajpst.2015.01046
[39] Jenke D., Odufu A., Utilization of
internal standard response factors to estimate the concentration of organic
compounds leached from pharmaceutical packaging systems and application of such
estimated concentrations to safety assessment. J. Chromatogr. Sci.
2012;50:206-212
[40] Jenke D., Establishing the proper
pH of simulating solvents used in organic extractables assessments for
packaging systems and their materials of construction used with aqueous
parenteral drug products. Pharm Outsourcing. 2014; 15(4):20, 22, 24-27
[41] Jordi M.A., Khera S., Roland K.
et al.,
Qualitative assessment of extractables from single-use components and the
impact of reference standard selection. J. Pharmaceutical and Biomedical
Analysis. 2018;150:368-376
[42] Koster S. et al., Food and Chem
Tox. 2011;49:1643-1660
[43] Krause A., Lange A., Ezrin M.,
Plastics Analysis Guide, Chemical and Instrumental Methods, Hanser Publishers,
Munich (1983)
[44] Marques M.R.C., Loebenberg R.,
Almukainzi M., Simulated Biological Fluids with Possible. Dissolution
Technologies [Viewed 2019-01-29] Available from: http://www.dissolutiontech.com/DTresour/201108Articles/DT201108_A02.pdf
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[46] Norwood D.L., Nagao L.M., Stults
C.L.M, Perspectives on the PQRI Extractables and Leachables “Safety Thresholds
and Best Practices" Recommendations for Inhalation Drug Products, PDA J
Pharm Sci and Tech 2013, 67 413-429
[47] Oyane A., Kim H-M., Furuya T. et
al., Preparation and assessment of revised simulated body fluids, J Biomed
Mater Res, 2003; 65A: 188 - 195
[48] Safety Thresholds and Best
Practices for Extractables and Leachables in Orally Inhaled and Nasal Drug
Products,PQRI Leachables and Extractables Working Group, September 9, 2006
[viewed 2019-01-29] Available from:
http://pgri.org/wp-content/uploads/2015/08/pdf/LE_Recommendations_to_FDA_09-29-06.pdf
[49] Snyder LR, Chapter 1 Theory of
chromatography, Editor(s): E. Heftmann, In Journal of Chromatography Library,
Elsevier, Volume 51, Part A, 1992, Pages A1-A68
[50] Snyder LR, Classification of the
solvent properties of common liquids. J Chromatogr Sci 1978:16:223-234
[51] Strandberg D., Albertsson A.C.,
Chromatographic analysis of antioxidants in polymeric materials and their migration
from plastics into solution. Adv Poly Sci. 2007; 211: 117-157
[52] Stults C.L.M., Creasey J.M.,
Development, optimization, and validation of methods for routine testing,
Editors: DJ Ball, DL Norwood, CLM Stults, LM Nagao in Leachables and Extractables
Handbook, John Wiley & Sons, Pages 449-506(2012)
[53] ISO/TS 10993-19, Biological
evaluation of medical devices - Part 19: Physico-chemical, morphological and
topographical characterization of materials
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[55] ISO/TS 21726, Biological
evaluation of medical devices - Application of the threshold of toxicological concern
(TTC) for assessing biocompatibility of medical device constituents approaches
are therefore less conservative. Bibliography Add the following references:
[56] JENKE D., CHRISTIAENS P., BEUSEN
J.M., VERLINDE P., BAETEN J., A practical derivation of the
uncertainty factor applied to adjust the extractables/leachables analytical
evaluation threshold (AET) for response factor variation. PDAJ Pharm Sci
Technol. 2021 [Online ahead of print] Available from https://journal.pda.org/content/early/2021/11/15/pdajpst.2021.012692
[57] JORDI M.A., ROWLAND K., LIU W.,
CAO X. , ZONG J., REN Y., LIANG Z., ZHOU X., LOUIS M., LERNER K.
Reducing ralative response factor variation using a multidetector system
forextractables and leachables (E&L) analysis to mitigate the need for
uncertainty factors. J. Pharm. Biomed. Anal. 2020; 186:1-14 Available from https://www.sciasedirect.com/science/article/pii/S073170_8520304283?via%3Dihub
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện
dẫn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4 Ký hiệu và
thuật ngữ viết tắt
5 Quy trình đặc
trưng
5.1 Yêu cầu
chung
5.2 Thiết lập cấu
hình trang thiết bị y tế và thành phần vật liệu
5.3 Đánh giá sự
tương đương vật liệu/hóa học với vật liệu hoặc trang thiết bị y tế đã được thiết
lập lâm sàng
5.4 Đánh giá sự
thôi ra hóa chất trong trường hợp xấu nhất giả định dựa trên tổng mức phơi nhiễm
với các thành phần hóa học của trang thiết bị y tế
5.5 Thiết lập
ngưỡng đánh giá phân tích
5.6 Ước tính lượng
hóa chất thôi ra; thực hiện nghiên cứu chiết
5.7 Đánh giá sự
thôi ra hóa chất ước tính (hồ sơ chất chiết)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.9 Đánh giá sự
thôi ra hóa chất thực tế (hồ sơ chất ngâm chiết)
5.10 Thoát khỏi
quá trình đặc trưng hóa học
6 Các thông số
và phương pháp đặc trưng hóa học
6.1 Yêu cầu chung
6.2 Thành phần vật
liệu
6.3 Chất chiết
và chất ngâm chiết
6.4 Thành phần cấu
trúc hoặc cấu hình
6.5 Phương pháp
phân tích
7 Báo cáo dữ liệu
đặc trưng hóa học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phụ lục B (tham khảo) Nguồn thông tin
để đặc trưng hóa học
Phụ lục C (tham khảo) Nguyên tắc thiết
lập tương đương sinh học
Phụ lục D (tham khảo) Nguyên tắc chiết
mẫu
Phụ lục E (tham khảo) Tính toán và áp
dụng ngưỡng đánh giá phân tích (AET)
Phụ lục F (tham khảo) Đánh giá chất lượng
các phương pháp phân tích được sử dụng cho các chất chiết/ngâm
chiết
Phụ lục G (tham khảo) Báo cáo chi tiết
đối với các phương pháp phân tích và dữ liệu hóa học
Thư mục tài liệu tham khảo
1) Silastice, Dacron, TetoronR,
Pellethane, Nylon, Teflon® là những ví dụ về các sản phẩm phù hợp có sẵn trên
thị trường. Thông tin này được cung cấp để tạo sự thuận tiện cho người sử dụng
tiêu chuẩn này và không phải là sự chứng thực của ISO đối với các sản phẩm này.