NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC
VIỆT NAM
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số: 10/VBHN-NHNN
|
Hà Nội, ngày 21
tháng 05 năm 2014
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ THANH TOÁN BÙ TRỪ ĐIỆN TỬ LIÊN NGÂN HÀNG
Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày
14 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành
Quy chế thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2002, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Quyết định số 456/2003/QĐ-NHNN ngày
12 tháng 5 năm 2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi,
bổ sung khoản 1, Điều 1 "Quy chế thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân
hàng" ban hành kèm theo Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2003.
THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và Luật các Tổ chức tín dụng số 01/1997/QH10 ngày 12/12/1997;
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày
02/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước
của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 64/2001/NĐ-CP
ngày 20/9/2001 của Chính phủ về hoạt động
thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
Căn cứ Qưyết định số 196/TTg ngày
01/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc
sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng từ kế toán và
thanh toán của các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế
toán - Tài chính Ngân hàng Nhà nước[1],
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành theo Quyết định này "Quy chế
thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng".
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1/1/2002.
Điều 3.[2] Chánh Văn
phòng, Vụ trưởng Vụ Kế toán - Tài chính, Cục trưởng Cục Công nghệ Tin học ngân
hàng; Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Giám đốc Sở Giao
dịch Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố;
Tổng Giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng, tổ chức khác được làm dịch vụ thanh
toán chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./.
QUY CHẾ
THANH TOÁN BÙ TRỪ ĐIỆN TỬ LIÊN NGÂN HÀNG
(Ban hành kèm theo Quyết định 1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14 tháng 12 năm 2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)
Chương 1.
CÁC QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Phạm vi
điều chỉnh
1.[3] Quy chế này điều chỉnh hoạt động thanh toán bù trừ
qua mạng máy tính các khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam (VNĐ) giữa các ngân
hàng, Tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
cùng mở tài khoản tiền gửi tại một đơn vị Ngân hàng Nhà nước, do đơn vị Ngân
hàng Nhà nước đó tổ chức và chủ trì thanh toán bù trừ điện tử.
a. Mức tiền
thanh toán qua bù trừ điện tử liên ngân hàng:
- