TIÊU
CHUẨN QUỐC GIA
TCVN
11697-1:2016
ISO
9355-1:1999
YÊU
CẦU ECGÔNÔMI ĐỐI VỚI THIẾT KẾ MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ BỘ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN -
PHẦN 1: TƯƠNG TÁC GIỮA NGƯỜI VỚI MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ BỘ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN
Ergonomic
requirements for the design of displays and control actuators - Part 1: Human
interactions with displays and control actuators
Lời nói đầu
TCVN 11697-1:2016 hoàn toàn tương
đương với ISO 9355-1:1999.
TCVN 11697-1:2016 do Ban kỹ thuật tiêu
chuẩn quốc gia TCVN/TC 159 Ecgônômi biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất
lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Bộ tiêu chuẩn TCVN 11697 (ISO 9355), Yêu
cầu ecgônômi đối với thiết kế màn hình hiển thị và bộ truyền động điều khiển
bao gồm các phần sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- TCVN
11697-2:2016 (ISO 9355-2:1999), Phần 2: Màn hình hiển thị;
- TCVN
11697-3:2016 (ISO 9355-1:2006), Phần 3: Bộ truyền động điều khiển.
YÊU CẦU
ECGÔNÔMI ĐỐI VỚI THIẾT KẾ MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ BỘ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN - PHẦN
1: TƯƠNG TÁC GIỮA NGƯỜI VỚI MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ BỘ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN
Ergonomic
requirements for the design of displays and control actuators - Part 1: Human
interactions with displays and control actuators
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này áp dụng cho việc thiết
kế màn hình hiển thị và bộ truyền động điều khiển trên máy. Tiêu chuẩn
này quy định các nguyên lý chung dành cho tương tác giữa người với
màn hình hiển thị và bộ truyền động điều khiển, nhằm giảm thiểu các lỗi thao
tác (của người vận hành) và đảm bảo tương tác hiệu quả giữa người vận hành và
thiết bị. Việc tuân thủ các nguyên lý đóng vai trò quan trọng khi một lỗi thao
tác (của người vận hành) có thể dẫn đến chấn thương hoặc ảnh hưởng tới sức khỏe.
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết
cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố
thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm
công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu
có).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
TCVN 11697-3 (ISO 9355-3), Ecgônômi -
Yêu cầu ecgônômi đối với thiết kế màn hình hiển thị và bộ truyền động điều khiển
- Phần 3: Bộ truyền động điều khiển;
ISO 9241-10:19961),
Ergonomic requirements for office work with visual display terminals (VDTs) - Part 14:
Dialogues principles (Các yêu cầu ecgônômi cho công việc văn phòng có sử dụng
thiết bị đầu cuối hiển thị hình ảnh (VDTs) - Phần 10: Các nguyên tắc đối thoại);
EN 418, Safety of machinery -
Emergency stop equipment, functional aspects - Principles for design (An toàn
máy - Dừng khẩn cấp thiết bị, các khía cạnh chức năng - Nguyên lý thiết kế);
EN 614-1, Safety of machinery -
Ergonomic design principles - Part 1: Terminology and general principles (An
toàn máy - Các nguyên lý thiết kế ecgônômi - Phần 1: Thuật ngữ và các nguyên lý
chung).
3 Thuật ngữ và định
nghĩa
Trong tiêu chuẩn này, sử dụng các thuật
ngữ và định nghĩa sau:
3.1
Bộ truyền động điều khiển (control
actuator)
Phần của hệ thống truyền động điều khiển
được thao tác trực tiếp bởi người vận
hành, ví dụ: bằng cách dùng áp lực.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Màn hình hiển thị (display)
Thiết bị dành để trình bày thông tin
có thể thay đổi với mục
đích làm cho mọi thứ hữu hình, nghe hoặc phân biệt được bằng xúc giác.
3.3
Người vận hành (operator)
Người hoặc nhóm người được giao nhiệm
vụ lắp đặt, vận hành, điều chỉnh, bảo trì, vệ sinh, sửa chữa hoặc vận chuyển
máy (EN 292-12)].
4 Nguyên lý thiết kế
đối với các mối quan hệ giữa người vận hành - nhiệm vụ
Các hệ thống người - máy được xem xét
trong tiêu chuẩn này tương tự như những vòng kín: máy hiển thị thông tin cho
người vận hành sử dụng bộ truyền động điều khiển để tác động đến máy, sau đó
máy sẽ cung cấp phản hồi cho người vận hành, v.v...
Các hệ thống người - máy có thể bao gồm
số lượng đơn vị hoặc phân hệ người - máy bất kỳ, mà tại đó một người vận hành
đơn lẻ tương tác với một máy hoặc một quy trình. Một vài phân hệ có thể hoạt động độc lập
hoặc tương tác với nhau. Khi xem xét những yêu cầu cụ thể dành cho một phân hệ
người - máy, cần đánh giá cách thức phân hệ tương tác với cả hệ thống xét trên
tổng thể.
Hơn nữa, các hệ thống người- máy là một
phần của những hệ thống phức tạp hơn. Ví dụ, môi trường vật lý (tiếng ồn, chiếu
sáng...) cũng như môi trường xã hội và tổ chức, có thể ảnh hưởng tới hiệu quả vận
hành của các hệ thống người - máy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một nhân tố quan trọng được xét đến
chính là yêu cầu về trình độ của người vận hành trong hệ thống để hoàn thành
nhiệm vụ được giao. Phụ lục A tóm tắt thông tin về khả năng của con người khi
tương tác với máy. Người thiết kế cần cân nhắc việc hoạch định phân bổ một chức
năng cụ thể trong hệ thống người - máy có phù hợp với khả năng của con người
hay không. Nếu không phù hợp, người thiết kế cần phải thiết kế lại hệ thống. Kết
quả của việc thiết kế lại này là một hệ thống (hoặc phân hệ) có thể không có sự
tham gia của người vận hành.
Nguyên lý tổng thể liên quan đến các hệ
thống người - máy là máy và các yếu tố có liên quan (màn hình hiển thị, các chức
năng điều khiển, các hướng dẫn...) cần phù hợp với người vận hành và nhiệm vụ
được giao. Để thực hiện
nguyên lý chung này, hệ thống máy phải được thiết kế sao cho phù
hợp với các đặc điểm của người sử dụng xét về mặt thể lực, tâm lý và xã hội.
