|
BAN CHỈ ĐẠO TRUNG
ƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
TỔ GIÚP VIỆC
*
|
ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 45-TB/TGV
|
Hà Nội, ngày 30
tháng 9 năm 2025
|
THÔNG BÁO KẾT LUẬN
CUỘC
HỌP CỦA LÃNH ĐẠO BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI
MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ VỚI THƯỜNG TRỰC TỔ GIÚP VIỆC VÀ CÁC CƠ QUAN CÓ
LIÊN QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY MÔ HÌNH
HỢP TÁC 3 NHÀ, HỆ THỐNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA, KHU CÔNG NGHỆ CAO, ĐÔ THỊ
THÔNG MINH VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Ngày 26/9/2025, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, ủy viên Bộ
Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Phó
Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) đã chủ trì cuộc họp với Thường trực Tổ
Giúp việc và các cơ quan, đơn vị liên quan về đánh giá hiện trạng và một số nhiệm
vụ, giải pháp thúc đẩy mô hình hợp tác 3 Nhà, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc
gia, khu công nghệ cao, đô thị thông minh và trí tuệ nhân tạo.
Tham dự cuộc họp có các đồng chí đại diện lãnh đạo
các bộ, cơ quan: Ngoại giao, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Tư
pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tài chính, Nội vụ, Công an, Nông nghiệp và
Môi trường, Xây dựng, Công thương, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng;
đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Thành phố Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, Hưng Yên; đại diện lãnh đạo một số
trường, viện: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà
Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học
Đà Nẵng; một số tập đoàn, doanh nghiệp: Viettel, VNPT, CMC, FPT, MK Group, Tổng
công ty MobiFone, Tập đoàn Trí Nam và một số đơn vị liên quan.
Trên cơ sở báo cáo của Thường trực Tổ Giúp việc, ý
kiến phát biểu của đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức có liên quan, lãnh đạo
Ban Chỉ đạo đánh giá cao nỗ lực của các cơ quan, đơn vị trong việc triển khai
các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn còn một số tồn tại, hạn
chế, tiến độ còn chậm so với yêu cầu; sự phối hợp giữa các đơn vị trong cùng một
bộ, ngành cũng như giữa các bộ, ngành, địa phương còn chưa chặt chẽ, hiệu quả.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế, đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả các nhiệm vụ,
Lãnh đạo Ban Chỉ đạo yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương với quyết tâm
chính trị cao nhất, tập trung nguồn lực, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ trọng
tâm sau:
1. Về thúc đẩy mô hình hợp tác
3 Nhà và Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
a) Về mục tiêu
Lựa chọn 4 đại học để đầu tư trọng điểm làm hình mẫu
cho hệ thống giáo dục đại học, gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách Khoa Hà Nội
* Một số mục tiêu trọng tâm đến năm 2030 đối với
4 đại học được lựa chọn đầu tư trọng điểm:
- Phấn đấu lọt vào Top 150 trường đại học hàng đầu
Châu Á và có ít nhất 1 lĩnh vực xếp hạng 100 của thế giới theo bảng xếp hạng đại
học quốc tế uy tín.
- Phấn đấu mỗi đại học mỗi năm tạo ra 50 doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
- Giai đoạn 2026 - 2030, mỗi đại học thu hút tối
thiểu 50 triệu USD kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ và đổi mới sáng tạo; có tối thiểu 10 doanh nghiệp khởi nghiệp thành
công và được định giá tối thiểu 200 triệu USD.
- Bảo đảm tối thiểu 60% các chương trình đào tạo
thuộc khối ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ được giảng dạy bằng tiếng Anh
và/hoặc tăng cường một số ngôn ngữ phổ biến ở các địa bàn trọng điểm khác, ưu
tiên liên kết đào tạo cấp bằng đối với các đại học thuộc Top 200 thế giới.
- Nâng tỷ lệ các môn học có thực hành hoặc học
thông qua trải nghiệm dự án, nghiên cứu chiếm 50% chương trình đào tạo; bắt buộc
có đợt thực tập tại doanh nghiệp tối thiểu 01 kỳ học cho sinh viên đại học.
- Tỷ lệ học viên sau đại học (kỹ sư chuyên sâu, thạc
sĩ, tiến sĩ) chiếm tối thiểu 30% tổng số người học (trong đó riêng nghiên cứu
sinh tiến sĩ đóng góp 40% học viên sau đại học).
