|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 315/QĐ-UBND
|
Thành phố Hồ Chí
Minh, ngày 14 tháng 01 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN “ĐÔ THỊ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - BẮC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11
năm 2019;
Căn cứ Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
Căn cứ Nghị quyết số
98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 11
tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù
phát triển Thành phố Hồ Chí Minh;
Xét đề nghị của Sở Khoa học
và Công nghệ tại Tờ trình số 149/TTr-SKHCN ngày 09 tháng 01 năm 2026 về việc
xem xét, phê duyệt Đề án phát triển Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ
Chí Minh.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê
duyệt Đề án phát triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” (Chi
tiết nội dung Đề án đính kèm).
Điều 2. Tổ
chức thực hiện.
1. Sở Khoa học và Công nghệ là
cơ quan thường trực, theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình triển khai Đề án;
2. Viện Nghiên cứu Phát triển
Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và các
sở, ban, ngành liên quan trong việc nghiên cứu, đề xuất mô hình phát triển Đô
thị Khoa học công nghệ; xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù;
tham gia đánh giá, giám sát tác động kinh tế - xã hội của Đề án trong quá trình
triển khai;
3. Sở Tài chính chủ trì tham
mưu các cơ chế tài chính, quản lý tài sản công, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư
chiến lược và bố trí nguồn lực thực hiện Đề án.
Điều 3. Chánh
Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu và Thủ trưởng các cơ quan, đơn
vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Quyết định này có hiệu
lực thi hành kể từ ngày ký./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Khoa học và Công nghệ;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND TP;
- TTUB: CT, các PCT;
- Như Điều 3;
- VPUB: CVP, các PCVP;
- Phòng: VX, ĐT, DA, KT, TH;
- Lưu: VT, (VX/VT).
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Mạnh Cường
|
ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - BẮC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Kèm
Quyết định số 315/QĐ-UBND ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Ủy ban nhân dân Thành
phố)
I. TÓM TẮT TỔNG
QUAN
Đề án phát triển “Đô thị Khoa học
công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” (sau đây được gọi tắt là Đề án) là Đề án
mang tính định hướng chiến lược của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc hình thành
và định danh một không gian phát triển khoa học công nghệ quy mô lớn, gắn trực
tiếp với hành lang sản xuất công nghệ, dịch vụ chất lượng cao tại khu vực phía
Bắc và Tây Bắc Thành phố. Đề án nhằm tạo dựng một cực tăng trưởng mới dựa trên
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh dài hạn và vai trò đầu tàu của Thành phố Hồ Chí Minh trong
giai đoạn phát triển mới.
Đề án là bước cụ thể hóa các chủ
trương lớn của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời phát huy tối
đa không gian phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập, hướng tới
mô hình siêu đô thị đa cực, đa trung tâm, siêu kết nối, trong đó mỗi khu vực được
phân vai chức năng rõ ràng nhưng có sự liên kết và cộng hưởng chặt chẽ.
Trong cấu trúc đó, Đô thị Khoa
học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được định vị là một cực khoa học công
nghệ - đổi mới sáng tạo quy mô lớn gắn liền với sản xuất công nghệ cao, đóng
vai trò “bộ não khoa học công nghệ” của vùng sản xuất công nghệ cao phía Bắc và
Tây Bắc Thành phố. Đây đồng thời là không gian thí điểm lý tưởng cho các cơ chế
sandbox, cho phép thử nghiệm có kiểm soát các công nghệ mới, mô hình quản trị
và chính sách mới gắn với các ngành, sản phẩm chiến lược quốc gia.
Đề án tổ chức không gian phát
triển theo cấu trúc tích hợp gồm: (i) Vùng lõi trung tâm tại phường Bình Dương,
quy mô khoảng 220 ha (mở rộng thêm khoảng 103 ha), tập trung các hoạt động
nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm công nghệ, đào tạo, đổi mới sáng tạo và
chuyển giao công nghệ; và (ii) Vành đai phát triển công nghệ cao, bao gồm các
Khu công nghiệp Khoa học công nghệ quy mô lớn như Bình Dương Riverside, Lai
Hưng, Cây Trường, VSIP III, tạo không gian hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu
thông qua sản xuất thử và sản xuất hàng loạt. Việc đặt “bộ não khoa học công
nghệ” liền kề không gian sản xuất công nghệ cao giúp rút ngắn chu trình từ
nghiên cứu đến thương mại hóa, tạo khác biệt căn bản so với các mô hình phát
triển khoa học công nghệ tách rời sản xuất.
Trên nền tảng các cơ chế, chính
sách đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15, Đề
án đề xuất mô hình quản lý theo cơ chế “một cửa” thông qua Ban Quản lý Phát triển
Đô thị Khoa học công nghệ; áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox); đồng
thời huy động và sử dụng linh hoạt các nguồn lực công - tư, trong đó Nhà nước
giữ vai trò kiến tạo và đầu tư nền tảng, doanh nghiệp tham gia triển khai và vận
hành theo chuẩn mực quốc tế.
Một lợi thế nổi bật của Đề án
là tính sẵn sàng cao trong triển khai, khi khu vực Thành phố mới Bình Dương đã
được đầu tư đồng bộ về hạ tầng đô thị, giao thông, năng lượng, công trình công
cộng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong hơn một thập kỷ qua. Nhiều công
trình, tiêu biểu là Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ), có thể được chuyển
đổi công năng và đưa vào khai thác ngay, cho phép kích hoạt nhanh các hoạt động
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả tài sản công.
Trên cơ sở đó, Các nhà đầu tư
chiến lược có tiềm lực sẽ đóng vai trò cụ thể hóa Đề án, cùng với các đối tác
chiến lược uy tín trong và ngoài nước như Sembcorp (VSIP), Tokyu Group và
Warburg Pincus, nhằm bảo đảm năng lực triển khai, chuẩn mực vận hành và khả
năng kết nối nguồn lực toàn cầu.
Hướng tới kỷ niệm 30 năm hợp
tác Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) giai đoạn 1996-2026, Đề án phát
triển “Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” được định vị là dự
án mang ý nghĩa biểu tượng và tầm quan trọng chiến lược. Đề án là bước cụ thể
hóa tầm nhìn VSIP 2.0 mà Chính phủ Việt Nam và Singapore cùng kỳ vọng, tiếp tục
tiên phong thử nghiệm các mô hình phát triển công nghiệp khoa học công nghệ mới,
đáp ứng yêu cầu của thời đại và tạo ra những đột phá phát triển trong bối cảnh
siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đang được hình thành.
1. Điểm
khác biệt và giá trị cốt lõi của Đề án
Đề án lựa chọn cách tiếp cận đặt
“bộ não khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo” ngay trong vùng sản xuất công nghệ
cao quy mô lớn, được bao quanh trực tiếp bởi hệ thống các Khu công nghiệp Khoa
học công nghệ thế hệ mới như Riverside, Lai Hưng, Cây Trường và VSIP III, qua
đó rút ngắn tối đa chu trình từ nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm, chuyển
giao đến sản xuất và thương mại hóa. Đây là sự khác biệt căn bản so với các mô
hình phát triển khoa học công nghệ tách rời không gian sản xuất, vốn đang bộc lộ
nhiều hạn chế trong việc tạo ra giá trị gia tăng và lan tỏa công nghệ.
2. Định vị
chiến lược và ý nghĩa chính trị - chiến lược
Đô thị Khoa học công nghệ phía
Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được định vị là một cực khoa học công nghệ - đổi mới
sáng tạo mới, có chức năng bổ trợ và phân vai rõ ràng với khu vực trung tâm đô
thị hiện hữu. Trong khi khu vực trung tâm tiếp tục phát huy vai trò trung tâm
tài chính, dịch vụ cao cấp, văn hóa và sáng tạo, Đô thị Khoa học công nghệ phía
Bắc sẽ đảm nhận vai trò hạt nhân nghiên cứu - phát triển, đào tạo nhân lực chất
lượng cao và đổi mới sáng tạo gắn với sản xuất công nghệ cao.
Đề án có ý nghĩa chính trị -
chiến lược sâu sắc khi cụ thể hóa trực tiếp các chủ trương lớn của Trung ương về
phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời thể
hiện tinh thần chủ động, tiên phong và dám đột phá của Thành phố Hồ Chí Minh
trong việc thử nghiệm các mô hình phát triển mới trên cơ sở các cơ chế đặc thù
đã được Quốc hội cho phép.
3. Mô
hình không gian và cấu trúc phát triển
Đề án tổ chức không gian phát
triển theo cấu trúc tích hợp gồm: (i) Vùng lõi đổi mới sáng tạo - nơi tập trung
các hoạt động R&D, đào tạo, khởi nghiệp và thử nghiệm công nghệ; (ii) các
vành đai sản xuất công nghệ cao - nơi hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu thông
qua sản xuất thử và sản xuất quy mô lớn; và (iii) hệ thống kết nối đa tầng về
giao thông, logistics và hạ tầng số.
Trong đó, một số dự án và công
trình hạt nhân giữ vai trò kích hoạt ban đầu cho toàn bộ hệ sinh thái, bao gồm:
Khu Công nghệ số tập trung Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 100 ha) và Khu Công
nghệ số tập trung Bình Dương (15ha) - là không gian tích hợp nghiên cứu và phát
triển, đổi mới sáng tạo và sản xuất tiên tiến, đóng vai trò hạt nhân sản xuất
và ứng dụng, kết nối trực tiếp với trung tâm đào tạo (các Đại học) và vành đai
sản xuất công nghệ cao khu vực phía Bắc, bao gồm chuỗi khu công nghiệp thông
minh VSIP và các Khu Công nghệ số tập trung quy mô lớn tại khu vực này; Khu phức
hợp Khoa học và Công nghệ (20 ha) với hạt nhân là Trung tâm Hành chính tỉnh
Bình Dương (cũ) dự kiến được chuyển đổi công năng thành Tòa nhà Khoa học Công
nghệ; Trung tâm Khám phá Khoa học phục vụ giáo dục STEM và lan tỏa tri thức;
khuôn viên đào tạo - nghiên cứu, BWID Supply Chain City, WTC Tower & Expo
cho xúc tiến thương mại, MICE và kết nối quốc tế; cùng các không gian hỗ trợ
như công viên sinh thái khoa học và hạ tầng số tập trung.
Việc tận dụng và chuyển đổi
công năng các công trình hiện hữu theo mô hình hợp tác công - tư cho phép đưa
các thiết chế khoa học công nghệ vào khai thác nhanh, sử dụng hiệu quả tài sản
công và đạt chuẩn mực quốc tế trong vận hành.
4. Hệ sinh
thái khoa học công nghệ và các thành tố phát triển
Hệ sinh thái khoa học công nghệ
- đổi mới sáng tạo của Đề án được xây dựng trên nền tảng các chương trình, dự
án và thiết chế bước đầu đã được đầu tư, vận hành theo chuẩn mực quốc tế trong
thời gian qua, đồng thời được tăng tốc và nâng tầm khi Thành phố Hồ Chí Minh chấp
thuận chủ trương hình thành Đô thị Khoa học công nghệ.
Kế thừa và phát huy mạng lưới đối
tác học thuật - công nghệ quốc tế uy tín, bao gồm A*STAR và ARTC (Singapore)
trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến; Fraunhofer ENAS (Đức) về vi điện tử và hệ thống
thông minh; Singapore Polytechnic, NUS và NUS Enterprise, ITRI (Đài Loan (Trung
Quốc)), cùng các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước như Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Việt Đức, Đại học Quốc tế Miền Đông, vv...
Đây là các đối tác nòng cốt bảo đảm chiều sâu học thuật, năng lực R&D và khả
năng kết nối với mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Song song đó, được hậu thuẫn bởi
mạng lưới đối tác phát triển hạ tầng - tài chính - đô thị có uy tín quốc tế như
VSIP, Sembcorp, Tokyu, Warburg Pincus, CapitaLand và các nhà đầu tư chiến lược
khác. Sự tham gia của các đối tác này góp phần nâng cao tính khả thi, chuẩn mực
quản trị và sức hấp dẫn quốc tế của Đô thị Khoa học công nghệ.