Các điều sau đây giới thiệu về nguyên lý ecgônômi phải được xem xét khi thiết kế
một hệ thống người - máy. Một số hướng dẫn về các phương pháp có thể được sử
dụng để đạt được những nguyên lý này cũng sẽ được giới thiệu. Cần lưu ý, danh mục
này không đầy đủ chi tiết, nhưng nó cung cấp một chỉ dẫn đầy đủ về các biện
pháp thực hành cần được xét đến. ISO 9241-10 cung cấp thêm thông tin về các
nguyên lý này khi chúng được áp dụng cho các phần mềm.
Khi phải thực hiện theo những yêu cầu
này, điều quan trọng là các giải pháp đã chọn phải được kiểm tra căn cứ trên những
điều kiện thực tế (xem EN 614-1).
4.1 Sự phù hợp đối
với nhiệm vụ
Một hệ thống người - máy phù hợp với
nhiệm vụ nếu nó hỗ trợ người vận hành trong việc hoàn thành nhiệm vụ một cách
an toàn, năng suất, và hiệu quả.
4.1.1 Nguyên lý
phân bổ chức năng
Việc phân bổ các chức năng sao cho phù
hợp nhất giữa
người vận hành và máy cần được quyết định sau khi xem xét các yêu cầu về nhiệm
vụ, sức khỏe và các hạn chế của người vận hành.
Ứng dụng:
Đảm bảo máy không đặt ra những yêu cầu
không thể chấp nhận được đối với người vận hành, ví dụ như về tốc độ và độ phản
ứng chính xác, lực yêu cầu để vận hành bộ truyền động điều khiển, thận trọng đối
với những thay đổi nhỏ trong trạng thái hiển thị.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để phù hợp với các yêu cầu nhiệm vụ, các khả
năng cần phải được đưa ra nhằm giảm bớt độ phức tạp. Cần phải
đặc biệt lưu ý tới độ phức tạp của cấu trúc nhiệm vụ và dạng thức cũng như số
lượng
thông
tin người vận hành phải xử lý.
Ứng dụng:
Khi thiết kế tương tác người - máy, tốc
độ và độ chính xác là những biến số quan trọng cần được xem xét. Cần xác định
rõ những nhân tố ảnh hưởng tới các biến số.
Ví dụ, trong khi đọc kiểm tra (các
thông số), người vận hành đưa ra một đánh giá định tính rằng hệ thống có nằm
trong các biên độ cho phép hay không. Độ chính xác của các hoạt động đọc này có thể được
tăng cường nếu các con trỏ của màn hình hiển thị được sắp xếp theo một mẫu để có thể dễ
dàng xác định được một hay số con trỏ chệch hướng khỏi mẫu bình thường (xem
TCVN 11697-2 [ISO 9355-2]).
4.1.3 Nguyên lý tạo
nhóm
Khi sắp xếp các màn hình hiển thị
và bộ truyền động điều khiển để có thể dễ dàng kết hợp sử dụng bằng việc tuân theo
những thủ tục sau đây khi tiến hành nhóm các hạng mục.
Ứng dụng:
Tại nơi mà các bộ truyền động điều khiển
và màn hình hiển thị được vận hành theo một trình tự cố định, chúng phải được sắp
xếp theo như trình tự đó. Sự sắp xếp này hỗ trợ người vận hành ghi nhớ trình tự
và giảm thời gian
phản hồi, cũng như tạo ít lỗi hơn.
Tại nơi mà các bộ truyền động điều khiển
và màn hình hiển thị không được vận hành theo một trình tự cố định, thì việc tạo
nhóm cần được xác định rõ bằng cách sử dụng các khía cạnh như sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Tần suất sử dụng trong vận hành máy
theo quy định;
c) Sử dụng các yếu tố trong một
dãy con (ví dụ, các chức năng điều khiển khởi động như đánh lửa, van điều tiết và bộ khởi
động trên một chiếc ô tô);
d) Mối quan hệ chức năng giữa các yếu
tố (ví dụ: các tính năng điều khiển cần gạt nước và làm sạch trên ô tô).
Các khía cạnh trên không loại trừ lẫn
nhau và một số yếu tố có thể xuất hiện nhiều hơn những hạng mục khác.
Do vậy vị trí của màn hình hiển thị và
bộ truyền động điều khiển cần được bố trí sao cho:
a) Các mục quan trọng và thường được sử
dụng phải ở những vị trí dễ tiếp cận nhất;
b) Các mục trong các dãy con nên được
đặt cùng nhau;
c) Các mục có liên quan về chức năng
được đặt ở những nhóm tách biệt về hình ảnh và không gian với các mục khác.
Những màn hình hiển thị và các bộ truyền
động điều khiển quan trọng, như được sử dụng trong tình huống khẩn cấp, sẽ được
thiết kế và sắp xếp ở vị trí sao cho chúng có thể được sử dụng nhanh chóng và
chính xác. Hướng dẫn về các thiết bị dừng khẩn cấp được giới thiệu trong EN
418.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bộ truyền động điều khiển và màn hình hiển
thị cần được nhận dạng một cách dễ dàng.
Ứng dụng:
Các nhãn ghi, ký hiệu và các văn bản
thông tin hoặc biểu tượng khác cần được đặt trên hoặc liền kề với các bộ truyền
động điều khiển và màn hình hiển thị tại vị trí chúng có thể dễ dàng nhìn thấy
được trong khi vận hành các bộ truyền động điều khiển. Thông thường người ta lựa
chọn bố trí các phương tiện nhận dạng như vậy ở cả phía trên hoặc nằm trên bộ
truyền động điều khiển hay màn hình hiển thị.
4.1.5 Nguyên lý về
mối liên hệ vận hành
Bộ truyền động điều khiển và màn hình
hiển thị liên quan cần được bố trí để phản ánh được mối liên hệ vận hành giữa
chúng.
Ứng dụng:
Bộ truyền động điều khiển phải được đặt
liền kề với màn hình hiển thị liên quan nhằm làm cho mối liên hệ giữa
chúng trở nên rõ ràng
đối với người vận hành.
Hướng vận hành bộ truyền động điều khiển
phải phù hợp với hướng của các phản hồi hệ thống liên quan và/hoặc các chuyển động
hiển thị (xem TCVN 11697-2 [ISO 9355-2] và TCVN 11697-3 [ISO 9355-3]).