- Phấn đấu tối thiểu 30% trưởng (hoặc đồng trưởng[1]) các phòng thí nghiệm, trung tâm
nghiên cứu, viện nghiên cứu là chuyên gia, nhà khoa học uy tín quốc tế đang đảm
nhiệm các vị trí tương đương tại các đại học, viện nghiên cứu, hoặc trung tâm
nghiên cứu và phát triển của các tập đoàn nước ngoài.
- Tỉ trọng ngân sách tài trợ nghiên cứu, chuyển
giao công nghệ (bao gồm cả nguồn từ hoạt động đổi mới sáng tạo) trong cơ cấu
nguồn thu của các đại học đạt tối thiểu 35%.
* Các mục tiêu cần triển khai ngay từ năm học
2026 - 2027 với 4 đại học được lựa chọn đầu tư trọng điểm:
- 100% nghiên cứu sinh được miễn học phí và được cấp
học bổng thông qua cơ chế trả lương trợ giảng, trợ lý nghiên cứu. Trong chương
trình đào tạo, nghiên cứu sinh tiến sĩ phải dành tối thiểu 10 tháng trao đổi
nghiên cứu tại các viện nghiên cứu, đại học hàng đầu Thế giới.
- Bảo đảm 100% cơ sở vật chất phục vụ thực hành,
thí nghiệm trong hoạt động đào tạo. Nâng cấp thư viện, bảo đảm cung cấp tài
nguyên, học liệu cho 100% người học.
- Bảo đảm 100% cơ sở hạ tầng (đặc biệt hạ tầng kết
nối, hạ tầng tính toán), cơ sở vật chất, hệ thống, thiết bị, phần mềm cần thiết
để phục vụ các phòng thí nghiệm nghiên cứu trong các lĩnh vực liên quan đến
công nghệ chiến lược.
- Xây dựng cơ chế để giảng viên có thể được làm việc
1 năm tại phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển của các tập
đoàn, doanh nghiệp hàng đầu, cũng như tại các viện nghiên cứu và đại học uy tín
trên thế giới sau mỗi 5 đến 7 năm công tác.
* Một số mục tiêu trọng tâm đến năm 2030 về hệ
sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp:
- Hình thành tối thiểu 3 trung tâm đổi mới sáng tạo
và khởi nghiệp tầm cỡ quốc tế tại TP. Hà Nội, TP. Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.
- Vốn đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp công nghệ đạt
tối thiểu 1,5 tỉ USD/năm.
- Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt
nam lọt vào Top 3 khu vực ASEAN và tạo ra ít nhất 05 kỳ lân công nghệ.
b) Một số nhiệm vụ, giải pháp
(1) Các đại học, viện nghiên cứu
- Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách Khoa Hà Nội chủ trì xây dựng Kế
hoạch hành động triển khai để đạt Top 150 Châu Á trong năm 2030, có ít nhất 1
lĩnh vực xếp hạng 100 của Thế giới theo bảng xếp hạng đại học quốc tế uy tín,
rõ lộ trình từng năm. Hoàn thành trong tháng 11/2025.
- Các trường đại học, viện nghiên cứu chủ động, khẩn
trương đề xuất các dự án đầu tư hạ tầng khoa học và công nghệ kết hợp với các
chương trình nghiên cứu và đào tạo nghiên cứu sinh; tập trung vào các ngành
công nghệ chiến lược đã xác định và phù hợp với thế mạnh.
(2) Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ
Tài chính triển khai thẩm định và thu xếp ngân sách triển khai các đề án và kế
hoạch hành động của các đại học, viện nghiên cứu. Hoàn thành trong tháng
12/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ rà
soát, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế đặc thù cho phép
chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu tại các trường
đại học và giảng viên, nhà khoa học được làm việc tại doanh nghiệp trong một thời
gian nhất định để tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Hoàn thành trong tháng
11/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan
liên quan xây dựng, trình Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án hỗ trợ đào tạo sau
đại học theo hướng coi nghiên cứu sinh là lực lượng nghiên cứu chính trong các
đại học, miễn học phí và cấp học bổng cho các nghiên cứu sinh đào tạo toàn thời
gian. Hoàn thành trong tháng 11/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và
04 đại học xây dựng, trình ban hành quy định về thành lập doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo trong trường đại học. Hoàn thành trong tháng 11/2025.
- Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục đại
học triển khai hiệu quả Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công
nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035 và định hướng tới năm 2045 đã được Thủ tướng
Chính phủ ban hành tại Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025[2].