5. Cơ chế,
chính sách và tổ chức thực hiện
Đề án đề xuất sử dụng các cơ chế
đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 để rút
ngắn thủ tục, phân cấp mạnh mẽ và thử nghiệm các mô hình mới thông qua cơ chế
sandbox có kiểm soát. Tiếp tục nghiên cứu mô hình Ban Quản lý Phát triển Đô thị
Khoa học công nghệ theo cơ chế “một cửa” trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh hoặc là một bộ phận của các cơ quan chức năng hiện tại với mục đích tạo
môi trường đầu tư - đổi mới sáng tạo thông thoáng, cạnh tranh quốc tế.
6. Hiệu quả
và tác động dự kiến
Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới dựa trên
kinh tế tri thức, đóng góp quan trọng vào GRDP, ngân sách và năng lực cạnh
tranh của Thành phố trong trung và dài hạn, nâng cao tỷ trọng dịch vụ giá trị
gia tăng cao.
Đề án đồng thời tạo ra không
gian phát triển mới cho lao động tri thức, góp phần giảm áp lực cho khu vực nội
đô và nâng cao chất lượng sống.
Về môi trường và phát triển bền
vững, Đề án tiên phong hiện thực hóa mô hình khu công nghiệp sinh thái và đô thị
xanh - thông minh, đóng góp thiết thực vào mục tiêu trung hòa carbon và nâng
cao hình ảnh, vị thế quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng thể, Đề án phát triển “Đô
thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” là một bước đi chiến lược,
khả thi và có tác động lan tỏa lớn, tạo nền tảng để Thành phố tiếp tục giữ vai
trò đầu tàu đổi mới sáng tạo và phát triển của cả nước trong giai đoạn mới.
II. NỘI DUNG
PHẦN I. SỰ
CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. Bối
cảnh chiến lược và yêu cầu cấp bách của chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, cùng với xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh chiến
lược về công nghệ cao và các cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững, trung hòa
carbon và kinh tế xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được
xác định là động lực then chốt, quyết định khả năng tham gia sâu hơn của các quốc
gia và đô thị vào các chuỗi giá trị toàn cầu ở những nấc thang cao hơn.
Đối với Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, mô hình tăng trưởng dựa
trên thâm dụng lao động, đất đai và gia công giá trị thấp đã đóng góp quan trọng
trong giai đoạn trước, song đang bộc lộ ngày càng rõ những giới hạn. Tốc độ
tăng trưởng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) có xu hướng chậm lại; khả năng
mở rộng không gian đô thị lõi ngày càng chật hẹp; áp lực lên hạ tầng kỹ thuật,
hạ tầng xã hội, môi trường và chất lượng sống gia tăng nhanh chóng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ
Chính trị đã xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số là đột phá chiến lược để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Trong tổng thể đó, Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng tiếp tục giữ vai trò đầu
tàu, tiên phong thử nghiệm các mô hình phát triển mới. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy không gian đô thị trung tâm hiện hữu của Thành phố chỉ phù hợp để phát triển
các lĩnh vực khoa học công nghệ gắn với dịch vụ cao cấp, tài chính - ngân hàng,
công nghệ tài chính, thương mại, văn hoá và sáng tạo, trong khi các hoạt động
khoa học công nghệ gắn với sản xuất công nghệ cao, bán dẫn, trung tâm dữ liệu,
sản xuất tiên tiến và thử nghiệm công nghệ quy mô lớn đòi hỏi những dư địa
không gian và hạ tầng kỹ thuật hoàn toàn khác biệt.
Trong bối cảnh đó, việc hình
thành một không gian khoa học công nghệ mới ở khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí
Minh - nơi tập trung vùng sản xuất công nghệ cao quy mô lớn - là yêu cầu mang
tính tất yếu. Không gian này sẽ đảm nhận vai trò “bộ não khoa học công nghệ”,
nơi hội tụ các hoạt động nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm, đào tạo, đổi mới
sáng tạo và chuyển giao công nghệ, gắn trực tiếp với năng lực sản xuất công nghệ
cao của vùng, qua đó rút ngắn chu trình từ nghiên cứu đến thương mại hóa, nâng
cao khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp hiện hữu và thu hút
đầu tư thế hệ mới với giá trị gia tăng cao.
1.2 Tầm
nhìn phát triển Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
Đô thị Khoa học công nghệ phía
Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được định vị là trung tâm khoa học công nghệ và đổi mới
sáng tạo cấp vùng, đóng vai trò “bộ não khoa học công nghệ” gắn trực tiếp với
không gian sản xuất công nghệ cao quy mô lớn của khu vực phía Bắc và Tây Bắc
Thành phố. Đô thị này cũng sẽ là một trong 03 trụ cột chiến lược của Thành phố
Hồ Chí Minh mới trên cơ sở triển khai Kế hoạch 177/KH-UBND về phát triển Hệ thống
đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo (Đô thị sáng tạo phía Đông
- Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc - Khu thương mại tự do Phú Mỹ). Trong đó,
Khu Công nghệ cao tập trung nghiên cứu đa ngành, công viên khoa học và là hạt
nhân của khu vực phía Đông và khu Đô thị KHCN Bắc TP.HCM tập trung vào nghiên cứu
và phát triển (R&D) gắn liền với vành đai sản xuất công nghệ cao quy mô lớn
(Riverside, VSIP III, Cây Trường...), đóng vai trò "bộ não" điều phối
chuỗi sản xuất phía Bắc. Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc được xác định là một
cực đổi mới sáng tạo gắn với sản xuất công nghệ cao, có chức năng bổ trợ và
liên thông với các khu đô thị đổi mới sáng tạo hiện hữu và dự kiến hình thành của
Thành phố, dự kiến sẽ đảm nhận vai trò hạt nhân điều phối hành lang công nghiệp
công nghệ cao, kết nối trực tiếp với chuỗi cung ứng vùng Đông Nam Bộ.
Đô thị Khoa học công nghệ được
định hướng phát triển theo mô hình tích hợp chặt chẽ giữa đào tạo - nghiên cứu
- đổi mới sáng tạo - sản xuất, trong một không gian đô thị đáng sống, lấy nhân
tài và tri thức làm trung tâm. Mục tiêu là rút ngắn chu trình từ nghiên cứu, thử
nghiệm, ứng dụng đến thương mại hóa, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp hiện hữu, thúc đẩy hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao
mới và gia tăng khả năng tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trên cơ sở đó, Đô thị Khoa học
công nghệ được định hướng trở thành “living lab” và không gian thử nghiệm lý tưởng
cho doanh nghiệp công nghệ, startup và các tập đoàn toàn cầu, Thành phố vận dụng
tối đa Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 cho phép triển
khai sandbox thử nghiệm công nghệ toàn diện, bao gồm các lĩnh vực gắn với các sản
phẩm và ngành chiến lược quốc gia như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn,
tự động hóa - robotics, trung tâm dữ liệu và hạ tầng tính toán hiệu năng cao,
UAV/drone, kinh tế tầm thấp và sản xuất tiên tiến, trước khi mở rộng ra sản xuất
quy mô lớn trong các Khu công nghiệp Khoa học công nghệ của vùng.
1.3. Phân
tích lợi thế so sánh của khu vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1. Hạ
tầng công nghiệp và logistics vượt trội
Khu vực Bắc và Tây Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh thừa hưởng nền tảng hạ tầng công nghiệp - logistics được đầu tư bài
bản trong hơn ba thập kỷ qua. Hệ thống các khu công nghiệp, khu công nghệ cao,
mạng lưới giao thông trục Bắc - Nam và Đông - Tây, cùng với khả năng kết nối
nhanh tới các cảng biển quốc tế và sân bay quốc tế đã hình thành một không gian
sản xuất - logistics có tính cạnh tranh cao trong khu vực. Đây là điều kiện nền
tảng để phát triển các ngành công nghệ cao gắn với sản xuất quy mô lớn, mà khu
vực đô thị trung tâm hiện hữu không còn khả năng đáp ứng.
1.3.2. Quỹ
đất sạch quy mô lớn, sẵn sàng triển khai
Một lợi thế nổi trội của khu vực
Bắc Thành phố Hồ Chí Minh là quỹ đất sạch quy mô lớn đã được quy hoạch đồng bộ,
sẵn sàng tiếp nhận các dự án khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu và sản xuất
công nghệ cao. Trong khi khu vực trung tâm Thành phố gần như không còn quỹ đất
sạch đủ lớn để phát triển các khuôn viên nghiên cứu, trung tâm thử nghiệm hay
nhà máy công nghệ cao, khu vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn dư địa quý giá
để hình thành một không gian phát triển khoa học công nghệ tích hợp, có khả
năng mở rộng trong trung và dài hạn.
Đồng thời với địa chất tốt (lợi
thế cho các ngành sản xuất công nghệ cao), độ cao 30m trên mực nước biển, lợi
thế năng lượng tái tạo (mặt trời và gió), Khu vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh sở
hữu những lợi thế ưu việt để hấp thụ chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.
1.3.3. Mô
hình hợp tác 3 nhà “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” đã phát huy hiệu quả
Khu vực Thành phố mới Bình
Dương và vùng phụ cận đã hình thành những nền móng quan trọng của hệ sinh thái
đổi mới sáng tạo với sự hiện diện của các trường đại học, viện nghiên cứu,
trung tâm nghiên cứu ứng dụng, phòng thí nghiệm dùng chung, vườn ươm doanh nghiệp
và các tập đoàn công nghệ trong chiến lược phát triển Thành phố Thông minh Bình
Dương từ 2016. Đây là tiền đề quan trọng để nâng cấp khu vực này từ một trung
tâm sản xuất công nghiệp thành một trung tâm nghiên cứu & phát triển khoa học
công nghệ gắn với sản xuất công nghệ cao thông qua các hoạt động đổi mới sáng tạo,
chuyển giao công nghệ và nuôi dưỡng những doanh nghiệp công nghệ bản địa mới,
liên kết và gắn chặt với chuỗi cung ứng toàn cầu.
1.3.4.
Cam kết của nhà đầu tư chiến lược và đối tác quốc tế
Việc hình thành Đô thị Khoa học
công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh cần được đặt trên nền tảng cam kết đồng
hành của nhà đầu tư chiến lược có năng lực triển khai, cùng với mạng lưới đối
tác quốc tế uy tín trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát
triển khu công nghiệp thế hệ mới theo định hướng xanh hoá và số hoá. Đây là yếu
tố then chốt bảo đảm tính khả thi và khả năng triển khai thực chất của Đề án.
1.4. Ý
nghĩa chính trị - chiến lược của đề án
Việc định hình Đô thị Khoa học
công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh mang ý nghĩa chính trị - chiến lược sâu sắc,
không chỉ đối với sự phát triển của Thành phố mà còn đối với vùng Đông Nam Bộ
và cả nước trong giai đoạn phát triển mới.
Trước hết, Đề án là bước cụ thể
hóa trực tiếp và sinh động các định hướng lớn của Trung ương về lấy khoa học
công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ đạo cho tăng trưởng. Đề án chuyển
hóa các nghị quyết thành một không gian phát triển thực, nơi khoa học công nghệ
được tổ chức, vận hành và gắn chặt với hoạt động sản xuất và thị trường.
Thứ hai, Đề án đóng vai trò
then chốt cho Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tái cấu trúc không gian phát triển
theo hướng đa cực, đặc biệt trong bối cảnh sau khi sáp nhập, giảm áp lực cho
khu vực đô thị trung tâm, đồng thời tạo dựng một cực khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo mới có chức năng bổ trợ và phân vai rõ ràng. Trong khi khu vực trung
tâm tiếp tục phát huy thế mạnh về tài chính, dịch vụ cao cấp, văn hoá và sáng tạo
gắn với vị trí trung tâm của siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, Đô thị Khoa học
công nghệ phía Bắc sẽ đảm nhận vai trò bộ não khoa học công nghệ gắn với vùng sản
xuất công nghệ cao, tạo nên một cấu trúc phát triển hài hòa và bền vững.