Nếu xảy ra lỗi trong hệ thống, thì nó
cần phải được người vận hành phát hiện nhanh nhất có thể.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giao diện người - máy cần được thiết kế
để có thể tự mô tả, điều này có nghĩa là người vận hành có thể dễ dàng nhận ra
màn hình hiển thị và các tính năng điều khiển cũng như hiểu được quá trình cơ bản.
4.2.1 Nguyên lý về
thông tin sẵn có
Thông tin về tình trạng của hệ thống
luôn có sẵn khi nhận được yêu cầu của người vận hành mà không gây cản trở tới
các hoạt động khác.
Ứng dụng:
Việc xác nhận một thao tác của người vận
hành đã được hệ thống chấp nhận phải được hiển thị ngay cho người vận hành mà
không bị chậm trễ không cần thiết. Nếu việc thực hiện bị kéo dài, người vận
hành cần được thông báo. Khi phù hợp, hệ thống sẽ trả lời ngay tức thì và đồng
thời hướng người vận hành tới bộ truyền động điều khiển liên quan. Đối với các
khoảng thời gian trễ lớn hơn 1 s, sự liên kết quan sát bị giảm bớt và phản hồi
sơ bộ trở nên cần thiết.
4.3 Khả năng điều
khiển
Người vận hành phải làm chủ hệ thống.
Điều này có nghĩa là hệ thống và các thành phần của nó sẽ hướng dẫn người vận
hành suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ trong khi hệ thống vẫn chịu sự điều khiển
trực tiếp của người vận hành. Người vận hành không nên bị chi phối bởi nhịp độ làm
việc vốn có trong hệ thống.
4.3.1 Nguyên lý dự
phòng
Cần đưa ra dự báo trước để bổ sung các
màn hình hiển thị và tính năng điều khiển tại nơi dự phòng thuận lợi an toàn
cho cả hệ thống.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong những tình huống nhất định, hiệu
quả và sự an toàn của một phân hệ thuộc vào khả năng trình bày thông tin bổ
sung của hệ thống tới người vận hành.
Thông tin quan trọng cần có sẵn từ các nguồn khác nhau. Liên quan đến đến các bộ
truyền động điều khiển, một số yêu cầu của hệ thống có thể đòi hỏi một số chức
năng nào đó cần được vận hành từ các vị trí khác nhau nhằm duy trì tốc độ, độ
chính xác, sức khỏe và sự an toàn.
4.3.2 Nguyên lý về
khả năng truy cập
Thông tin cần được truy cập một cách dễ
dàng.
Ứng dụng:
Đảm bảo nơi bố trí các màn
hình hiển thị trong phạm vi tầm nhìn của người vận hành. Thông tin quan trọng
liên quan đến sự an toàn và thông tin thường xuyên được tham vấn, phải được đặt
ở các khu vực trung tâm nơi liên tục được mắt lướt qua (xem TCVN 11697-2 [ISO
9355-2]).
Ngoài yêu cầu chung đối với vận hành bộ
truyền động điều khiển, cần lưu ý thông tin có thể bị che do vị trí tay của người
vận hành.
4.3.3 Nguyên lý về
không gian di chuyển
Các chuyển động cơ thể để vận hành các
bộ truyền động điều khiển không nên tạo ra sự bất tiện đối với người vận hành.
Ứng dụng:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.4 Tương thích với
mong muốn của người sử dụng
Đặc tính dân cư và những mong muốn
khác của người sử dụng về cách vận hành giao diện người - máy có ảnh hưởng
lớn trong việc xác định cách thức một người vận hành sẽ sử dụng bộ truyền động
điều khiển hoặc màn hình hiển thị. Dưới sức ép công việc, những người vận hành
thường quay về với đặc tính dân cư của mình, thậm chí ngay cả khi
họ đã được đào tạo để hành động theo một phương thức ngược lại.
4.4.1 Nguyên lý về
sự tương thích với kiến thức
Chức năng, chuyển động và vị trí của
các yếu tố của bộ truyền động điều khiển và màn hình hiển thị cần tương ứng với
những gì mà người vận hành mong muốn từ kinh nghiệm làm việc hay đã được đào tạo
từ trước.
Ứng dụng:
Những mong muốn mang tính thông lệ
đóng vai trò quan trọng khi tiến hành áp dụng nguyên lý này, Ví dụ, có một
khuôn mẫu khi quay đĩa số theo chiều kim đồng hồ để tăng đến một giá trị trên
màn hình hiển thị và di chuyển một bộ truyền động điều khiển theo hướng tiến
lên hoặc về bên phải để làm tăng giá trị đó.
4.4.2 Nguyên lý về
sự tương thích với thực hành
Chức năng, chuyển động và vị trí của
các yếu tố của bộ truyền động điều khiển và màn hình hiển thị sẽ tương ứng với
những mong muốn dựa trên kinh nghiệm thực tiễn trong việc sử dụng hệ thống và
hướng dẫn thao tác liên quan.
Ứng dụng:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.4.3 Nguyên lý nhất
quán
Các phần tương tự của hệ thống người -
máy cần vận hành theo một phương thức nhất quán.
Ứng dụng:
Bố trí, chức năng và chuyển động của
các bộ truyền động điều khiển, màn hình hiển thị, và các thiết bị khác của hệ
thống sẽ nhất quán và không được trao đổi trong một hay nhiều hệ thống, ví dụ:
bộ truyền động điều khiển và màn hình hiển thị phải được sắp xếp theo cùng một
trật tự.
Một tập hợp các mã số và biểu tượng nhất
quán phải được sử dụng.
4.5 Khả năng chịu lỗi
Một hệ thống được cho là có khả năng
chịu lỗi, nếu vẫn xuất hiện bằng chứng có lỗi trong hoạt động, đạt được kết quả
dự kiến mà không có hoặc có ít hoạt động hiệu chỉnh.
4.5.1 Nguyên lý của
việc hiệu chỉnh lỗi
Các hệ thống cần có khả năng thực hiện
việc kiểm tra lỗi và cung cấp cho người vận hành phương tiện để giải quyết các
lỗi đó.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu hệ thống có thể hiệu chỉnh một lỗi
vận hành theo một số cách, thì người vận hành sẽ có cơ hội lựa chọn từ những khả
năng này. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần thông báo cho người vận hành về quy
trình hiệu chỉnh để tuân theo.