(3) Bộ Khoa học và Công nghệ
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng quy định
về cơ chế hợp tác công - tư trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D),
làm rõ cơ chế đồng tài trợ bắt buộc từ doanh nghiệp đối với các dự án sử dụng
ngân sách nhà nước, cơ chế chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích một
cách linh hoạt, hài hoà theo tỷ lệ góp vốn; đồng thời triển khai các hình thức
đầu tư theo mô hình Quỹ của các quỹ (Fund of Funds).
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan
thành lập Liên minh Công nghệ Chiến lược có sự tham gia của các viện, trường,
doanh nghiệp nòng cốt để tập trung nguồn lực quốc gia giải quyết các bài toán lớn.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan
liên quan nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc tham gia đóng góp từ Quỹ phát triển
khoa học, công nghệ của nhà nước và Quỹ phát triển khoa học, công nghệ của
doanh nghiệp cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan
nghiên cứu, bổ sung các quy định về xác định giá trị công nghệ trong quá trình
sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ và các văn bản
hướng dẫn liên quan. Hoàn thành trong tháng 12/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan
liên quan triển khai các nhiệm vụ về cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo đã được phân công tại Thông báo số 42-TB/TGV, ngày
22/8/2025.
(4) Bộ Tài chính chủ trì ban hành các văn bản
hướng dẫn về hoạt động thẩm định giá tài sản, trong đó có thẩm định giá công
nghệ, trên cơ sở các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và khoa học, công
nghệ, nhằm thúc đẩy quá trình thương mại hoá sản phẩm. Hoàn thành trong
tháng 12/2025.
(5) Bộ Công an chủ trì triển khai mô hình 3
Nhà trong việc tổ chức cuộc thi "Data for life" quy mô quốc gia. Nhiệm
vụ thường xuyên.
(6) Các doanh nghiệp nhà nước xác định các
trường, viện có năng lực nghiên cứu phù hợp để xây dựng các dự án nghiên cứu,
phát triển chung, sử dụng hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của
doanh nghiệp.
(7) Các thành phố: TP. Hà Nội, TP. Đà Nẵng,
TP. Hồ Chí Minh chủ trì xây dựng Đề án Phát triển Trung tâm đổi mới sáng tạo và
khởi nghiệp tầm cỡ quốc tế, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Hoàn
thành trong tháng 12/2025.
2. Về phát triển các Khu công
nghệ cao và Đô thị thông minh
a) Về mục tiêu chung đến năm 2030
- Đối với Khu công nghệ cao (KCNC): Phấn đấu cả nước
có ít nhất 5 KCNC hoạt động hiệu quả, mỗi khu tập trung vào 1 - 2 nhóm công nghệ
chiến lược; Hình thành 1 cụm đổi mới sáng tạo điện tử - bán dẫn quy mô vùng, với
mục tiêu đào tạo ít nhất 9.000 nhân lực ngành bán dẫn từ trình độ đại học trở
lên. Thành phố Hà Nội đưa vào hoạt động 3 khu công nghệ cao: Khu Công viên công
nghệ phần mềm Hà Nội; Khu Công viên Công nghệ thông tin Hà Nội; Khu Công nghệ
cao sinh học Hà Nội.
- Về Đô thị thông minh: Phấn đấu ít nhất 03 thành
phố lớn của Việt Nam nằm trong Top 50 bảng xếp hạng đô thị thông minh uy tín
toàn cầu (ví dụ: IMD Smart City Index), phát triển theo định hướng lấy con người
làm trung tâm.
b) Nhiệm vụ của các bộ, Cơ quan Trung ương
(1) Bộ Khoa học và Công nghệ
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương
xây dựng, sửa đổi Luật Công nghệ cao nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi,
định hướng xây dựng các khu công nghệ cao thành đô thị công nghệ cao có tích hợp
đầy đủ tiện ích để thu hút nhân tài. Trình Chính phủ, trình Quốc hội tại kỳ
họp thứ 10.
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương
xem xét, đánh giá, báo cáo Chính phủ về đề xuất của tỉnh Hưng Yên về việc thành
lập Khu Công nghệ cao tỉnh Hưng Yên - HINNOPOLIS. Hoàn thành trong tháng
11/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng xây dựng, ban
hành và hướng dẫn triển khai Khung kiến trúc công nghệ thông tin và truyền
thông (ICT) phát triển đô thị thông minh quốc gia và ban hành hướng dẫn kỹ thuật
về việc xây dựng và ứng dụng bản sao số trong quản lý phát triển đô thị. Hoàn
thành trong tháng 12/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng hướng dẫn áp dụng
các quy chuẩn, tiêu chuẩn phục vụ phát triển đô thị thông minh; ban hành theo
thẩm quyền các nội dung theo quy định tại Nghị định về đô thị thông minh. Hoàn
thành trong tháng 11/2025.