Thứ ba, trên bình diện vùng và
quốc gia, Đề án góp phần hình thành một cực khoa học công nghệ và sản xuất công
nghệ cao có quy mô và tầm vóc lớn nhất phía Nam, đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành công nghệ chiến
lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất tiên tiến, trung tâm dữ liệu, UAV
và kinh tế số. Trên cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch triển khai
Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam và Chương trình Phát triển
nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050,
việc bổ sung Đô thị Khoa học Công nghệ trong bối cảnh hậu sáp nhập để cùng bổ
trợ, gánh vác một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phát triển hạ tầng và cơ sở
vật chất là vô cùng cần thiết trong thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp bán dẫn.
Khu Đô thị Khoa học Công nghệ, cùng với Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
và Khu Công viên phần mềm Quang Trung, sẽ là những điểm cực quan trọng trong tổng
thể không gian phát triển đa cực của Thành phố, đảm nhiệm chức năng phát triển
hạ tầng thu hút chuỗi cung ứng bán dẫn từ hoạt động nghiên cứu và phát triển
(R&D), sản xuất, đóng gói và kiểm thử. Việc bổ sung sẽ tạo thêm động cơ,
nguồn, lực, kết nối quốc tế cho việc triển khai mạnh mẽ song song và bổ sung
cho nhau. Ngoài ra, việc đặt bộ não khoa học công nghệ ngay trong không gian sản
xuất công nghệ cao giúp rút ngắn đáng kể chu trình đổi mới sáng tạo, chuyển
giao công nghệ, chuyển đổi sản xuất thông minh, xanh, tăng khả năng làm chủ
công nghệ và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn
cầu.
Cuối cùng, Đề án thể hiện rõ
tinh thần chủ động, tiên phong và đột phá đi đầu của Thành phố Hồ Chí Minh
trong việc thử nghiệm các mô hình phát triển mới, tận dụng hiệu quả các cơ chế,
chính sách đặc thù mà Trung ương đã trao, qua đó tạo ra những giá trị phát triển
cụ thể, bền vững và có sức lan tỏa lâu dài.
PHẦN II.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ MÔ HÌNH ĐÔ THỊ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ XUẤT
2.1. Bài
học kinh nghiệm quốc tế trong phát triển các thành phố khoa học công nghệ
Thực tiễn phát triển của các quốc
gia và vùng lãnh thổ đi đầu về khoa học công nghệ cho thấy, các thành phố khoa
học công nghệ thành công đều không hình thành một cách tự phát, mà là kết quả của
chiến lược quốc gia và vai trò kiến tạo mạnh mẽ của Nhà nước, kết hợp với sự
tham gia sâu của khu vực tư nhân và các đối tác quốc tế.
Mô hình Hsinchu Science Park
Đài Loan (Trung Quốc) cho thấy vai trò then chốt của việc hình thành một “bộ
não” nghiên cứu - phát triển đặt cạnh vùng sản xuất công nghệ cao. Việc gắn kết
chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp sản xuất đã tạo
ra hệ sinh thái bán dẫn hoàn chỉnh, cho phép rút ngắn chu trình từ nghiên cứu đến
sản xuất thương mại quy mô lớn. Thành công của Hsinchu không chỉ đến từ chính
sách ưu đãi, mà quan trọng hơn là từ khả năng tổ chức không gian phát triển phù
hợp với yêu cầu kỹ thuật và sản xuất của các ngành công nghệ cao.
Tương tự, Pangyo Techno Valley
(Hàn Quốc) và Tsukuba Science City (Nhật Bản) đều được quy hoạch tại các vị trí
nằm ngoài khu vực đô thị trung tâm, nơi có quỹ đất đủ lớn, điều kiện môi trường
và kỹ thuật phù hợp để phát triển nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất công nghệ
cao. Các mô hình này cho thấy, việc lựa chọn vị trí đô thị vệ tinh không phải
là bất lợi, mà là điều kiện cần thiết để hình thành các không gian khoa học
công nghệ có tính cạnh tranh toàn cầu, đồng thời bảo đảm chất lượng sống cao nhằm
thu hút và giữ chân nhân tài.
Mô hình Brainport Eindhoven (Hà
Lan) - một trong những hệ sinh thái công nghệ cao hàng đầu châu Âu - sự đổi mới
không tập trung ở một địa điểm duy nhất mà được phân tán trên một mạng lưới các
điểm bổ trợ cho nhau. Mặc dù khu vực này có nhiều hoạt động công nghiệp đa dạng,
năm khu đô thị riêng biệt đã nổi lên như những tiêu điểm chiến lược của sự đổi
mới. Mỗi khu đô thị có những đặc điểm riêng, nguồn gốc lịch sử và trọng tâm
ngành riêng, và cùng nhau tạo thành một hệ thống liên kết trải rộng toàn bộ chuỗi
nghiên cứu, phát triển và sản xuất. Thay vì hoạt động như những khu vực biệt lập,
năm khu đô thị này là những môi trường được quản lý để giải quyết các giai đoạn
khác nhau của chuỗi giá trị đổi mới và công nghiệp. Sức mạnh của chúng nằm ở
tính bổ trợ lẫn nhau - mỗi khu đô thị chuyên về một tập hợp các hoạt động cụ thể
phù hợp với các giai đoạn cụ thể của mức độ trưởng thành công nghệ, được đo bằng
Mức độ sẵn sàng về mặt công nghệ (TRL). Sự khác biệt có chủ ý này đảm bảo rằng
các công ty, nhà nghiên cứu và doanh nhân có thể chuyển đổi liền mạch từ ý tưởng
đến thị trường trong cùng một hệ sinh thái khu vực.
Những bài học này cho thấy, để
phát triển Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh thành công, cần
đồng thời hội tụ ba yếu tố:
(i) lựa chọn vị trí chiến lược
gắn với vùng sản xuất công nghệ cao với hệ thống giao thông liên vùng thuận lợi;
(ii) tổ chức không gian phát
triển theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến sản xuất;
(iii) vận dụng linh hoạt mô hình
hợp tác công - tư nhằm khai thác hiệu quả các tài sản hiện hữu và bảo đảm tính
bền vững trong vận hành.
2.2. Quan
điểm phát triển Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm
quốc tế và điều kiện thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh, Đề án xác định một số
quan điểm phát triển xuyên suốt như sau:
Thứ nhất, lấy khoa học công nghệ
và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm, nhưng gắn chặt với nhu cầu thực tiễn
của sản xuất công nghệ cao và thị trường. Đô thị Khoa học công nghệ không chỉ
là không gian nghiên cứu thuần túy, mà là nơi tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị đổi
mới sáng tạo, từ nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao đến sản xuất và thương mại
hóa.
Thứ hai, phát triển theo tư duy
không gian mở và liên kết vùng. Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ
Chí Minh không bị giới hạn bởi địa giới hành chính, mà đóng vai trò là hạt nhân
lan tỏa tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho toàn bộ vùng sản xuất công
nghệ cao Bắc và Tây Bắc Thành phố, cũng như vùng Đông Nam Bộ.
Thứ ba, bảo đảm tính sẵn sàng
và khả năng triển khai nhanh. Một đặc điểm nổi bật của khu vực Thành phố mới
Bình Dương là hệ thống hạ tầng đô thị, công trình công cộng và hệ sinh thái đổi
mới sáng tạo đã hình thành và đang vận hành. Đề án ưu tiên tận dụng, chuyển đổi
công năng các công trình hiện hữu, đặc biệt là Trung tâm Hành chính tỉnh Bình
Dương (cũ), để nhanh chóng đưa vào khai thác cho các hoạt động khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nghị - triển lãm và hợp tác quốc tế, qua đó rút ngắn
thời gian khởi động và sớm tạo ra tác động kinh tế - xã hội.
Thứ tư, phát triển theo định hướng
đô thị đáng sống, lấy con người và nhân tài làm trung tâm. Đô thị Khoa học công
nghệ phải đồng thời là nơi làm việc, học tập, nghiên cứu và sinh sống có chất
lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong thu hút các chuyên gia, nhà khoa học và
doanh nghiệp công nghệ hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.
2.3. Mô
hình cấu trúc không gian Đô thị Khoa học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh
theo mô hình Trung tâm Khoa học Công nghệ Đổi mới sáng tạo - Vành đai sản xuất
Công nghệ cao
Đô thị Khoa học công nghệ được
định hướng phát triển với các chức năng trọng yếu gồm đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao, phát triển các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), nghiên
cứu và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp,
gắn với sản xuất công nghiệp công nghệ cao, trong đó công nghiệp bán dẫn giữ
vai trò then chốt. Định hướng này được xây dựng thống nhất với tinh thần của
Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15, qua đó bảo đảm sự đồng
bộ về chức năng và các ngành, nghề Thành phố đang ưu tiên phát triển. Không
gian Đô thị Khoa học công nghệ được tổ chức theo cấu trúc gồm một trung tâm
khoa học công nghệ làm hạt nhân, bao quanh bởi các vành đai sản xuất công nghệ
cao và được liên kết bằng một hệ thống kết nối đa tầng.
Vùng lõi trung tâm được định vị
là “bộ não khoa học công nghệ” bao gồm một cụm hạ tầng khoa học công nghệ toàn
diện tại khu vực trung tâm Thành phố mới. Trung tâm Khoa học Công nghệ với quy
mô khoảng 20 ha, được hình thành từ việc chuyển đổi công năng Trung tâm Hành
chính tỉnh Bình Dương (cũ) làm hạt nhân trung tâm, cùng các công trình khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và dịch vụ hỗ trợ được bố trí xung quanh. Đây là
nơi tập trung cung cấp các dịch vụ khoa học công nghệ chính như kiểm nghiệm, chứng
nhận, tư vấn, các hoạt động R&D, trung tâm xuất sắc của Đại học hoặc Doanh
nghiệp, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ số, thiết kế vi mạch, không gian làm việc
chung, hội nghị - triển lãm, dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và bảo tàng công
nghệ. Việc chuyển đổi công năng và khai thác các công trình hiện hữu theo mô
hình hợp tác công - tư cho phép kích hoạt nhanh các hoạt động khoa học công nghệ,
bảo đảm hiệu quả sử dụng tài sản công và đạt chuẩn mực quốc tế trong vận hành.
Xung quanh Trung tâm Khoa học
công nghệ là hệ thống các công trình chức năng bổ trợ, bao gồm Trung tâm Khám
phá Khoa học phục vụ giáo dục STEM và lan tỏa tri thức; Công viên Sinh thái
Khoa học đóng vai trò không gian xanh trung tâm và hạ tầng sinh thái; WTC Tower
& Expo tạo nền tảng cho xúc tiến thương mại, MICE (mô hình kết hợp giữa du
lịch và các hoạt động tổ chức sự kiện, hội nghị, khen thưởng và triển lãm) và kết
nối quốc tế; Khuôn viên Đào tạo - Nghiên cứu & Phát triển phục vụ cho đào tạo
và nghiên cứu; Khu Công nghệ số tập trung Bình Dương và Khu Công nghệ số tập
trung Thành phố Hồ Chí Minh là bệ phóng cho chuyển đổi số, R&D và sản xuất
tiên tiến; cùng BWID Supply Chain City cung cấp hạ tầng nhà xưởng và logistics
hỗ trợ sản xuất công nghệ cao. Các khu Công nghệ số tập trung này được định vị
là hạt nhân trọng điểm của Đô thị Khoa học công nghệ Bắc Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây không chỉ là không gian sản xuất phần mềm mà là mắt xích cốt lõi kết nối
hành lang đổi mới sáng tạo phía Bắc với toàn Thành phố, đóng vai trò: (1) Trung
tâm chuyển đổi mô hình công nghiệp: nơi hiện thực hóa việc chuyển dịch từ công
nghiệp truyền thống sang công nghiệp công nghệ số, tập trung vào các lĩnh vực chiến
lược như Chip bán dẫn, AI, và IoT. (2) Cung ứng hạ tầng dùng chung cho Chiến lược
Bán dẫn thông qua việc cung cấp không gian cho các phòng thí nghiệm (Lab) thiết
kế vi mạch, trung tâm Tape-out và đào tạo thực hành cho mục tiêu 9.350 nhân lực
bán dẫn của Thành phố. (3) Môi trường thử nghiệm chính sách (Sandbox), ưu tiên
thí điểm các cơ chế đặc thù về kinh tế số, xã hội số và các công nghệ mới (UAV,
xe tự hành) trước khi nhân rộng ra toàn Thành phố.
Danh mục các dự án hạ tầng khoa
học công nghệ chủ lực tại Vùng lõi:
|
STT
|
Tên dự án
|
Diện tích
|
Tổng mức đầu tư (ước)
|
Trạng thái
|
Vai trò - định hình
|
Cơ chế chính sách đề xuất áp dụng
|
|
1
|
Khu công nghệ số tập trung Bình Dương
|
15,47 ha
|
~10.000 tỷ VNĐ
|
Chuẩn bị triển khai
|
Không gian chuyên biệt cho doanh
nghiệp công nghệ số, trung tâm dữ liệu, AI, thiết kế vi mạch, nền tảng số và
các hoạt động R&D công nghệ số; là hạt nhân của chuyển đổi số và kinh tế
số trong Đô thị Khoa học công nghệ
|
Các chính sách ưu đãi theo Luật
Công nghiệp công nghệ số; chính sách Nhà đầu tư chiến lược theo Nghị quyết số
98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15
|
|
2
|
Khu công nghệ số tập trung Thành phố Hồ Chí Minh
|
100 ha
|
~5.000 tỷ VNĐ
|
Hoàn thiện các thủ tục pháp lý để triển khai theo quy hoạch
|
Khu khuôn viên đổi mới sáng tạo
quy mô lớn, tích hợp R&D, sản xuất thử, đào tạo và đổi mới sáng tạo; dành
cho các hoạt động khoa học công nghệ có nhu cầu diện tích lớn, gắn trực tiếp
với các vành đai sản xuất công nghệ cao; đóng vai trò hạt nhân sản xuất và ứng
dụng, kết nối trực tiếp với trung tâm đào tạo (các Đại học) và chuỗi khu công
nghiệp thông minh
|
Các chính sách ưu đãi theo Luật
Công nghiệp công nghệ số; chính sách Nhà đầu tư chiến lược theo Nghị quyết số
98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15
|
|
3
|
Công viên Giáo dục & Nghiên cứu Phát triển
|
~ 30 ha
|
~2.600 tỷ VNĐ
|
Hiện hữu, đang khai thác, tiếp tục mở rộng
|
Tập trung các cơ sở đào tạo,
viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm và không gian nghiên cứu ứng dụng; đóng vai
trò cầu nối giữa đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp, cung cấp nguồn nhân lực
chất lượng cao cho toàn hệ sinh thái
|
Chính sách Nhà đầu tư chiến
lược theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15
|
|
4
|
BWID Supply Chain City
|
74 ha
|
~10.000 tỷ VNĐ
|
Hiện hữu, đang khai thác, tiếp tục mở rộng
|
Hạ tầng logistics, nhà xưởng
và dịch vụ hỗ trợ chuỗi cung ứng cho sản xuất công nghệ cao; định hình trung
tâm dữ liệu của khu vực trong giai đoạn tiếp theo
|
|
|
5
|
Trung tâm Đa chức năng Khoa học công nghệ
|
20 ha
|
~1.996 tỷ VNĐ
|
Công trình hiện hữu (tài sản công) - Sẵn sàng khai thác sau khi chuyển
đổi từ TTHC tỉnh cũ
|
Hạt nhân điều phối và biểu tượng
của “bộ não khoa học công nghệ”, tập trung văn phòng R&D của các tập đoàn
công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, không gian làm việc chung, hội nghị -
triển lãm khoa học công nghệ; tận dụng và nâng cấp tài sản công hiện hữu theo
mô hình hợp tác công - tư để đưa vào khai thác ngay
|
Vận dụng Nghị quyết số
98/2023/QH15 về hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực Khoa học công nghệ. Cho
phép chuyển đổi công năng và lựa chọn đối tác vận hành tài sản công theo mô
hình quản trị quốc tế.
|
|
6
|
Công viên Khoa học - Sinh thái Bao gồm phần công viên đã được đầu tư
ban đầu; và các hạng mục sẽ được nâng cấp và đầu tư mới trong đó có Trung tâm
khám phá khoa học (2.5 ha)
|
72 ha
|
Trung tâm khám phá khoa học ~1035.5 tỷ VNĐ
|
Công viên đã hiện hữu, các công trình khác đang hoàn tất thủ tục pháp
lý để chuẩn bị triển khai
|
Không gian xanh trung tâm của
Vùng lõi, vừa điều hòa sinh thái
- môi trường, vừa là không
gian công cộng cho giao lưu học thuật, sự kiện khoa học ngoài trời và kết nối
cộng đồng sáng tạo. Trung tâm Khám phá Khoa học cung cấp giáo dục - truyền
thông khoa học, phổ biến STEM/STEAM, tạo không gian trải nghiệm khoa học cho
cộng đồng, học sinh - sinh viên; đóng vai trò nuôi dưỡng văn hóa khoa học và
nguồn nhân lực tương lai cho hệ sinh thái
|
Chính sách Nhà đầu tư chiến
lược theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15
|
|
7
|
Quần thể WTC Bao gồm các dự án thành phần như WTC Tower; WTC EXPO đã được
đầu tư xây dựng; và Trung tâm Văn hóa - Thương mại - Dịch vụ & Nhà ga
Metro (7.2 ha) sẽ được triển khai sớm trong tương lai
|
11 ha
|
~3.765 tỷ VNĐ
|
Hiện hữu, đang khai thác, tiếp tục mở rộng
|
Đầu mối xúc tiến thương mại,
MICE và kết nối quốc tế; tổ chức triển lãm công nghệ, hội nghị khoa học -
công nghệ, kết nối doanh nghiệp trong nước với các đối tác toàn cầu
|
|
Bao quanh vùng lõi khoa học
công nghệ là hệ thống các Khu công nghiệp Công nghệ cao quy mô lớn. Hệ thống
này định hình vành đai sản xuất công nghệ cao, bảo đảm sự liên thông liên tục
giữa nghiên cứu - phát triển - sản xuất - thị trường trong cùng một cấu trúc
không gian với tính kết nối cao
Các Khu công nghiệp Công nghệ
cao này được quy hoạch theo định hướng hình thành các phân khu chức năng chuyên
biệt, bao gồm khu công nghệ cao và khu công nghệ số tập trung, với mức độ đầu
tư bài bản, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật - hạ tầng số - hạ tầng dịch vụ.
|
STT
|
Khu công nghiệp Công nghệ cao
|
Diện tích QH (ha)
|
Tổng mức đầu tư (ước)
|
Hiện trạng
|
|
1
|
Cây Trường
|
700
|
~5.459 tỷ VNĐ
|
Đã được cấp giấy chứng nhận đầu
tư (Chủ đầu tư: Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP).
|
|
2
|
VSIP III
|
1.000
|
~14.835 tỷ VNĐ
|
Đã được cấp giấy chứng nhận đầu
tư (Chủ đầu tư: Công ty Liên Doanh TNHH Khu Công Nghiệp Việt Nam - Singapore).
|
|
3
|
Bình Dương Riverside
|
600
|
~12.772 tỷ VNĐ
|
Quy hoạch là đất khu công
nghiệp. Hiện trạng Đất nông nghiệp
|
|
4
|
Lai Hưng
|
600
|
~9.196 tỷ VNĐ
|
Quy hoạch là đất khu công
nghiệp. Hiện trạng Đất nông nghiệp
|
Tổng quy mô quỹ đất công nghiệp
- công nghệ cao trong vành đai sản xuất dự kiến đạt trên 3.100 ha, trong đó khoảng
1.020 ha được bố trí cho các Khu Công nghệ cao và Khu công nghệ số tập trung.
Nhờ đó, một hệ sinh thái đổi mới
khép kín có thể được thiết lập, cho phép các ý tưởng, công nghệ và kết quả
nghiên cứu nhanh chóng được thử nghiệm, hoàn thiện, mở rộng quy mô và thương mại
hóa trong cùng một không gian phát triển liên tục, rút ngắn đáng kể khoảng cách
giữa nghiên cứu - sản xuất - thị trường.
2.4. Vai
trò của mô hình hợp tác công - tư trong phát triển Đô thị Khoa học công nghệ
Để bảo đảm hiệu quả đầu tư, vận
hành và khai thác lâu dài, Đề án đề xuất áp dụng mô hình hợp tác công - tư
trong phát triển và vận hành các hạng mục trọng điểm của Đô thị Khoa học công nghệ.
Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, quản lý và bảo đảm lợi ích công,
trong khi doanh nghiệp, với vai trò là đối tác triển khai và vận hành, chịu
trách nhiệm khai thác hiệu quả tài sản, kết nối thị trường và thu hút các nguồn
lực xã hội.
Việc giao cho doanh nghiệp có
năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới đối tác quốc tế tham gia vận hành các công
trình công được chuyển đổi công năng không chỉ giúp vượt qua những thách thức
thường gặp về chi phí vận hành và hiệu quả sử dụng tài sản công, mà còn bảo đảm
các không gian khoa học công nghệ đạt chuẩn mực quốc tế, đủ sức thu hút các đối
tác đẳng cấp toàn cầu cùng tham gia đồng kiến tạo và tạo ra tác động lan tỏa lớn
cho phát triển kinh tế - xã hội.
PHẦN III.
CÁC THÀNH TỐ PHÁT TRIỂN VÀ HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Để Đô thị Khoa học công nghệ -
Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có tính định hướng và có khả năng tạo ra tác động rõ
nét ngay trong ngắn hạn, Đề án xác định năm thành tố chiến lược cần được đầu tư
và phát triển đồng bộ. Các thành tố này được xây dựng trên nền tảng hệ sinh
thái khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo hiện có và đang vận hành trong hơn một
thập kỷ qua, đồng thời được nâng tầm và tăng tốc trong thời gian tới.
3.1.
Thành tố 1: Hạ tầng nghiên cứu và sản xuất tiên tiến
Các hạ tầng khoa học công nghệ
tại Vùng lõi và các vành đai công nghiệp - công nghệ cao được xác định là nền tảng
ban đầu, cho phép kích hoạt nhanh hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng
tạo trong giai đoạn 2025-2030, đồng thời tạo dư địa và không gian phát triển
cho các giai đoạn tiếp theo.
Hạ tầng khoa học công nghệ là
điều kiện tiên quyết để thu hút các hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D)
và các dự án công nghệ cao. Trên cơ sở các thiết chế đã hình thành, tập trung
phát triển các cấu phần hạ tầng với các dự án hạt nhân thu hút nhà đầu tư chiến
lược theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 như sau:
Trung tâm Sản xuất Tiên tiến
(Advanced Manufacturing Center - AMC) được định hướng là Trung tâm đổi mới sáng
tạo theo chuẩn quốc tế thông qua hợp tác chiến lược cùng A*STAR (Cơ quan Nghiên
cứu & Phát triển Khoa học Công nghệ của Chính phủ Singapore) và các tập
đoàn công nghệ, cung cấp máy móc, thiết bị gia công chính xác, in 3D công nghiệp,
dây chuyền lắp ráp và kiểm thử cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Mô hình này giúp thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ nghiên cứu ứng dụng,
hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất chuyển đổi công nghệ hiệu quả.