Phải cung cấp thông tin đầy đủ trong từng tình huống
nghiêm trọng để bảo đảm xử lý lỗi tối ưu.Nếu một lỗi hệ thống phát sinh, thì cần
được người vận hành xác định càng nhanh càng tốt. Các thông báo lỗi cần được hiểu một
cách dễ dàng. Người vận hành có thể thực hiện các thao tác cần thiết mà không cần
xử lý thêm thông tin và từ hỗ trợ trong hướng dẫn vận hành.v.v... Người vận
hành cần có khả năng lựa chọn giữa thông tin báo lỗi vắn tắt
hoặc chi tiết.
4.5.2 Nguyên lý về
thời gian xử lý lỗi
Hệ thống phải cung cấp một khoảng thời
gian đủ để người vận hành thực hiện khôi phục lại một cách đáng tin cậy từ bất
kỳ lỗi nào.
Ứng dụng:
Đảm bảo người vận hành có đủ cơ hội để nhận dạng lỗi
và có hành động hiệu chỉnh phù hợp trước khi hậu quả gây ra do lỗi trở nên nghiêm
trọng.
Hướng dẫn về cách giảm thiểu khả năng
mắc sơ suất trong vận
hành bộ truyền động điều khiển được giới thiệu trong TCVN 11697-3 (ISO 9355-3).
4.6 Sự phù hợp đối
với việc phù hợp với từng cá nhân và kiến thức
Một hệ thống phù hợp cho việc cá nhân
và học tập nếu nó có thể được điều chỉnh theo nhu cầu
của từng cá nhân.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một hệ thống cần đủ linh hoạt để đáp ứng
được sự khác nhau về nhu cầu cá nhân, khả năng tâm sinh lý chung, kiến thức và
những khác biệt về văn hóa.
Ứng dụng:
Nếu có thể, người vận hành cần phải có khả năng tác
động đến tốc độ tương tác.
Người vận hành có kinh nghiệm sẽ có khả
năng xây dựng cấu trúc phản hồi để nó tương thích với mức độ hiểu biết của họ.
Với cùng trường hợp, người vận hành chưa có kinh nghiệm cần có khả năng thiết lập
mức độ phản hồi ở một mức
phù hợp.
Trong một hệ thống phức tạp, hệ thống
cần cung cấp cho người vận hành các lựa chọn thông tin tóm tắt hoặc thông tin
chi tiết về hệ thống.
Liên quan đến hoạt động vận hành, hầu
hết các bộ truyền động điều khiển có thể được vận hành tốt bằng cả hai tay. Tuy nhiên, các bộ
truyền động điều khiển yêu cầu độ chính xác, và/hoặc tốc độ nhanh, thì việc vận
hành cần có khả năng thao tác được bằng cả tay hoặc được thiết kế cho phép vận
hành chính xác và/hoặc nhanh bằng cả tay không thuận.
Phụ
lục A
(Tham
khảo)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.0 Giới thiệu
Nhiều tiêu chí và nguyên lý về ecgônômi
bắt nguồn từ kiến thức có được trong các lĩnh vực về hệ thống người - máy và
tâm lý học đại cương. Phụ lục này trình bày một số kiến thức cơ bản dưới dạng tổng
quát của một số nguyên lý về cách thức con người xử lý thông tin. Tuy nhiên, cần
lưu ý rằng do sự phát triển nhanh chóng về mặt lý thuyết và kinh nghiệm trong
lĩnh vực, đã có nhiều tư tưởng bất đồng quan điểm liên quan đến những vấn đề này. Do
vậy, phần trình bày dưới đây được xem như một tập hợp những gợi ý tạm thời căn
cứ trên một vài ý tưởng hiện tại về những vấn đề kể trên.
Hướng tiếp cận sau đây xem trí tuệ con
người như một hệ thống xử lý thông tin. Trong hệ thống này, có ba phân hệ tương
tác được phân biệt, cụ thể như sau:
a) Hệ thống tri giác;
b) Hệ thống nhận thức;
c) Hệ thống vận động.
Như đã đề cập ở phần trên, trong thực
tế việc phân biệt các hệ thống khác nhau của quá trình xử lý thông tin, điều
quan trọng cần nhận thấy là những sự khác biệt thường trở nên mờ nhạt
trong quá trình quan sát của người vận hành ở một tình huống thực tế. Do vậy, rất
cần nhận thức được hoạt động thực hiện của con người luôn phản ánh sự tương tác
và những kết hợp của nhiều phân hệ xử lý thông tin khác nhau và chính những
tương tác này có thể tạo ra kết quả không thể dự đoán trước được.
A.1 Tổng quan
Phần trình bày dưới đây được sắp xếp
theo các phần chính như sau: sự chú ý, tri giác, nhận thức, động cơ thực hiện
và việc thực hiện hình thành nên các nhân tố. Do mối quan hệ mật thiết giữa các
hệ thống đã bàn tới ở từng phần, nên trật tự trình bày mang tính không bó buộc và chủ
yếu được dựa trên kinh nghiệm, phỏng đoán. Ví dụ, vấn đề về trí nhớ được thảo
luận tại phần nhận thức, nhưng như đề cập ở trên, đặc điểm của trí nhớ là bao gồm
nhiều hệ thống được bàn luận, ví dụ như: sự chú ý, sự kỳ vọng.v.v...
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong nhiều tình huống, ví dụ: những
tình huống có sự tham dự của người vận hành là con người trong một hệ thống người
- máy, thì cá nhân có thể được xem như một kênh xử lý đơn lẻ với khả năng xử lý
thông tin không nhiều hơn vài nguồn một lúc.
Sự chú ý thường hạn chế vào hai nguồn
chính, thế giới nội tâm nghĩa là những suy nghĩ và cảm xúc từ cơ thể, và thế giới
bên ngoài. Vì sự chú ý có thể được mô tả như một nguồn giới hạn, nên có thể có rất nhiều sự cạnh
tranh giữa các nguồn gây chú ý. Ví dụ, một người vận hành chìm trong những suy
nghĩ hoặc ra quyết định có thể thiếu chú ý đến các sự kiện đang xảy ra ở thế giới bên
ngoài. Kết quả của việc thiết kế các hệ thống người - máy là cốt yếu không để
quá tải nguồn gây chú ý của người vận hành.