(2) Bộ Xây dựng
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ
chức phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương triển khai Nghị định về phát
triển đô thị thông minh; xây dựng chương trình khung đào tạo nguồn nhân lực
phát triển đô thị thông minh. Hoàn thành trước 15/11/2025.
- Rà soát bộ tiêu chí đánh giá đô thị thông minh để
hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá theo các cấp độ trưởng thành của đô thị thông
minh, khung đánh giá khu đô thị thông minh phù hợp với tình hình mới. Hoàn
thành trong tháng 12/2025.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham
mưu giải quyết các khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình thực hiện
phát triển đô thị thông minh; nghiên cứu, xây dựng các văn bản, thông tư hướng
dẫn triển khai Nghị định. Nhiệm vụ thường xuyên.
(3) Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các
bộ, ngành, địa phương chủ động thúc đẩy, kết nối hợp tác quốc tế trong phát triển
đô thị thông minh, nhất là với các đối tác có kinh nghiệm và đã có các mô hình
hợp tác thành công với Việt Nam hoặc với các quốc gia khác. Nhiệm vụ thường
xuyên.
(4) Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo: chỉ đạo
các địa phương tích hợp đồng bộ nội dung về y tế thông minh, giáo dục thông
minh trong đề án tổng thể của địa phương về đô thị thông minh và tổ chức triển
khai. Thực hiện theo lộ trình.
(5) Tổ công tác liên ngành điều phối xây dựng,
triển khai đồng bộ đô thị thông minh: (i) chỉ đạo Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học
và Công nghệ và các bộ, ngành liên quan phổ biến và tổ chức triển khai thực hiện
Nghị định về phát triển đô thị thông minh, thường xuyên chỉ đạo, hướng dẫn các
địa phương, (ii) Chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng đề án bảo đảm nguồn nhân lực phát
triển đô thị thông minh phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. (iii)
Thúc đẩy các hoạt động hợp tác với các tổ chức có uy tín quốc tế để đánh giá
công nhận đô thị thông minh Việt Nam và trao đổi chia sẻ kinh nghiệm, xây dựng
định hướng đô thị thông minh. Nhiệm vụ thường xuyên.
c) Nhiệm vụ trọng tâm của các địa phương
(1) Thành phố Hà Nội (với hạt nhân là Khu CNC
Hoà Lạc)
* Tập trung triển khai các nhiệm vụ trong năm
2025
- Phối hợp cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo kết nối Đại
học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam mở các phòng thí nghiệm vệ tinh tại Khu Công nghệ cao Hoà Lạc.
Thí điểm ít nhất 10 đề tài nghiên cứu được doanh nghiệp đặt hàng để thương mại
hoá.
- Phối hợp với Bộ Xây dựng hoàn thiện kết nối hạ tầng
giao thông thông minh giữa Hoà Lạc và nội đô, khởi công tuyến đường sắt đô thị
Văn Cao - Hoà Lạc trong năm 2025. Hình thành phòng thí nghiệm (CityLab) Hà Nội
để tiếp nhận và đặt ra các bài toán đô thị thông minh.
- Sớm đưa Trung tâm đổi mới sáng tạo của Hà Nội vào
hoạt động.
* Phấn đấu đến năm 2030: Thu hút được ít nhất
50 doanh nghiệp công nghệ cao tại Hoà Lạc, quy tụ ít nhất 2 trung tâm R&D của
các tập đoàn đa quốc gia và ký kết ít nhất 100 hợp đồng R&D giữa doanh nghiệp
và các trường, viện mỗi năm; Hình thành một cụm công nghệ bán dẫn và trí tuệ
nhân tạo quy mô vùng, đưa Hà Nội trở thành trung tâm hàng đầu về các ngành này
theo quy hoạch Thủ đô; Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội tăng
cường hợp tác với Khu Công nghệ cao Hoà Lạc trong nghiên cứu khoa học và chuyển
giao công nghệ để sử dụng chung cơ sở hạ tầng.