Trung tâm Nghiên cứu Vi điện tử
được phát triển trên cơ sở hợp tác với Viện Fraunhofer ENAS (Hệ thống viện
nghiên cứu ứng dụng lớn nhất CHLB Đức), tập trung vào các lĩnh vực then chốt
như đóng gói và kiểm thử chip (packaging & testing), thiết kế vi mạch, cảm
biến và hệ thống thông minh. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành năng lực
nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực bán dẫn, gắn trực tiếp với nhu cầu đào
tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển, và chuyển giao công nghệ của các khu sản
xuất công nghệ cao trong vùng.
Hệ thống phòng thí nghiệm dùng
chung (Shared Labs) đã được hình thành tại Trường Đại học Quốc tế Miền Đông
(EIU) và các viện nghiên cứu được tổ chức theo mô hình mở, bao gồm TechLab,
FabLab và các hệ thống phòng sạch đạt chuẩn quốc tế (Class 100/1000), phục vụ
nghiên cứu vật liệu mới, điện tử, sinh học và công nghệ số. Các phòng thí nghiệm
này cho phép chia sẻ hạ tầng, tối ưu nguồn lực đầu tư và tăng cường liên kết giữa
viện - trường - doanh nghiệp. Hệ sinh thái hoàn chỉnh cho phép tiếp cận trọn vẹn
chuỗi giá trị từ nghiên cứu, thiết kế, tạo mẫu, sản xuất thử nghiệm đến thương
mại hóa trong môi trường khu công nghiệp.
Nhằm nuôi dưỡng niềm yêu thích
khoa học công nghệ cho thế hệ trẻ, từ năm 2020 đến nay, Becamex đã tổ chức 758
lớp đào tạo STEM cho gần 24.000 học sinh phổ thông trong khuôn viên Trường Đại
học Quốc tế Miền Đông (EIU)
Điển hình, Trung tâm Đổi mới
sáng tạo Công nghiệp 4.0, thành lập năm 2023, đã hỗ trợ hơn 100 doanh nghiệp;
trong đó EIU trực tiếp hỗ trợ trên 20 doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước
đánh giá Sẵn sàng Công nghiệp Thông minh (SIRI) và xây dựng lộ trình chuyển đổi,
đào tạo nâng cao năng lực, chuyển giao công nghệ, đến triển khai thí điểm và
nhân rộng các giải pháp tại doanh nghiệp với kết quả tích cực.
Song song với đầu tư mới, đặc
biệt nhấn mạnh việc tận dụng và chuyển đổi công năng các công trình công hiện hữu,
nhất là Khu Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ), để hình thành các thiết
chế khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể đưa vào khai thác ngay. Cách
tiếp cận này không chỉ rút ngắn thời gian triển khai, mà còn bảo đảm sử dụng hiệu
quả tài sản công và tạo ra các không gian mang tính biểu tượng, đủ đẳng cấp để
thu hút các đối tác quốc tế.
3.2.
Thành tố 2: Hạ tầng kỹ thuật sẵn sàng phục vụ sản xuất Công nghệ cao
- Hạ tầng năng lượng:
Tổng nhu cầu công suất điện của
Khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương (quy mô 1.000 ha) khoảng
1.704 MVA. Trong đó, 504 MVA từ điện lưới quốc gia đã được phê duyệt trong quy
hoạch; 1.200 MVA đang được đề xuất bổ sung vào quy hoạch mới. Nhà máy nhiệt điện
LNG đồng phát có công suất 200 MW đang trong quá trình đề xuất bổ sung quy hoạch;
điện mặt trời mái nhà có tổng công suất tiềm năng khoảng 120 MW đã có trong quy
hoạch.
Về cấp điện, khu vực này dự kiến
được cấp điện từ lưới điện 220 kV với đề xuất bổ sung một trạm biến áp 220 kV
(3x250 MVA) vào quy hoạch. Ở cấp 110 kV, khu vực hiện có 02 trạm biến áp (2x63
MVA) đã được phê duyệt trong quy hoạch và đang đề xuất bổ sung 05 trạm biến áp
110 kV (2x80 MVA) để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng. Ngoài ra, quy hoạch còn đề xuất
bổ sung 15 MW điện mặt trời mái nhà và 100 MW từ nhà máy nhiệt điện LNG đồng
phát nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định, đa dạng và bền vững, kết hợp hài hòa giữa
nguồn điện truyền thống và năng lượng sạch.
- Hạ tầng cấp nước:
Khu vực dự án được thụ hưởng hệ
thống cấp nước do Nhà máy nước Tân Hiệp (Khu Liên Hợp) cung cấp, cách khoảng 6
km, khai thác nguồn nước mặt sông Đồng Nai ổn định, chất lượng nước tuân thủ
QCVN 01-1:2024/BYT
Quy chuẩn quốc gia về nước sạch
sinh hoạt. Nhà máy có công suất thiết kế 370.000 m³/ngày, hiện vận hành
~200.000 m³/ngày và có thể mở rộng đến 500.000 m³/ngày. Từ Tân Hiệp đến khu vực
dự án có ba tuyến ống truyền tải chính (D500, D800, D1000) với tổng năng lực
trên 200.000 m³/ngày đêm, bảo đảm áp lực và lưu lượng ổn định 24/7 cho cả công
nghiệp và sinh hoạt. Mạng lưới liên thông với các Nhà máy nước Tân Uyên, Thuận
An và Bàu Bàng, tạo vòng cấp nước khép kín, đa nguồn, giúp cấp nước liên tục,
an toàn và linh hoạt. Các ngành công nghệ cao có thể bổ sung hệ thống xử lý bậc
ba (RO, UPW) tại chỗ để đạt chuẩn nước siêu sạch phục vụ sản xuất.
- Hạ tầng xử lý nước thải: hệ
thống thoát nước mưa và nước thải riêng biệt. Nước thải sản xuất được xử lý cục
bộ đạt tối thiểu cột B và Nhà máy xử lý tập trung sẽ xử lý đạt chuẩn cột A. Hệ
thống được trang bị trạm bơm, quan trắc tự động và kết nối dữ liệu trực tuyến về
trung tâm điều hành thông minh để quản lý, giám sát, đồng thời hướng tới tái sử
dụng.
- Hạ tầng Dữ liệu và Viễn
thông: hạ tầng cáp quang đảm bảo các tiêu chuẩn về nhà mạng trung lập, độ trễ
cho phép; hạ tầng cloud, 5G đáp ứng yêu cầu khắt khe của Data Center chuyên dụng
như AI, HPC.
- Giao thông kết nối:
|
STT
|
Tên Dự án
|
Quy mô
|
Tổng mức đầu tư (ước)
|
|
Hệ Thống Đường Bộ
|
|
1
|
Quốc Lộ 13 Mở Rộng
|
62 km
|
6.255 tỷ VNĐ
|
|
2
|
Mỹ Phước - Tân Vạn
|
64 km
|
20.158 tỷ VNĐ
|
|
3
|
Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh
- Thủ Dầu Một - Chơn Thành
|
52 km
|
17.116 tỷ VNĐ
|
|
4
|
Vành Đai 4
|
47 km
|
21.702 tỷ VNĐ
|
|
Hệ Thống Đường Sắt Nhanh
|
|
5
|
Giai đoạn 1: Tuyến Chơn Thành
- Bàu Bàng - An Bình - Cái Mép
|
153,4 km
|
168.000 tỷ VNĐ
|
|
6
|
Giai đoạn 2:
● Tuyến Thành phố Hồ Chí Minh
- Cần Thơ 175,2 km
● Tuyến An Bình - Lộc Ninh:
kéo dài tuyến từ Chơn Thành - Hoa Lư 36,3km
● Tuyến Mộc Bài - Bàu Bàng
58km
|
296 km
|
382.000 tỷ VNĐ
|
|
Hệ Thống Metro
|
|
7
|
Tuyến metro số 1 BD cũ - Dọc theo
Mỹ Phước - Tân Vạn (Kết nối tuyến Metro line số 1 Suối Tiên): Là hành lang
phát triển công nghiệp chủ đạo, kết nối trung tâm Thành phố Khoa học công nghệ
với trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh
|
32.43 km
|
64.370 tỷ VNĐ
|
|
8
|
Tuyến metro số 2 BD cũ - Dọc
theo Quốc Lộ 13 (Thủ Dầu Một - trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, Kết nối tuyến
Metro line số 3 Hiệp Bình)
|
21.87 km
|
59.968 tỷ VNĐ
|
Hệ thống hạ tầng được quy hoạch
dựa trên các trục xương sống chiến lược như Quốc lộ 13 (mở rộng), Mỹ Phước - Tân
Vạn và Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành, đảm bảo luồng lưu thông
xuyên suốt từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Tây Nguyên. Song song đó, các tuyến
Vành đai 3 và Vành đai 4 đóng vai trò là trục động lực Đông - Tây, thiết lập sự
kết nối trực tiếp với các cực tăng trưởng Đồng Nai, Tây Ninh và mở rộng hướng về
Sân bay quốc tế Long Thành.
Sự kết hợp đa phương thức với
đường sắt Bàu Bàng - Cái Mép và các tuyến Metro tạo ra bước ngoặt về logistics,
giúp hàng hóa tiếp cận trực tiếp cụm cảng biển Cái Mép - Thị Vải cùng hệ thống
sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất và Long Thành. Sự đồng bộ này khẳng định vị thế
của Đô thị Khoa học công nghệ như một cửa ngõ giao thương quan trọng, kết nối địa
phương trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc thiết lập hệ thống giao
thông đa phương thức này không chỉ rút ngắn thời gian tiếp cận sân bay, cảng biển
quốc tế mà còn giảm chi phí logistics, biến khu vực thành cửa ngõ giao thương
chiến lược, thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư công nghệ cao vào địa phương.
3.3.
Thành tố 3: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài (Human
Capital)
Con người là trung tâm của mọi
hoạt động Khoa học Công nghệ, Đổi mới sáng tạo, Sản xuất Công nghệ cao. Chiến
lược phát triển nguồn nhân lực của Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc được triển
khai dựa trên ba trụ cột chính. Cụ thể như mục tiêu hình thành cụm đổi mới sáng
tạo điện tử - bán dẫn quy mô vùng, đào tạo ít nhất 9.000 nhân lực ngành bán dẫn
từ Kết luận 45-TB/TGV của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Thứ nhất, đẩy mạnh hợp tác Viện
trường và doanh nghiệp với mục tiêu gắn đào tạo, nghiên cứu phát triển gắn kết
chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Các trường đại học trong khu vực
như Đại học Quốc tế Miền Đông (EIU), Đại học Việt Đức (VGU) và Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh từng bước điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng
cường thực hành, nghiên cứu ứng dụng và làm việc trực tiếp tại các trung tâm
R&D, AMC và doanh nghiệp công nghệ cao. Việc triển khai các chứng chỉ kỹ
năng và bộ công cụ đánh giá theo chuẩn quốc tế như Chỉ số sẵn sàng công nghiệp
thông minh (SIRI - Smart Industry Readiness Index) giúp chuẩn hóa năng lực kỹ
sư và doanh nghiệp theo tiêu chuẩn Công nghiệp 4.0.
Thứ hai, thu hút chuyên gia và
nhà khoa học trình độ cao trong nước và quốc tế. Tận dụng các cơ chế đặc thù
theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15, Thành phố Hồ
Chí Minh có điều kiện thiết kế các gói chính sách cạnh tranh về thuế thu nhập
cá nhân, nhà ở, y tế, giáo dục cho con em, nhằm thu hút các nhà khoa học đầu
ngành, chuyên gia công nghệ và Việt kiều về làm việc, nghiên cứu và khởi nghiệp
tại Đô thị Khoa học công nghệ.
Thứ ba, phát triển các chương
trình trao đổi học giả và hợp tác đào tạo - nghiên cứu quốc tế. Các chương
trình trao đổi thường niên với các trung tâm khoa học công nghệ lớn như Hsinchu
Đài Loan (Trung Quốc), Eindhoven (Hà Lan), Singapore sẽ góp phần nâng cao năng
lực nghiên cứu nội tại, đồng thời kết nối đội ngũ nhân lực trong nước với mạng
lưới tri thức toàn cầu.