A.2.1 Chú ý có chủ
đích và chú ý bắt buộc
Việc phân biệt giữa chú ý có chủ đích,
hoặc được điều khiển và chú ý bị cưỡng ép bởi tác nhân kích thích cả bên
ngoài lẫn bên trong tới người vận hành. Trong nhiều tình huống người - máy, người
vận
hành
điều khiển kiểm soát các nguồn bên dưới bởi sự lựa chọn có chủ đích về nơi
cần tập trung chú ý. Tuy nhiên, ở những tình huống khác nếu một tín hiệu mạnh
hoặc được chờ đợi từ bên ngoài nảy sinh, thì người vận hành ngắt
quãng điều khiển chú ý liên tục, và hướng sự chú ý vào nguồn của tín hiệu. Những sự kiện
như vậy có thể tạo ra ảnh hưởng
nhiễu loạn lên hoạt động của người vận hành, và do đó tạo ra
chuông báo khẩn cấp, v.v... không được khởi động ở một trường hợp không cần thiết
và
những
tín hiệu đó không làm sao nhãng người mà đối với họ các tín hiệu kia không hướng
đến. Sự chú ý có thể tự động
được điều chỉnh theo cảm xúc về sinh lý của người vận hành, ví dụ như tác nhân kích
thích gây đau hoặc các cảm xúc sinh lý gắn với căng thẳng thần kinh. Những cảm
xúc đó có thể gây cản trở tới sự chú ý có chủ đích đến nhiệm vụ.
A.2.2 Sự chú ý đồng
thời tới một vài nguồn
Ở những điều kiện nhất định, con người
cũng có khả năng thực hiện một số thao tác cùng lúc. Các đặc điểm sau đây của
hệ thống người - máy có thể hỗ trợ tối ưu hóa các hoạt động này:
a) Thu hẹp vị trí không gian giữa các
màn hình hiển thị giúp xử lý song song. Tuy nhiên, trong trường hợp hiển thị
thính giác, thì sự sắp xếp này không được khuyên dùng;
b) Các màn hình hiển thị đầy đủ cũng
có thể tăng cường khả năng xử lý đồng thời;
c) Nếu hệ thống đòi hỏi xử lý đồng thời,
thì người thiết kế cần cân nhắc đến việc sử dụng hình thức hiển thị cho các tri
giác khác nhau, vì các tri giác khác nhau được giả định sẽ thu hút các nguồn
gây chú ý khác nhau;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.3 Hệ thống tri
giác
Hệ thống tri giác chuyển hóa thông tin
từ thế giới bên ngoài thành các hình ảnh tâm lý. Quá trình nhận diện một đối tượng
có thể được xem như “nhận diện theo mẫu” tại nơi các đặc điểm của tác nhân kích
thích được xử lý và so sánh với thông tin được lưu trữ trong trí nhớ lâu dài. Một
người vận hành kinh nghiệm có khả năng nhận diện được các mẫu thời gian và
không gian phức tạp. Ngay sau khi một tác nhân kích thích xuất hiện, thì một đại
diện tác nhân kích thích bằng hình ảnh sẽ xuất hiện trong bộ nhớ hình ảnh và bằng
âm thanh trong bộ nhớ âm thanh để trình bày thông tin. Những bộ nhớ giác quan
lưu giữ thông tin được mã hóa về mặt sinh lý tương ứng với tác nhân kích thích
ngoại lai.
Các tín hiệu tương tự xuất hiện bên
trong một chu trình xử lý đơn lẻ, có thể kết hợp thành một nhận thức đơn lẻ. Do
đó có một giai đoạn quan trọng khi các tín hiệu không có khả năng nhận biết như
một tác nhân kích thích đơn lẻ.
A.3.1 Thời gian
suy giảm
Thời gian suy giảm (nửa vòng đời) đối
với thông tin đã lưu trữ trong trí nhớ tri giác là khoảng từ 0,1 s đến 1 s đối
với lưu trữ hình ảnh và khoảng 0,9 s đến 3,5 s đối với lưu trữ âm thanh.
A.3.2 Sự chú ý và sự
kỳ vọng
Sự kỳ vọng của một người về một tác
nhân kích thích hoặc một cấu hình tác nhân kích thích sẽ ảnh hưởng tới độ chính
xác của việc nhận dạng. Ví dụ, một mong đợi mạnh mẽ cho rằng tác nhân kích
thích của một dạng cụ thể sẽ xuất hiện, có thể dẫn tới việc nhận dạng tác nhân
kích thích căn cứ trên một số ít đặc điểm hơn là trường hợp một tác nhân kích thích với
sự kỳ vọng thấp hơn. Đặc điểm này của việc mong muốn liên quan đến tri giác
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết kế các bộ truyền động điều khiển
và màn hình hiển thị.Ví dụ, bộ truyền động điều khiển chia sẻ nhiều thuộc tính
hình dạng, có thể gây nên nhầm lẫn do người sử dụng có kinh nghiệm có thể chỉ sử
dụng một số thuộc tính trong đó để nhận dạng.
A.3.3 Tổ chức tri
giác
Một số nguyên lý, được biết đến như
“Các nguyên
lý
Gestalt về tổ chức tri giác”, xác định một cách chắc chắn để thông tin hình ảnh
được xử lý theo kiểu trí não. Những nguyên lý này có thể được xem xét như những
xu hướng tự nhiên và thừa hưởng một cách rộng rãi, phục vụ mục đích xây dựng cấu trúc
thế giới bên ngoài thành những tri giác thống nhất (Gestalt).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Nguyên lý về các trạng thái “tương
tự” là các đặc tính hoặc các đối tượng được nhận thức như một đơn vị;
c) Nguyên lý về các trạng thái “mở rộng tốt” là trạng
thái những yếu tố dễ dàng được tổ chức thành các hình mẫu đặc điểm. Các yếu tố
phù hợp với những hình mẫu này dễ dàng được dò tìm thậm chí cả khi có sự xuất
hiện của yếu tố gây nhiễu loạn;
d) Nguyên lý các trạng thái “đóng kín”
là khi có một chiều hướng tiếp tục lấp đầy một mẫu hình để nó phù hợp với “hình
thức tốt”, theo hình ảnh đơn giản và gần gũi;
e) Nguyên lý về các trạng thái “cùng số
phận” là nếu hai hoặc nhiều đặc điểm chia sẻ cùng một số phận chung (có nghĩa
là một hướng chuyển động, chớp đồng bộ...) chúng sẽ được nhận thức như một đơn
vị.
Những nguyên lý kể trên có thể đóng
vai trò như một hướng dẫn bố trí các bộ truyền động điều khiển và màn hình hiển
thị, và rộng hơn nữa những nguyên lý này đóng vai trò như nền tảng cho các
nguyên lý ecgônômi khác nhau về việc phân bổ màn hình hiển thị và bộ truyền động
điều khiển.