(2) Thành phố Đà Nẵng (hạt nhân là Khu Công nghệ
cao Đà Nẵng và đổi mới công nghệ biển/du lịch):
* Tập trung triển khai các nhiệm vụ trong năm
2025
- Thu hút được ít nhất 15 dự án đầu tư vào các lĩnh
vực CNTT, cơ điện tử/robot và công nghệ môi trường.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu xây
dựng gói ưu đãi đầu tư thử nghiệm, bao gồm các chính sách miễn/giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp cho các dự án R&D sản xuất thử.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để mở
Trung tâm R&D ứng dụng nhằm phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp trong Khu
Công nghệ cao. Đồng thời, triển khai chương trình co-op (học - làm) kéo dài 6
tháng để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng triển khai một
không gian khởi nghiệp (Central Startup Hub), đồng thời đưa các bài toán đô thị
thông minh vào làm "đặt hàng" cho mô hình hợp tác 3 Nhà giải quyết.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường
thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các lĩnh vực kinh tế biển
và môi trường, bao gồm quan trắc biển và năng lượng tái tạo ven bờ, tận dụng
vai trò là một "Phòng thí nghiệm sống" của quốc gia.
* Phấn đấu đến năm 2030: Lấp đầy giai đoạn 1
của Khu Công nghệ cao (khoảng 50 dự án); Hình thành cụm công nghệ chuyên sâu về
kinh tế biển và du lịch thông minh; Ươm tạo thành công ít nhất 200 khởi nghiệp
sáng tạo, khẳng định vị thế là trung tâm Đổi mới sáng tạo của khu vực miền
Trung.
(3) Thành phố Hồ Chí Minh (với hạt nhân là Khu
Công nghệ cao Thành phố và các phường sau khi sắp xếp của Thành phố Thủ Đức cũ)
* Tập trung triển khai các nhiệm vụ trong năm
2025
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan
liên quan thí điểm mô hình Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp (hỗ trợ tại chỗ cho các
doanh nghiệp công nghệ) để thu hút các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo quốc tế
và triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho hoạt động R&D của các doanh nghiệp
trong khu vực.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ
đạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và các trường đại học lớn mở các vườn ươm
công nghệ và quỹ đầu tư spin-off (spin-off fund). Các trường cũng cần triển
khai chương trình thực tập R&D có thời gian 6-12 tháng tại các doanh nghiệp
trong Khu Công nghệ cao.
- UBND TP. Hồ Chí Minh và Bộ Xây dựng tiếp tục quy
hoạch không gian đổi mới sáng tạo tại Thủ Đức, bao gồm các không gian làm việc
chung (coworking), trung tâm sự kiện công nghệ. Đồng thời, triển khai các cuộc
thi về công nghệ (City Challenge) để thu hút các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng
tạo giải quyết các bài toán đô thị cụ thể.
* Phấn đấu đến năm 2030: Có ít nhất 02 khu
đô thị là đô thị sáng tạo, tương tác cao, dẫn dắt kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
3. Giải pháp tài chính cho
KHCN, ĐMST, CĐS
a) Về mục tiêu, định hướng
Thống nhất chủ trương xây dựng một hệ sinh thái tài
chính linh hoạt, kết hợp hài hoà giữa nguồn vốn nhà nước và tư nhân, tạo môi
trường pháp lý thuận lợi cho các quỹ đầu tư và hoạt động niêm yết lần đầu trên
sàn chứng khoán (IPO) của doanh nghiệp công nghệ.
b) Về nhiệm vụ, giải pháp
(1) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp
với Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện, ban hành các văn bản hướng dẫn về cơ
chế tài chính, giải ngân được kinh phí cho các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số.
(2) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ
Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, các chuyên gia và đại diện các quỹ đầu tư nghiên cứu, xây dựng, trình
cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, giải pháp thúc đẩy hệ sinh
thái tài chính quy mô lớn, linh hoạt cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
(3) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối
hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan chỉ đạo tổ chức tín dụng tăng cường
ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo khi tiếp cận vốn vay; nghiên cứu, đề xuất cơ chế
bảo lãnh, đồng bảo lãnh (ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, các doanh
nghiệp lớn có vai trò dẫn dắt, các quỹ tài chính ngoài ngân sách, các quỹ tài
chính đầu tư rủi ro, ...) dành cho các ngân hàng thương mại để chia sẻ rủi ro
khi các ngân hàng này thực hiện cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
tích cực triển khai các chương trình tín dụng, trong đó có lĩnh vực công nghệ
theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Nhiệm vụ thường xuyên.