3.4.
Thành tố 4: Hệ sinh thái khởi nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp (Business
Ecosystem)
Một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
năng động đòi hỏi môi trường kinh doanh thuận lợi, nơi các ý tưởng mới được ươm
tạo, thử nghiệm và phát triển thành doanh nghiệp có khả năng tham gia chuỗi giá
trị toàn cầu. Định hướng tập trung vào việc kế thừa các trung tâm hỗ trợ hiện hữu,
đồng thời mở rộng liên kết vùng để hình thành một mạng lưới đổi mới sáng tạo và
khởi nghiệp đẳng cấp quốc tế.
Vườn ươm doanh nghiệp Becamex
(BBI) thành lập từ năm 2017 tập trung vào các startup hard-tech, IoT và sản xuất
thông minh - những lĩnh vực đòi hỏi hạ tầng kỹ thuật chuyên sâu mà các vườn ươm
truyền thống khó đáp ứng. BBI kết nối chặt chẽ với AMC, TechLab và các khu sản
xuất thử để hỗ trợ doanh nghiệp đi trọn hành trình từ ý tưởng đến sản phẩm và
thị trường. Một số startup sản xuất công nghệ cao, trong đó Datbike, Vulcan
Augmetics, Ninja Van, RedHare Studio và Oyika đã khẳng định vị thế trên thị trường
và đạt được những cột mốc quan trọng.
BLOCK71 Saigon (từ 2020) - mô
hình hợp tác giữa Becamex và NUS Enterprise - được xác định là cửa ngõ kết nối
các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam với thị trường quốc tế, các quỹ đầu tư và
mạng lưới cố vấn toàn cầu. BLOCK71 không chỉ cung cấp không gian làm việc, mà
còn đóng vai trò nền tảng tăng tốc, gọi vốn và kết nối trực tiếp vào chuỗi cung
ứng toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia.
Thiết lập các khu vực như
BLOCK71 và Vườn ươm BBI là vùng thử nghiệm sandbox cho các startup hard-tech
theo cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số
260/2025/QH15.
Mạng lưới liên kết hệ sinh thái
trọng điểm với trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh - liên kết chặt chẽ với các
trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu tại Thành phố Hồ Chí Minh, đóng vai trò là
một mắt xích quan trọng trong mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia:
● Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh: trụ cột tri thức với mục đích nghiên cứu và phát triển các công nghệ
sâu như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, đồng thời tạo nguồn nhân
lực và tài sản trí tuệ.
● Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ
Chí Minh (SHTP): cầu nối ứng dụng, nơi thử nghiệm, sản xuất thử và thương mại
hóa kết quả nghiên cứu thông qua các phòng thí nghiệm, khu thực nghiệm và
sandbox công nghệ.
● Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo
Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB): điều phối chính sách, tư vấn về các cơ chế đặc
thù cho startup.
Đặc biệt chú trọng các nền tảng
kết nối chuỗi cung ứng (B2B matching), tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghiệp
hỗ trợ trong nước tương tác trực tiếp và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của
các tập đoàn đa quốc gia (MNCs). Việc hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo sôi
động giữa các trung tâm này giúp tối ưu hóa nguồn lực, biến khu vực thành điểm
đến hấp dẫn cho các nguồn lực đổi mới sáng tạo trong giai đoạn tiếp theo.
3.5.
Thành tố 5: Hợp tác quốc tế chiến lược (Global Partnership)
Đô thị Khoa học công nghệ được
đặt trong mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu thông qua các quan hệ hợp tác chiến
lược về công nghệ, hạ tầng và tài chính.
Về hợp tác công nghệ, kế thừa
và làm sâu sắc các mối quan hệ hiện có với các đối tác uy tín như Fraunhofer (Đức),
NUS (Singapore), A*STAR/ARTC (Singapore), Qualcomm, Bosch, đồng thời mở rộng hợp
tác với các viện nghiên cứu và tập đoàn công nghệ hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc
và Hoa Kỳ trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và sản xuất tiên tiến
trong giai đoạn tiếp theo.
3.6.
Thành tố 6: Đô thị xanh, năng lượng bền vững và tiêu chuẩn ESG và Khu Công nghiệp
sinh thái
Phát triển bền vững được xác định
là nền tảng cốt lõi bảo đảm năng lực cạnh tranh dài hạn của Đô thị Khoa học
công nghệ trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng
xanh, bao trùm và có trách nhiệm, đồng thời hội nhập ngày càng sâu vào các chuỗi
giá trị toàn cầu chịu sự chi phối mạnh mẽ của các tiêu chuẩn ESG. Đối với Đô thị
Khoa học công nghệ, phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu về môi trường mà
là điều kiện cấu thành để hình thành một không gian nghiên cứu, đổi mới sáng tạo
và sản xuất công nghệ cao có khả năng vận hành ổn định, hiệu quả và thích ứng
trong dài hạn.
Trên nền tảng đó, cần chủ động
tích hợp đồng bộ các giải pháp đô thị xanh, năng lượng sạch và quản trị bền vững
ngay từ giai đoạn hình thành, coi đây là hạ tầng nền thiết yếu phục vụ toàn bộ chuỗi
hoạt động nghiên cứu phát triển, thử nghiệm, sản xuất và thương mại hóa công
nghệ. Cách tiếp cận này trực tiếp đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của
các tập đoàn công nghệ hàng đầu và các định chế tài chính quốc tế về độ ổn định
hệ thống, năng lượng carbon thấp, quản trị minh bạch và trách nhiệm xã hội, qua
đó củng cố niềm tin và thu hút các nhà đầu tư chiến lược dài hạn trong lĩnh vực
khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, triển khai chiến
lược ESG một cách toàn diện, coi việc xây dựng nền tảng năng lượng và nguồn nước
cho sản xuất công nghệ cao là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành và vận
hành Đô thị Khoa học công nghệ. Các tiêu chuẩn nền về quy mô tiêu thụ lớn, độ ổn
định tuyệt đối, chất lượng cao và phát thải carbon thấp được xác lập ngay từ
khâu quy hoạch và đầu tư hạ tầng, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt trong
thu hút các dự án R&D, trung tâm dữ liệu, phòng thí nghiệm và nhà máy công
nghệ cao.
Về năng lượng, hạ tầng điện
công nghiệp vượt chuẩn, mỗi khu công nghiệp bố trí từ hai đến bốn trạm biến áp,
thiết kế theo cấu trúc mạch vòng với hai nguồn dự phòng, bảo đảm cấp điện liên
tục và an toàn. Song song đó, hệ sinh thái năng lượng tái tạo đã được hình
thành với tổng công suất điện mặt trời vượt 300 MWp, cung cấp điện xanh đạt chứng
chỉ I-REC; kết hợp điện LNG đồng phát, lưu trữ năng lượng BESS và nền tảng quản
lý năng lượng thông minh, cho phép cân bằng hệ thống, tối ưu hiệu suất và minh
bạch hóa phát thải theo thời gian thực. Đây là nền tảng năng lượng tin cậy cho Đô
thị Khoa học công nghệ và đáp ứng các yêu cầu ESG của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Song hành với năng lượng, hạ tầng
môi trường và tài nguyên được phát triển theo hướng tuần hoàn. Các khu công
nghiệp và đô thị áp dụng xử lý nước thải tuần hoàn, quản lý chất thải thông
minh, tái sử dụng tài nguyên nước; đồng thời triển khai các giải pháp điện rác
công suất khoảng 24 MWh nhằm tối ưu hóa tài nguyên và giảm phát thải. Không
gian xanh được phát triển quy mô lớn với hơn 2 triệu cây xanh đã được trồng,
góp phần cải thiện vi khí hậu và hiện thực hóa mục tiêu NetZero 2050. Các công
trình từng bước áp dụng các tiêu chuẩn công trình xanh quốc tế như LEED và
EDGE, tạo môi trường nghiên cứu, sản xuất và sinh sống bền vững.
Về quản trị và xã hội, hệ thống
được vận hành thông qua Trung tâm Điều hành Thông minh (IOC) hiện đại, nâng cao
hiệu quả quản trị, minh bạch dữ liệu và ra quyết định dựa trên dữ liệu thời
gian thực. Song song đó, các chương trình đào tạo nâng cao nhận thức về ESG và
Net Zero được triển khai cho doanh nghiệp và người lao động, góp phần hình
thành hệ sinh thái công nghiệp bền vững và giàu tính nhân văn.
Trên nền tảng hạ tầng và quản
trị bền vững đó, Khu Công nghiệp sinh thái (Eco-Industrial Park - EIP) là định
hướng chiến lược nhằm nâng cấp toàn diện hệ sinh thái công nghiệp đô thị phục vụ
Đô thị Khoa học công nghệ theo các chuẩn mực quốc tế về môi trường, xã hội và
quản trị. Vận dụng cơ chế liên kết với Trung tâm Tài chính Quốc tế để các doanh
nghiệp trong Khu công nghiệp sinh thái (EIP) dễ dàng tiếp cận nguồn vốn xanh và
trái phiếu xanh. Thông qua hợp tác với Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tập
đoàn Tài chính Quốc tế (IFC), mô hình EIP tập trung thúc đẩy cộng sinh công
nghiệp, phát triển năng lượng tái tạo, tối ưu hóa sử dụng năng lượng, nước và vật
liệu, tăng cường tuần hoàn tài nguyên, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị và
năng lực ESG của toàn bộ hệ sinh thái khu công nghiệp. Việc hợp tác với IFC triển
khai các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, đánh giá và chứng nhận Khu Công nghiệp
sinh thái toàn cầu (GEIPAC) tạo cơ sở cải thiện vận hành, nâng cao năng lực ESG
và tiếp cận các nguồn lực tài chính xanh. Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh
định hướng trở thành trung tâm tài chính quốc tế, mô hình này góp phần hình
thành hệ sinh thái công nghiệp đô thị xanh, bền vững và có khả năng cạnh tranh
toàn cầu, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của Đô thị Khoa học
công nghệ.
PHẦN IV.
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để làm rõ các cơ chế, chính
sách và mô hình tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm Đề án Đô thị Khoa học công nghệ
- Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được triển khai đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm -
trọng điểm, phù hợp với các cơ chế đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh và phát
huy tối đa vai trò của các chủ thể tham gia.
4.1. Cơ
chế, chính sách đặc thù để triển khai Đề án
4.1.1. Cơ
chế, chính sách đặc thù
Việc triển khai Đô thị Khoa học
công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh cần được đặt trong khuôn khổ các cơ chế,
chính sách đặc thù hiện có mà đặc biệt Trung ương đã cho phép Thành phố Hồ Chí
Minh thí điểm là các cơ chế theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số
260/2025/QH15 của Quốc hội về việc bổ sung, hoàn thiện cơ chế đặc thù cho Thành
phố Hồ Chí Minh. Hai nghị quyết này tạo ra không gian thể chế quan trọng để
Thành phố chủ động thử nghiệm các mô hình phát triển mới gắn với khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo và sản xuất công nghệ cao.
Trước hết, trên cơ sở các cơ chế
đã được quy định trong Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số
260/2025/QH15, Đề án đề xuất vận dụng linh hoạt các cơ chế về quản lý đầu tư,
tài chính - ngân sách và phân cấp, phân quyền để rút ngắn thời gian chuẩn bị và
triển khai các dự án hạ tầng khoa học công nghệ trọng điểm. Trong đó, cho phép
Thành phố chủ động quyết định danh mục dự án ưu tiên, hình thức đầu tư và đối tác
triển khai trên cơ sở bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể và lợi ích
công.
Thứ hai, xây dựng các chính
sách ưu đãi có chọn lọc đối với hoạt động nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng
tạo và chuyển giao công nghệ, gắn với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán
dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất tiên tiến, trung tâm dữ liệu và công nghệ số.