A.4 Hệ thống nhận
thức
Hệ thống nhận thức bao gồm hai loại
trí nhớ quan trọng và liên quan đến nhau: trí nhớ dài hạn lưu trữ
thông tin lâu hơn, và trí nhớ ngắn hạn lưu những thông tin đã được kích hoạt tạm
thời mà người vận hành rất dễ tiếp cận.
A.4.1 Trí nhớ ngắn
hạn (tạm thời)
Đặc điểm quan trọng nhất của trí nhớ
ngắn hạn (hoặc đang làm việc) là sự hạn chế về khả năng, liên quan đến cả lượng
thông tin có thể lưu trữ là tốc độ suy giảm của thông tin được lưu trữ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Càng nhiều đơn vị được lưu trữ
trong trí nhớ tạm thời thì quá trình suy giảm càng diễn ra nhanh chóng;
b) Khả năng của trí nhớ tạm thời bị giới
hạnh trong một vài đơn vị thông tin (có nghĩa là: các chữ cái, các từ, các con
số...). Rất khó ước tính được con số chính xác về khả năng. Một gợi ý tạm thời cho thấy có
khoảng từ 5 đến 9 đơn vị thông tin là hạn trên về số lượng thông tin được dễ
dàng lưu
trữ
trong trí nhớ tạm thời;
c) Các đơn vị thông tin càng tương đồng
thì có thể xảy ra càng nhiều lỗi.
Người thiết kế hệ thống người - máy cần
xét đến các giới hạn của trí nhớ tạm thời. Các gợi ý sau đây cần được tuân thủ:
a) Không trình bày nhiều thông tin hơn
mức cần thiết;
b) Đảm bảo thông tin phù hợp để giảm bớt
rủi ro xảy ra lỗi;
c) Rất khó để đưa ra quyết định khi mà
người vận hành được yêu cầu giữ quá nhiều đơn vị thông tin trong trí nhớ ngắn hạn
(tạm thời).
A.4.2 Trí nhớ dài
hạn
Đối với cả các lý do mang tính lý thuyết
lẫn thực tiễn, có rất nhiều lợi ích trong việc phân biệt giữa hai loại cấu trúc
trí nhớ dài hạn liên quan. Đầu tiên trí nhớ tường thuật có chứa các thông tin về
kiến thức tế, ví dụ: sự nhận biết một bộ phận máy, ý nghĩa của một biểu tượng,
các quy tắc an toàn v.v... Trí nhớ tường thuật cũng bao gồm trí nhớ về những
kinh nghiệm cụ thể của một người. Một dạng chính yếu khác của trí nhớ được biết
tới là trí nhớ thủ tục, hoặc trí nhớ lưu trữ các kỹ năng thuộc đủ mọi chủng loại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đặc điểm riêng biệt của trí
nhớ tường thuật có thể được giả định là đặc biệt quan trọng đối với nhà thiết kế các hệ thống
người - máy như sau:
Việc triệu hồi trí nhớ khai báo xảy ra
hoặc như (a) sự nhận dạng hoặc như (b) sự tái hiện lại ngẫu nhiên. Con người đã
được phát hiện là có hiệu quả khá tốt về sự nhận dạng trong khi sự tái hiện lại
ngẫu nhiên lại ít hiệu quả hơn tương ứng. Một ý nghĩa của các đặc điểm về trí
nhớ mà người thiết kế cần trình diễn thông tin để có thể được nhận
dạng thông tin càng nhiều càng tốt thay vì tin tưởng vào sự tái hiện ngẫu
nhiên thông tin của người vận hành. Ví dụ: khi trình diễn thông tin trên thiết
bị VDT, đôi khi sẽ tốt hơn nếu có một hệ thống trình đơn, mà tại đó các từng
tính năng có thể được nhận dạng, thay vì phụ thuộc vào sự tái hiện ngẫu nhiên một
số lệnh cụ thể của người vận hành.
Cũng được đề cập tới là sự tái hiện từ
trí nhớ, phụ thuộc rất lớn vào tình huống. Nếu một số đặc điểm riêng biệt được
học trong một tình huống cụ thể, thì sẽ dễ nhớ lại các đặc điểm riêng biệt đó
hơn khi tình huống tương tự khi được học được trình diễn. Điều này có thể có
nhiều hàm ý, ví dụ: trong thiết kế hướng dẫn và các sách đào tạo, để đem lại hiệu
quả, cần cung cấp đủ những thông tin (ảnh minh họa, sơ đồ, v.v...) tương tự hoặc
giống hệt với tình huống vận hành thực tế.
A.4.2.2 Trí nhớ thủ
tục
Một khía cạnh quan trọng của trí nhớ
thủ tục chính là các thực hành tốt các kỹ năng sẽ có xu hướng thực hiện chức
năng hầu như tự động, với tính năng điều khiển có chủ đích và sự
chú ý tối thiểu.
Tuy
nhiên, thực tế là ít đầu tư vào tính năng điều khiển có chủ đích và sự chú ý
làm cho các nhiệm vụ này đặc biệt dễ gặp phải lỗi. Ví dụ, một người vận hành thực
hiện một trình tự các hành động đã được luyện tập tốt có thể gặp phải lỗi do
trong một số tình huống có sự sai khác khỏi hình mẫu hoặc tình huống thông thường,
và cần có một ít chú ý nhiệm vụ để nhận diện những tình huống đó. Ví dụ, một
người lái xe sử dụng một lộ trình nhất định có thể quên một mục đích mới
làm cho người này bị trệch hướng khỏi lộ trình ở một vị trí nhất định.
A.4.2.3 Sự kỳ vọng
Như đã được chỉ ra ở phần trên, sự kỳ
vọng của cá nhân đóng vai trò quan trọng nhằm hiểu được sự tái hiện từ trí nhớ.
Nhìn chung, người ta cho rằng các giá trị mặc định nhất định gắn với các dạng
thông tin khác nhau. Những giá trị mặc định này hỗ trợ trong việc cấu trúc
thông tin và tạo ra sự chuẩn bị hành động. Tuy nhiên các giá trị mặc định cũng
có thể, trong những trường hợp nhất định, dẫn một người đến giả định về một sự
hiểu biết về cái không có trong tình huống ban đầu. Do đó, cách làm thông minh
là luôn luôn phân tích dạng các giá trị mặc định nào người vận hành có thể lưu
trữ trong mối quan hệ với các hệ thống máy. Các giá trị mặc định,
như đã được đề cập trong tiêu chuẩn này, cũng mang tính quan trọng phổ biến hơn
nhiều so với trong tình huống tái hiện lại thông tin từ trí nhớ. Đặc biệt, các
quy ước liên quan đến bộ truyền động điều khiển và hiển thị di chuyển đóng vai
trò cực kỳ quan trọng.