4. Về thúc đẩy phát triển Trí
tuệ nhân tạo (AI) trong chuyển đổi số quốc gia (AI - First)
a) Về mục tiêu, định hướng
- Mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc
nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về mức độ sẵn sàng AI.
- Định hướng: Thống nhất quan điểm phát triển và ứng
dụng AI là nhiệm vụ chiến lược, mang tính quyết định để Việt Nam không bị tụt hậu
trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. AI cần được đầu tư như một hạ tầng quốc gia thiết
yếu, bảo đảm sự phát triển đồng bộ từ thể chế, hạ tầng tính toán, dữ liệu, đến
nguồn nhân lực. Việc thúc đẩy AI là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị,
đòi hỏi sự vào cuộc chủ động, mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa của các cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp và toàn xã hội nhằm phục vụ phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc
gia và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
b) Về nhiệm vụ, giải pháp
(1) Bộ Khoa học và Công nghệ
- Chủ trì, đẩy nhanh tiến độ xây dựng Luật Chuyển đổi
số, Luật Trí tuệ nhân tạo và các văn bản hướng dẫn, tạo khung pháp lý để thúc đẩy
các sản phẩm, dịch vụ AI phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trình Quốc hội
xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV.
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan
nghiên cứu, rà soát, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản thay thế hoặc sửa
đổi, bổ sung Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ
nhân tạo đến năm 2030, trong đó có định hướng "AI - First". Hoàn
thành trong tháng 10/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Đề án
"Xây dựng Hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC) và các trung tâm dữ liệu
quốc gia phục vụ phát triển AI". Trong quá trình xây dựng Đề án, cần phối
hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo để quy hoạch, tính toán nguồn nhân lực
vận hành; phối hợp với Bộ Ngoại giao để xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia quốc
tế. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2025.
- Chủ trì, phối hợp với các viện nghiên cứu, trường
đại học, doanh nghiệp công nghệ xây dựng và công bố các bộ dữ liệu lớn, chất lượng
cao có tính bản địa, đặc thù của Việt Nam (bao gồm dữ liệu văn bản, giọng nói,
hình ảnh) theo nguyên tắc dữ liệu mở để tạo nền tảng cho việc phát triển các mô
hình ngôn ngữ lớn (LLMs) và các ứng dụng AI "Make in Vietnam". Công
bố phiên bản đầu tiên trong tháng 12/2025.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an
nghiên cứu, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về quản lý,
phát triển và ứng dụng AI, trong đó bao gồm các quy định về khung đạo đức AI,
trách nhiệm pháp lý khi AI gây thiệt hại, cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân trong
quá trình huấn luyện AI, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các ứng dụng AI có
rủi ro cao và các vấn đề liên quan. Thời hạn hoàn thành: 01 tháng sau khi Luật
Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực thi hành.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan
liên quan rà soát, nghiên cứu xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành
Khung kinh tế dữ liệu Quốc gia, thúc đẩy phát triển thị trường dữ liệu phục vụ
kinh tế số, xã hội số; xây dựng khung chính sách cụ thể về chia sẻ dữ liệu khu
vực công cho các hoạt động quản lý nhà nước, nghiên cứu, phát triển các ứng dụng
AI trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là y tế, giáo dục. Hoàn thành
trong tháng 12/2025.
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng
và vận hành Mạng lưới Chuyên gia AI Việt toàn cầu để tham gia cố vấn, hợp tác
nghiên cứu, giảng dạy từ xa một cách linh hoạt. Hoàn thành trong tháng
12/2025.
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên
cứu xây dựng ứng dụng trợ lý ảo, tích hợp vào các hệ thống quản lý văn bản để hỗ
trợ công chức soạn thảo, tra cứu, rà soát văn bản bảo đảm thống nhất, hiệu quả,
không chồng chéo. Hoàn thành trong tháng 3/2026.
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính nâng cao năng
lực và mở rộng phạm vi hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia để hình
thành Quỹ đầu tư cho AI. Hoàn thành trong tháng 12/2025.
- Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng, triển
khai các chương trình, đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về trí tuệ
nhân tạo.
- Phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên
quan xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để
thu hút các chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài
trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
- Phối hợp với Bộ Tài chính để chuẩn hoá các hệ thống
thống kê chỉ số và phân tích kinh tế số.
(2) Bộ Công an
- Xây dựng, đưa vào vận hành kịp thời, đúng tiến độ
các hạng mục của Trung tâm dữ liệu quốc gia; phát triển CSDL tổng hợp quốc gia
để bảo đảm hạ tầng số quốc gia, bộ, ngành địa phương theo lộ trình.