Các chính sách này tập trung vào hỗ trợ hạ tầng dùng chung, tiếp cận không gian
làm việc - nghiên cứu, hỗ trợ chi phí thử nghiệm, sản xuất thử và kết nối thị
trường, thay vì ưu đãi dàn trải theo hình thức.
Thứ ba, trên cơ sở các quy định
thí điểm đã được Quốc hội cho phép, áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát
(sandbox) đối với một số mô hình, công nghệ và phương thức tổ chức mới trong Đô
thị Khoa học công nghệ, cho phép thử nghiệm có chọn lọc các giải pháp về công
nghệ, quản trị và tổ chức vận hành trước khi tổng kết, đánh giá và nhân rộng
theo quy định.
4.1.2. Tận
dụng mô hình TOD (Transit-Oriented Development)
Trên cơ sở định hướng phát triển
không gian tích hợp và giao thông công cộng khối lượng lớn, áp dụng mô hình
phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD) tại các khu vực xung
quanh các nhà ga Metro, đặc biệt là tuyến Bến Thành - Suối Tiên kéo dài về phường
Bình Dương, Tuyến metro số 2 (Thủ Dầu Một - TP.HCM), cũng như tại các nút giao
thông chiến lược của Vành đai 3 và Vành đai 4.
Theo mô hình này, cho phép
nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch cục bộ, tăng hệ số sử dụng đất và mật độ xây dựng
có kiểm soát để phát triển các khu đô thị nén, thương mại - dịch vụ, không gian
làm việc và đổi mới sáng tạo gắn với các đầu mối giao thông công cộng. Nguồn
thu từ đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án tại các khu vực TOD được định
hướng sử dụng để tái đầu tư cho hạ tầng giao thông, hạ tầng khoa học công nghệ
và các công trình công cộng trong Đô thị Khoa học công nghệ, qua đó tạo cơ chế
tài chính bền vững và vòng quay tái đầu tư hiệu quả.
4.1.3. Mô
hình quản lý và tổ chức bộ máy
Để bảo đảm triển khai thống nhất,
xuyên suốt và hiệu quả, Đề án đề xuất nghiên cứu thành lập mô hình "một cửa"
và được phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ trong việc thực hiện một số thẩm quyền của
các sở, ngành liên quan, đặc biệt trong các lĩnh vực phê duyệt quy hoạch chi tiết
(1/500), cấp phép đầu tư, xây dựng, môi trường và triển khai dự án, theo cơ chế
“một cửa tại chỗ”, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính nhằm kiến tạo môi trường
thân thiện, linh hoạt đối với các nhà đầu tư, từ các doanh nghiệp lớn, doanh
nghiệp vừa và nhỏ, startups công nghệ đến các viện trường trong và ngoài nước.
Đồng thời, có cơ chế được thuê
tư vấn quốc tế, tổ chức nghiên cứu và tuyển dụng các chuyên gia, nhà khoa học,
nhà quản lý có trình độ cao để tham gia trực tiếp vào công tác quy hoạch, quản
trị và vận hành Đô thị Khoa học công nghệ, với cơ chế đãi ngộ phù hợp với tính
chất đặc thù và yêu cầu cạnh tranh quốc tế, trên cơ sở tuân thủ các quy định hiện
hành và cơ chế thí điểm được Trung ương cho phép.
4.1.4. Cơ
chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox)
Trên nền tảng các cơ chế thí điểm
theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15, Đề án đề xuất
nghiên cứu thí điểm một số không gian và cơ chế sandbox đặc thù gắn với khoa học
công nghệ và đổi mới sáng tạo tại khu vực Bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó,
xem xét khả năng hình thành khu vực thương mại - đổi mới sáng tạo có cơ chế
tương tự khu thương mại tự do (FTZ) gắn với hoạt động nghiên cứu - phát triển,
sản xuất thử nghiệm và logistics công nghệ cao, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành
chính, xuất nhập khẩu đối với hàng hóa, thiết bị và vật tư phục vụ R&D và thử
nghiệm công nghệ.
Bên cạnh đó, cho phép triển
khai thí điểm, trong phạm vi không gian được xác định, một số công nghệ và mô
hình mới như phương tiện tự hành, thiết bị bay không người lái (drone) và các
giải pháp số tiên tiến khác, với các quy định pháp lý được điều chỉnh linh hoạt
có kiểm soát, làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng trong tương lai.
4.2. Liên
kết tài chính và cơ chế huy động, sử dụng nguồn lực
4.2.1.
Liên kết với Trung tâm Tài chính Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở định hướng hình
thành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh theo các chủ trương
và nghị quyết của Quốc hội, Đề án xác định Đô thị Khoa học công nghệ phía Bắc
là một không gian thụ hưởng trực tiếp các cơ chế và dòng vốn tài chính mới. Việc
liên kết chặt chẽ giữa hai không gian này cho phép thu hút các quỹ đầu tư mạo
hiểm (Venture Capital), quỹ đầu tư tư nhân (Private Equity) và các định chế tài
chính quốc tế đặt trụ sở, văn phòng đại diện hoặc triển khai hoạt động đầu tư
vào các doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ trong hệ sinh thái
Đô thị Khoa học công nghệ.
Thông qua vai trò kết nối của
Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại Thành phố Hồ Chí Minh, chủ động khai
thác các thành tựu và công cụ tài chính mới để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên như Chip bán dẫn,
AI và Công nghệ số.
Sự liên kết này nhằm tạo nền tảng
hình thành các dự án hợp tác có giá trị gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh
tranh cho hệ sinh thái sản xuất thông minh và sản xuất có trách nhiệm tại Đô thị
KHCN Bắc Thành phố. Đồng thời, khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tài chính
trong và ngoài nước phát triển các sản phẩm tài chính chuyên biệt như tín dụng
xanh, tín dụng công nghệ, bảo lãnh đổi mới sáng tạo và các công cụ tài chính hỗ
trợ R&D với lãi suất và điều kiện ưu đãi phù hợp, qua đó tạo nguồn lực tài
chính ổn định cho các doanh nghiệp công nghệ trong các giai đoạn phát triển
khác nhau.
4.2.2. Cơ
chế huy động và sử dụng nguồn lực
Đề án xác định đa dạng hóa nguồn
lực đầu tư là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính bền vững và khả năng mở rộng
của Đô thị Khoa học công nghệ.
Nguồn lực ngân sách nhà nước tập
trung đầu tư vào hạ tầng khung, hạ tầng công cộng, các thiết chế khoa học công
nghệ dùng chung và các dự án có tính chất dẫn dắt, tạo nền tảng ban đầu cho hệ
sinh thái. Việc sử dụng ngân sách được định hướng theo nguyên tắc “vốn mồi”, tạo
lực hút cho các nguồn lực xã hội hóa.
Song song đó, Đề án đẩy mạnh
huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài
nước thông qua các hình thức hợp tác công - tư (PPP), liên doanh - liên kết và
các mô hình đầu tư linh hoạt khác. Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược được thực
hiện trên cơ sở năng lực triển khai, kinh nghiệm vận hành và mạng lưới đối tác
quốc tế, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư.
Ngoài ra, Đề án khuyến khích
khai thác các nguồn vốn quốc tế, vốn tài chính xanh và vốn hỗ trợ kỹ thuật
thông qua hợp tác với các tổ chức quốc tế, định chế tài chính phát triển và các
chương trình hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực khoa học công nghệ,
đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
4.3. Mô
hình tổ chức và quản trị thực hiện Đề án
Để bảo đảm triển khai thống nhất
và hiệu quả, Đề án đề xuất thiết lập cơ chế tổ chức và quản trị theo hướng tinh
gọn, rõ vai trò và trách nhiệm của từng chủ thể.
Nhà nước, với vai trò là chủ thể
kiến tạo, thực hiện chức năng định hướng chiến lược, ban hành cơ chế, chính
sách, giám sát và bảo đảm lợi ích công. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
chỉ đạo, quyết định các vấn đề mang tính chiến lược và tháo gỡ kịp thời các vướng
mắc trong quá trình triển khai.
Viện Nghiên cứu Phát triển
Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS) và Sở Khoa học công nghệ giữ vai trò là cơ quan
tham mưu chiến lược quan trọng của Thành phố trong quá trình triển khai Đề án,
có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp nghiên cứu, đề xuất các định hướng phát
triển, mô hình tổ chức, cơ chế chính sách đặc thù và đánh giá tác động kinh tế
- xã hội của Đô thị Khoa học công nghệ theo từng giai đoạn. HIDS đồng thời là đầu
mối kết nối tri thức, tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và hỗ trợ Ủy ban nhân dân
Thành phố trong việc hoàn thiện các quyết sách lớn liên quan đến Đề án.
Doanh nghiệp có năng lực, kinh
nghiệm và hệ sinh thái đối tác quốc tế, trong đó có nhà đầu tư chiến lược, được
giao vai trò chủ lực trong triển khai, vận hành và khai thác các hạng mục hạ tầng,
công trình và chương trình cụ thể của Đô thị Khoa học công nghệ theo mô hình hợp
tác công - tư. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm hiệu quả vận hành, chất lượng dịch
vụ và khả năng kết nối thị trường theo chuẩn mực quốc tế.
Các viện nghiên cứu, trường đại
học và tổ chức khoa học công nghệ giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động nghiên cứu,
đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Sự tham gia thực
chất của các chủ thể này là điều kiện tiên quyết để Đô thị Khoa học công nghệ
phát huy đúng vai trò là “bộ não khoa học công nghệ” của vùng sản xuất công nghệ
cao.
4.4. Lộ
trình triển khai và các giai đoạn thực hiện
Đề án được triển khai theo lộ
trình nhiều giai đoạn, bảo đảm phù hợp với mức độ sẵn sàng về hạ tầng, nguồn lực
và cơ chế chính sách.
Giai đoạn đầu tập trung kích hoạt
nhanh các hạng mục đã sẵn sàng khai thác thông qua chuyển đổi công năng các
công trình hiện hữu, đưa vào vận hành các thiết chế khoa học công nghệ trọng điểm
và hình thành bộ máy điều phối, quản trị. Đây là giai đoạn tạo nền tảng và chứng
minh hiệu quả bước đầu của mô hình.
Giai đoạn tiếp theo tập trung mở
rộng quy mô, hoàn thiện các cấu phần còn thiếu, thu hút mạnh mẽ các dự án
R&D và doanh nghiệp công nghệ cao, đồng thời tăng cường liên kết với các
vành đai sản xuất công nghệ cao trong vùng.
Về dài hạn, Đô thị Khoa học
công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh được định hướng phát triển thành một cực
khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo có tầm vóc khu vực, đóng góp quan trọng
vào năng lực cạnh tranh quốc gia và quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa
trên tri thức, công nghệ và phát triển bền vững.
PHẦN V. LỘ
TRÌNH THỰC HIỆN VÀ PHÂN CÔNG TỔ CHỨC
5.1. Lộ
trình thực hiện (dự kiến)
Đề án được chia thành ba giai
đoạn chính, gắn với các mốc thời gian và nhiệm vụ trọng tâm cụ thể:
Giai đoạn 1: Kiến tạo nền tảng
và khởi động (năm 2026)
Trong giai đoạn này, trọng tâm
là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý - tổ chức và kích hoạt các dự án động lực ban đầu.
- Quý I/2026: Trình và phê duyệt
Đề án; thành lập Tổ/Ban Chỉ đạo triển Đô thị Khoa học công nghệ; Thành lập và
công bố một vài công trình, dự án trọng điểm.
- Quý II, III/2026: Nghiên cứu,
trình các cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng cho các dự án, lĩnh vực cụ thể; tổ
chức hội nghị xúc tiến đầu tư quốc tế và kêu gọi các đối tác chiến lược.
Khởi công các dự án động lực,
bao gồm Khu công nghệ số tập trung Bình Dương và Khu công nghệ số tập trung
Thành phố Hồ Chí Minh và hạ tầng khung Vùng lõi.