A.4.2.4 Các kỹ năng học
tập
Khi một người đạt được một kỹ năng mới,
quá trình này thường được bắt nguồn từ yêu cầu về sự chú ý, hướng tới sự tự động.
Thông thường, sẽ mất một khoảng thời gian khá lâu để học một kỹ năng, để kỹ năng đó có
thể được thực hiện ở mức tự động. Ngược lại, các tường thuật “thực tế” nhất định
về việc nhiệm vụ sẽ được thực hiện như thế nào, có thể, “về nguyên lý”,
mất một khoảng thời gian ngắn để học. Tuy nhiên, những tường thuật thực tế này,
dù cho chúng được biết tới ở mức độ tường thuật, có thể không được thực hiện một
cách có hiệu quả ở mức
độ kỹ năng. Kiến thức có thể không được
truy cập hiệu quả nếu kỹ năng không được luyện tập tốt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giải quyết vấn đề có thể được định
nghĩa như thái độ được điều chỉnh để đạt tới một hoặc nhiều thành quả. Nhằm phân tích
các tình huống giải quyết vấn đề, cách thiết thực là phân biệt giữa (a) trạng
thái ban đầu, như là các điều kiện, quy tắc, và ràng buộc được đưa ra ngay từ
khi bắt đầu quy trình xử lý vấn đề, (b) các trạng thái trung gian, có nghĩa là
các trạng thái mà người giải quyết vấn đề trải qua trên đường hướng tới thành
quả và (c) các đặc điểm của trạng thái đích/mục tiêu. Trạng thái ban đầu có thể
đóng vai trò chủ chốt đối với kết quả giải quyết vấn đề. Liên quan đến giải quyết
vấn đề trong tình huống các hệ thống người - máy, điều quan trọng là người vận
hành phải được cung cấp kiến thức phù hợp để giải quyết được các vấn đề. Ví dụ,
thiết kế tối ưu của một hệ thống nhìn nhận từ quan điểm vận hành thông thường
có thể rất khác so với thiết kế tối ưu được nhìn nhận từ góc độ của một tình huống
khẩn cấp, khởi động
hoặc tắt. Bài học rút ra cho người thiết kế là xem xét hệ thống không chỉ từ
quan điểm về vận hành thông thường mà từ các chế độ khác của thống khác. Ví dụ,
nhằm tối ưu hóa thông tin về trạng thái ban đầu trong một kịch bản tai nạn, người
thiết kế có thể xem xét các tách các bảng điều khiển dành cho các sự kiện có thể
xảy ra.
Trong suốt các trạng thái trung gian của
giải quyết vất đề, các hành động khác nhau có thể được kiểm tra và đánh giá kết
quả. Từ quan điểm người - máy, một nhân tố quan trọng trong suốt quá trình này
là sự phản hồi, luôn cần phải thật nhanh chóng và chính xác. Sự phản hồi chậm từ
hệ thống có thể dẫn đến
việc người vận hành thực hiện các hành động mà sau đó được chứng minh là không
mang lại hiệu quả.
Do căng thẳng nên việc giải quyết vấn
đề có xu hướng suy giảm khiến người vận hành có thể thực hiện chức năng ở cấp độ
mang tính “nguyên thủy” hơn. Một số loại “bẫy tâm lý” có thể thấy trong việc giải
quyết vấn đề, ví dụ:
a) Người vận hành thu hẹp sự chú ý tới
các chi tiết và bỏ lỡ thông tin liên quan;
b) Người vận hành cố định vào một ý kiến
và bỏ lỡ việc kiểm tra các ý tưởng khác;
c) Người vận hành mù quáng tuân theo một
chỉ dẫn mặc dù các tình huống không còn liên quan tới chỉ dẫn riêng biệt đó nữa;
d) Người vận hành hành động do dự mà
không đợi phản hồi liên quan từ hệ thống.
Các chiến lược sau đây có thể được sử
dụng để giảm bớt các loại vấn đề này:
a) Nhấn mạnh thông tin liên quan phù hợp
với tình trạng hiện thời của hệ thống;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c) Cung cấp hỗ trợ cho người vận hành
nhằm xây dựng kiến thức toàn diện về hệ thống;
d) Cung cấp phản hồi cho người vận
hành dưới hình thức những chỉ dẫn bổ sung tại nơi có thể;
A.5 Thời gian phản
ứng của hệ thống vận động
Khoảng thời gian phản ứng được sử dụng
như một thông số để đo khoảng thời gian được tính từ lúc một giác quan được
kích thích cho tới khi một phản ứng của hệ thống vận động xuất hiện. Một cung
phản xạ đơn giản, diễn ra khoảng 0,04 s, trong khi một khoảng thời gian phản ứng
nhanh nhất có bao gồm cả bộ não là khoảng 0,15 s. Phạm vi thông thường của các
khoảng thời gian phản ứng đối với những tín hiệu được mong đợi là giữa 0,2 s đến
0,3 s. Khi tín hiệu không mong đợi, thì thời gian phản ứng tăng lên hơn 0,5 s.
A.6 Thực hiện
các yếu tố định hình
Các hệ thống người - máy đặt ra những
yêu cầu cho người vận hành về căng thẳng, sự chán nản và các trạng thái khác của
người vận hành. Kết quả hực hiện và khả năng xuất hiện lỗi có thể là một chức
năng của những trạng thái trên của người vận hành. Do vậy, người thiết kế phải
xét đến một số tình huống bên ngoài mà ở đó hệ thống sẽ được vận hành và xem
xét nếu những tình huống này có thể gây ảnh hưởng tới kết quả thực hiện của người
vận hành.
A.6.1 Căng thẳng
gia tăng
Những ví dụ về các nhân tố có thể làm tăng
mức độ căng thẳng của người vận hành là (a) những yêu cầu hiệu quả cao, (b) thời
gian bị căng thẳng, (c) các hậu quả của việc gây lỗi cực kỳ tiêu cực, (d) các yếu
tố môi trường như ồn và nhiệt.