- Đôn đốc, thúc đẩy các bộ, ngành xây dựng đưa vào
vận hành các CSDL quốc gia, chuyên ngành đã giao theo lộ trình, gồm: 116 CSDL
theo Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ và 11 CSDL trọng yếu theo Kế hoạch số
02-KH/BCĐTW.
- Chủ trì áp dụng mô hình 3 Nhà để phát triển các nền
tảng và mô hình trí tuệ nhân tạo khai thác hiệu quả dữ liệu dân cư, định danh
và xác thực điện tử phục vụ phát triển kinh tế xã hội, xây dựng trợ lý ảo triển
khai trên VNeID hỗ trợ các cơ quan, tổ chức, người dân, và doanh nghiệp.
(3) Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đổi mới
phương pháp dạy và học; đưa kiến thức về trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo
dục phổ thông. Nhiệm vụ thường xuyên.
- Rà soát, nghiên cứu xây dựng Đề án "Phát triển
một số trường, trung tâm đào tạo, nghiên cứu tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ
nhân tạo đạt trình độ quốc tế và khu vực". Báo cáo, trình Thủ tướng
Chính phủ vào tháng 11/2025. Trong đó, mục tiêu của Đề án là đầu tư phát
triển các trung tâm đào tạo, nghiên cứu tiên tiến chuyên sâu gắn với nghiên cứu
khoa học và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực AI; có khả năng làm chủ công nghệ
lõi, thu hút người học tài năng, nhất là ở trình độ tiến sĩ, giảng viên xuất sắc
từ nước ngoài và triển khai các chương trình nghiên cứu trọng điểm, ứng dụng AI
giải quyết các bài toán lớn. Ưu tiên cơ chế và nguồn lực để đạt được mục tiêu của
Đề án trong tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực
AI. Lựa chọn từ 3-5 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm có tiềm lực và năng lực mạnh
nhất trong đào tạo nhân lực và nghiên cứu lĩnh vực AI tham gia.
(4) Các bộ, ngành, địa phương
Theo chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng kế hoạch
và triển khai thí điểm tích hợp công nghệ AI vào các ngành, lĩnh vực, cụ thể:
- Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính
phủ và các bộ, ngành, địa phương xây dựng ứng dụng trợ lý ảo thống nhất, tích hợp
trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, các hệ thống thông tin giải quyết TTHC của bộ,
ngành, địa phương và tại các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã
để hướng dẫn, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính.
- Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với bộ,
ngành, địa phương xây dựng ứng dụng trợ lý ảo, tích hợp trên Cơ sở dữ liệu quốc
gia về TTHC, phục vụ công tác kiểm soát TTHC tại bộ, ngành, địa phương.
- Bộ Y tế nghiên cứu triển khai thí điểm ứng dụng
AI để giải quyết các bài toán cụ thể trong ngành, lĩnh vực như: chẩn đoán qua
hình ảnh y tế, dự đoán dịch bệnh, phân tích hồ sơ bệnh án điện tử...
- Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu triển khai thí
điểm ứng dụng AI để giải quyết các bài toán cụ thể trong ngành, lĩnh vực như:
xây dựng nội dung cá nhân hoá người học; phòng học ứng dụng công nghệ thực tế ảo,
thực tế tăng cường; chấm điểm tự động, đánh giá năng lực; phân tích dữ liệu học
tập để cải thiện chất lượng đào tạo...
- Bộ Xây dựng nghiên cứu khai thí điểm ứng dụng AI
để giải quyết các bài toán cụ thể trong ngành, lĩnh vực như: giám sát, điều tiết
phân luồng phương tiện tự động, tối ưu hoá tuyến đường vận tải, quản lý kho
bãi, bốc dỡ hàng hóa...
- Bộ Nông nghiệp và môi trường nghiên cứu khai thí
điểm ứng dụng AI để giải quyết các bài toán cụ thể trong ngành, lĩnh vực như:
giám sát sâu bệnh, tối ưu hoá tưới tiêu, canh tác thông minh, dự báo năng suất,
tối ưu hoá chuỗi cung ứng nông sản, cảnh báo mức độ ô nhiễm...
Các bộ, ngành, địa phương Báo cáo Thủ tướng
Chính phủ, Thường trực Ban Chỉ đạo kết quả triển khai thí điểm trước ngày
20/12/2025.