Hoàn tất việc chuyển đổi công
năng Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương (cũ).
Thu hút và ký kết hợp tác với
các đối tác đầu tiên (viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp,
doanh nghiệp công nghệ).
Giai đoạn 2: Tăng tốc đầu tư và
hình thành hệ sinh thái (2027 - 2030)
Giai đoạn này tập trung vào mở
rộng quy mô đầu tư, hoàn thiện các cấu phần hạ tầng và đưa hệ sinh thái khoa học
công nghệ - đổi mới sáng tạo vào vận hành đồng bộ.
Hoàn thành xây dựng cơ bản của
Khu công nghệ số tập trung Thành phố và Công viên Khoa học.
Đưa vào vận hành các trung tâm
nghiên cứu và phát triển hợp tác quốc tế, bao gồm Trung tâm Nghiên cứu Vi điện tử
và Hệ thống thông minh (Fraunhofer ENAS) và Trung tâm Sản xuất Tiên tiến (AMC).
Thu hút từ 5-10 tập đoàn công
nghệ vừa và lớn đầu tư nhà máy, trung tâm R&D hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo
tại khu vực.
Từng bước hoàn thiện các kết nối
hạ tầng giao thông trọng điểm, bao gồm Vành đai 3 và một phần các tuyến Metro kết
nối khu vực.
Giai đoạn 3: Hoàn thiện và lan
tỏa (2031 - 2035)
Giai đoạn này hướng tới hoàn
thiện toàn diện mô hình Đô thị Khoa học công nghệ và phát huy tác động lan tỏa ở
cấp vùng.
Lấp đầy các phân khu chức năng,
đưa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vào trạng thái vận hành tự chủ, ổn định và hiệu
quả.
Đô thị Khoa học công nghệ phía
Bắc trở thành mô hình mẫu về đô thị khoa học công nghệ, đô thị thông minh và
khu công nghiệp sinh thái thế hệ mới.
Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
của khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, tạo động lực lan tỏa cho toàn vùng
Đông Nam Bộ.
5.2. Tổ
chức thực hiện
Sở Khoa học và Công nghệ: Chủ
trì xây dựng các tiêu chí, hướng dẫn chuyên môn về hoạt động khoa học công nghệ,
đổi mới sáng tạo; quản lý và điều phối các chương trình, quỹ hỗ trợ khoa học
công nghệ trong khu vực.
Viện Nghiên cứu Phát triển
Thành phố Hồ Chí Minh (HIDS): Là cơ quan tham mưu chiến lược, phối hợp chặt chẽ
với Sở Khoa học và Công nghệ và các sở, ngành liên quan trong việc nghiên cứu,
đề xuất mô hình phát triển Đô thị Khoa học công nghệ; xây dựng, hoàn thiện các
cơ chế, chính sách đặc thù; tham gia đánh giá, giám sát tác động kinh tế - xã hội
của Đề án trong quá trình triển khai.
Sở Tài chính: Chịu trách nhiệm
theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình triển khai Đề án; tham mưu các cơ chế tài
chính, quản lý tài sản công (bao gồm việc chuyển đổi, khai thác Trung tâm Hành
chính tỉnh Bình Dương (cũ)), cơ chế lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và bố trí
nguồn lực thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
Sở Quy hoạch - Kiến trúc: Chủ
trì tham mưu quy hoạch theo quy định, bảo đảm tính đồng bộ, chất lượng không
gian đô thị và sự phù hợp với định hướng phát triển Đô thị Khoa học công nghệ.
Trung tâm Cách mạng Công nghiệp
lần thứ 4 tại Thành phố Hồ Chí Minh: Đóng vai trò là đầu mối cùng Trung tâm Xúc
tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (ITPC), WTC, … thúc đẩy hợp tác
quốc tế, kết nối và huy động nguồn lực trong và ngoài nước để triển khai các kế
hoạch của Đề án. Chủ trì đề xuất và phối hợp triển khai các cơ chế thử nghiệm
có kiểm soát (Sandbox), mô hình hợp tác công - tư (PPP) và các chính sách đổi mới
sáng tạo đặc thù. Phối hợp trong việc khai thác hiệu quả Trung tâm Hành chính tỉnh
Bình Dương cũ, thực hiện chuyển đổi công năng thành Tòa nhà Khoa học Công nghệ
- biểu tượng và trung tâm điều hành của toàn bộ Đô thị Khoa học công nghệ phía
Bắc. Hỗ trợ kết nối hệ sinh thái khoa học công nghệ nội bộ Đề án với mạng lưới
các trung tâm C4IR toàn cầu.
Các nhà đầu tư chiến lược, chịu
trách nhiệm chính trong việc huy động nguồn lực xã hội, đầu tư xây dựng hạ tầng,
thu hút đối tác quốc tế và tổ chức vận hành hệ sinh thái khoa học công nghệ - đổi
mới sáng tạo theo đúng các cam kết đã được phê duyệt.
Các sở, ban, ngành liên quan:
Phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt trong các lĩnh
vực cải cách thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, phát triển nguồn nhân lực
và bảo đảm điều kiện triển khai các dự án trọng điểm của Đề án theo các quy định
hiện hành.
PHẦN VI.
HIỆU QUẢ DỰ KIẾN CỦA ĐỀ ÁN
Trên cơ sở các mục tiêu, quan
điểm phát triển và các thành tố đã được xác định, Đề án phát triển “Đô thị Khoa
học công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” được kỳ vọng mang lại các hiệu quả tổng
hợp, đa chiều, tạo ra tác động rõ nét trong ngắn hạn và bền vững trong trung -
dài hạn.
6.1. Hiệu
quả kinh tế - xã hội
Đề án góp phần hình thành một động
lực tăng trưởng mới của Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên kinh tế tri thức, khoa học
công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
gia tăng dịch vụ, đóng góp tỷ trọng của các ngành có giá trị gia tăng cao, hàm
lượng công nghệ và tri thức lớn. Việc thu hút các dự án R&D, trung tâm đổi
mới sáng tạo và các tập đoàn công nghệ lớn được kỳ vọng tạo ra dòng vốn FDI chất
lượng cao, đóng góp tích cực vào GRDP và ngân sách Thành phố trong trung và dài
hạn.
Bên cạnh tác động kinh tế, Đề
án còn mang ý nghĩa xã hội sâu rộng khi hướng tới xây dựng một đô thị khoa học
công nghệ đáng sống, lấy con người và nhân tài làm trung tâm. Không gian đô thị
được quy hoạch theo chuẩn quốc tế, tích hợp hài hòa giữa làm việc, học tập và
sinh sống, với hệ thống không gian xanh quy mô lớn, hơn 2 triệu cây xanh và các
công trình đạt tiêu chuẩn xanh như LEED, EDGE, góp phần cải thiện vi khí hậu và
chất lượng môi trường đô thị. Hạ tầng kỹ thuật thiết yếu (điện, nước, xử lý nước
thải) được đầu tư vượt chuẩn, áp dụng mô hình quản lý tuần hoàn tài nguyên, bảo
đảm môi trường sống sạch, an toàn và bền vững cho người dân khu vực.
Đô thị Khoa học công nghệ sẽ tạo
ra một không gian phát triển mới cho lực lượng lao động tri thức, kỹ sư, nhà
khoa học và chuyên gia công nghệ, góp phần hình thành cộng đồng đổi mới sáng tạo
quy mô lớn. Người lao động được tiếp cận các cơ hội việc làm chất lượng cao,
cùng các chương trình đào tạo nâng cao nhận thức về ESG, Net Zero và các bộ
công cụ chuẩn hóa năng lực theo tiêu chuẩn Công nghiệp 4.0, qua đó nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực địa phương. Đồng thời, việc phát triển một đô thị khoa học
công nghệ đáng sống ở khu vực phía Bắc giúp giãn áp lực dân số cho khu vực
trung tâm, cải thiện chất lượng sống và cân bằng không gian phát triển của
Thành phố Hồ Chí Minh.
Về dài hạn, hệ thống giáo dục
và văn hóa khoa học tại khu vực được nâng cấp thông qua việc hình thành Trung
tâm Khám phá Khoa học, các chương trình giáo dục STEM/STEAM và các thiết chế
công cộng như công viên sinh thái khoa học, bảo tàng công nghệ. Đây không chỉ
là không gian học tập và nghiên cứu mà còn là nơi giao lưu học thuật, kết nối cộng
đồng, nuôi dưỡng tinh thần khoa học và đổi mới sáng tạo cho các thế hệ tương
lai.
6.2. Hiệu
quả môi trường và phát triển bền vững
Đề án là một trong những mô
hình tiên phong hiện thực hóa định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái
và đô thị xanh - thông minh tại Việt Nam. Việc tích hợp mô hình Khu công nghiệp
sinh thái (EIP), sử dụng năng lượng tái tạo, quản lý tài nguyên tuần hoàn và áp
dụng các tiêu chuẩn ESG góp phần giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả
sử dụng tài nguyên và đóng góp thiết thực vào cam kết trung hòa carbon của Việt
Nam tại COP26.
Về cấu trúc không gian đô thị,
Đề án hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh triển khai mô hình siêu đô thị đa cực với sự
phân vai chức năng rõ ràng giữa các khu vực. Trong đó, khu vực trung tâm tiếp tục
tập trung vào tài chính và dịch vụ cao cấp, trong khi khu vực phía Bắc được định
vị là “bộ não khoa học công nghệ” và trung tâm sản xuất công nghệ cao. Việc
hình thành cực tăng trưởng mới tại phía Bắc không chỉ tạo dư địa phát triển dài
hạn mà còn góp phần giãn dân, giảm áp lực lên hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
của khu vực nội đô hiện hữu.
Đồng thời, thông qua mạng lưới
liên kết chặt chẽ với các trung tâm tri thức và đổi mới sáng tạo lớn như Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP)
và Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo (SIHUB), Đề án tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ về
tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo ra toàn Thành phố và khu vực lân cận.
Đề án là không gian thí điểm lý
tưởng cho việc triển khai các cơ chế, chính sách vượt trội theo mô hình
sandbox, cho phép thử nghiệm các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, công nghiệp
bán dẫn, thiết bị bay không người lái (UAV/drone) trước khi nhân rộng ra phạm
vi toàn Thành phố và cả nước. Sự hiện diện của các nhà đầu tư chiến lược toàn cầu,
cùng với mối liên kết với Trung tâm Tài chính Quốc tế, tạo điều kiện thu hút
các dòng vốn FDI chất lượng cao và nguồn vốn tín dụng xanh. Bên cạnh đó, mô
hình khu công nghiệp sinh thái và đô thị xanh tại khu vực này đóng vai trò tiên
phong, tạo hình mẫu để Thành phố Hồ Chí Minh từng bước hiện thực hóa mục tiêu
phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.
Bên cạnh đó, việc phát triển
không gian xanh, hạ tầng sinh thái và môi trường sống chất lượng cao giúp nâng
cao hình ảnh, vị thế và sức hấp dẫn của Thành phố Hồ Chí Minh trong khu vực và
trên trường quốc tế, đặc biệt đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp và nhân tài
công nghệ toàn cầu.
III. KẾT
LUẬN
Việc phát triển Đô thị Khoa học
công nghệ - Bắc Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là bước đi mang tính chiến lược
trong bối cảnh Thành phố cần tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo chiều sâu,
mà còn là giải pháp đột phá để kiến tạo một cực tăng trưởng mới dựa trên kinh tế
tri thức.
Đề án giải quyết căn bản các điểm
nghẽn về không gian và hạ tầng hiện hữu, định vị khu vực phía Bắc và Tây Bắc trở
thành “bộ não khoa học công nghệ” gắn liền với vùng sản xuất công nghệ cao quy
mô lớn. Đây sẽ là nền tảng then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn,
đưa Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu và tạo sức lan tỏa
mạnh mẽ cho Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam./.