Những ảnh hưởng đến kết quả đó gắn liền
với các mức độ căng thẳng gia tăng nói chung:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Giảm thiểu khả năng ghi nhớ làm việc;
c) Giảm độ chính xác trong các nhiệm vụ
yêu cầu ra quyết định nhanh chóng.
A.6.2 Các trạng
thái giảm thiểu kích hoạt
Nhiệm vụ có thể làm giảm mức độ linh
hoạt của người vận hành, ví dụ: (a) các nhiệm vụ đơn giản và nhàm chán, (b) các
nhiệm vụ đòi hỏi phải liên tục tập trung, (c) các nhiệm vụ đem lại ít hoặc
không có phản hồi và (d) các nhiệm vụ thực hiện trong một khoảng thời gian dài.
Những trạng thái này như đã mô tả ở trên,
có thể gây ra ảnh hưởng đến kết quả như thời gian phản ứng chậm hơn và thông
tin bị bỏ lỡ.
A.7 Sự phù hợp của
con người và máy đối với những nhiệm vụ khác nhau
Việc bố trí các chức năng và nhiệm vụ
cho người vận hành và máy là điều cơ bản đối với hoạt động thiết kế hiệu quả và
an toàn của một hệ thống người - máy. Bảng A.1 trình bày những lợi thế và bất lợi
cơ bản của người vận hành là con người.
Các khả năng của máy thay đổi tùy thuộc
vào sự phát triển của công nghệ. Hơn nữa những thuộc tính của các loại máy là
khác nhau và phụ thuộc khác nhau về chủng loại máy (máy tính, thiết bị tạo nguồn
điện v.v...). Người sử dụng bảng sau đây được giả định là sẽ chấp nhận cột
“máy” trong Bảng là một ứng dụng cụ thể.
Bảng A.1 - Sự
phù hợp của con người và máy đối với những nhiệm vụ khác nhau
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khả năng
Người
Máy
Khái quát
Tính mềm dẻo
Cực kỳ phù hợp đối với một loạt các
nhiệm vụ
Chuyên môn hóa, ít linh hoạt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thông thường, sự thích ứng tốt đối với
những yêu cầu không mong đợi, có thể phát huy đối với một khoảng thời gian giới
hạn
với
sự quá tải tạm thời
Khả năng thích ứng kém với các tình
huống mới. Sẽ thất bại trong những tình huống không được thiết kế để phục vụ cho
tình huống đó.
Học tập và huấn luyện
Dễ đào tạo, học tập là thái độ bình
thường
Các khả năng học tập hạn chế
Các nhiệm vụ không có cấu trúc, với
sự không chắc chắn
Dễ phù hợp
Khó phù hợp
Khả năng phán đoán thái độ của hệ thống
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tuân thủ chặt chẽ
theo các quy định, thái độ được xác định tốt, nhìn chung có thể đoán trước được
Đầu vào
Hiệu quả nhận thức và ghi nhận
Số giác quan có hạn với độ nhạy cao,
chính xác và tốc độ cao trong kết nối các đầu vào và ghi nhận các mẫu, tri
giác có thể bị ảnh hưởng bởi sự mong muốn
Hệ thống cảm biến có thể được
thiết kế theo yêu cầu, tính năng tốt yêu cầu giá thành cao
Kiểm tra
Khó phù hợp đối với việc kiểm tra đều đặn
kéo dài do sự hạn chế về mức độ cảnh giác
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đầu vào thông tin không hoàn thiện
và ngắt quãng
Có thể xử lý tiếng ồn và đầu vào
thông tin chưa hoàn
thiện
Khó phù hợp với việc xử
lý tiếng ồn và đầu vào thông tin chưa hoàn thiện
Xử lý thông tin
Kênh và khả năng xử lý
Con số giới hạn các thiết bị cảm biến
và các kênh kích thích, khả năng xử lý song song hạn chế
Kênh và khả năng xử lý có thể được
thiết kế tùy thuộc vào yêu cầu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dễ phù hợp, lỗi có thể xuất hiện do
các mô hình hiện thực bên trong chưa chính xác và trong các tình huống căng
thẳng
Khó phù hợp
Suy luận và khái quát hóa
Có thể đưa ra những quyết định mang
tính suy luận quy nạp trong các trường hợp mới, có thể khái quát hóa
Ít hoặc rất ít khả năng suy luận và
khái quát hóa
Trí nhớ
Trí nhớ ngắn hạn kém, trí nhớ dài hạn
tốt, không bị tràn dữ liệu, chế độ lưu trữ chọn lọc.
Trí nhớ ngắn hạn và dài dài tốt,
nhìn chung không bỏ lỡ thông tin , không thay đổi thông tin
Thực hiện nhất quán
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tính nhất quán trong việc thực hiện
đạt được là tốt
Các nhiệm vụ lặp lại và nhàm chán
Không phù hợp do giới hạn về mức độ
cảnh giác và sự suy giảm do căng thẳng nhàm chán và lặp lại và trạng thái
căng thẳng
Rất phù hợp
Đầu ra
Khả năng vật lý
Khả năng vật lý bị hạn chế một cách
sinh học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tốc độ
Tốc độ bị hạn chế một cách sinh học,
một vài kênh đầu ra
Nhìn chung là có thể đạt tốc độ cao
Độ chính xác
Kỹ năng vận động cao nhưng độ chính
xác đạt được bị hạn chế
Độ chính xác có thể được thiết kế
theo yêu cầu, chi
phí cao đối với
độ chính xác cao
Môi trường
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hoạt động tốt trong một loạt các điều
kiện thông thường nhưng yêu cầu chi phí cao để bảo vệ các biện pháp dưới những
điều kiện khắc nghiệt
Có thể được thiết kế để vận hành dưới
các điều kiện môi trường đặc biệt
Bảo trì và cung cấp
Chi phí cung ứng thấp dưới các điều
kiện môi trường thông thường, nhưng yêu cầu cơ sở vật chất cho những yêu cầu mang
tính con người, không yêu cầu bảo trì kỹ thuật, tự khôi phục
Cần cung cấp năng lượng,
vật liệu, và yêu cầu bảo trì
1) Hiện nay ISO 9241-10:1996 đã được
thay thế bằng ISO 9241-110:2008
2) EN 292-1, Safety of machinery - Basic
concepts, general principles for design - Part 1: Basic terminology,
methodology (An toàn máy - Các khái niệm cơ bản, các nguyên tắc chung cho việc thiết
kế - Phần 1: Thuật ngữ, phương pháp luận cơ bản).