(5) Các trường đại học và viện nghiên cứu:
Thúc đẩy tham gia đào tạo, nghiên cứu AI tạo sinh để xây dựng các mô hình ngôn
ngữ lớn và các ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực. Nhiệm vụ thường xuyên.
5. Về tổ chức thực hiện
a) Phân công nhiệm vụ chủ trì
- Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chủ trì, hướng
dẫn các bộ, ngành, địa phương, các trường, viện triển khai các nhiệm vụ liên quan
đến Mô hình hợp tác 3 Nhà.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, hướng dẫn các
thành phố triển khai các Khu công nghệ cao; rà soát, tổng hợp những khó khăn,
vướng mắc trong quá trình thực hiện và hướng dẫn cụ thể để kịp thời tháo gỡ.
- Bộ Xây dựng là cơ quan chủ trì, hướng dẫn các địa
phương triển khai các nhiệm vụ liên quan đến Đô thị thông minh.
Các bộ được giao chủ trì có trách nhiệm làm đầu mối,
trực tiếp làm việc, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương, trường, viện, doanh
nghiệp trong quá trình tổ chức thực hiện; kịp thời tổng hợp các khó khăn, vướng
mắc để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
b) Về trách nhiệm triển khai
- Các các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực TP. Hà thuộc Trung ương nêu cao tinh thần trách nhiệm, trực tiếp
chỉ đạo công tác và chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả triển khai các nhiệm
vụ được giao.
- Các bộ được giao chủ trì có trách nhiệm làm đầu mối,
chủ động phối hợp, hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai tại các bộ, ngành, địa
phương. Kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; trường hợp phát sinh những vấn
đề chưa có quy định, phải có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể để bảo đảm việc triển
khai được thống nhất, hiệu quả.
- Về phía địa phương, phải chủ động triển khai, chịu
trách nhiệm toàn diện về việc sử dụng hiệu quả nguồn lực và kết quả thực hiện;
trường hợp không giải ngân được nguồn kinh phí đã được phân bổ thuộc về trách
nhiệm của người đứng đầu địa phương.
c) Chế độ báo cáo, đôn đốc: Văn phòng Trung
ương Đảng - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan
liên quan thiết lập chức năng theo dõi tình hình, kết quả triển khai thực hiện
các nhiệm vụ về Mô hình 3 Nhà, hệ thống đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, đô
thị thông minh và trí tuệ nhân tạo trên Hệ thống giám sát, đánh giá việc thực
hiện Nghị quyết 57-NQ/TW.
Thường trực Tổ Giúp việc trân trọng thông báo ý kiến
chỉ đạo của lãnh đạo Ban Chỉ đạo tại cuộc họp với Thường trực Tổ Giúp việc và một
số cơ quan, tổ chức có liên quan để các cơ quan Trung ương, địa phương biết, thực
hiện.
|
Nơi nhận:
- Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng
Ban Chỉ đạo Trung ương (để báo cáo),
- Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng
Ban Chỉ đạo (để báo cáo),
- Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ
nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo (để báo cáo),
- Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương (để biết),
- Các Đảng ủy trực thuộc Trung ương (để biết),
- Các ban đảng ở Trung ương,
- Đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Các tập đoàn, doanh nghiệp: Viettel, VNPT,CMC, FPT, MK Group, MobiFone, Trí
Nam,
- Lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng,
- Lãnh đạo Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo,
- Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu,
- Lưu Ban Chỉ đạo Trung ương.
|
PHÓ CHÁNH VĂN
PHÒNG TRUNG ƯƠNG
kiêm
TỔ TRƯỞNG
Võ Thành Hưng
|
[1] Đơn
vị nghiên cứu có cơ chế đồng trưởng đơn vị, với một vị trí trưởng là một nhà
khoa học trong nước.
[2]
Trong đó, mục tiêu đến năm 2030, số người tốt nghiệp các chương trình đào tạo
chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo đạt 8.000 người/năm trong đó ít nhất 20% được cấp
bằng kỹ sư, thạc sĩ hoặc tiến sĩ; 100% chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư và
thạc sĩ thuộc khối ngành STEM được tích hợp kiến thức, kỹ năng phân tích dữ liệu
và trí tuệ nhân tạo. Đặc biệt, số người tốt nghiệp các chương trình đào tạo tài
năng thuộc các chương trình chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo hàng năm đạt khoảng
1.000 kỹ sư, thạc sĩ và 100 tiến sĩ.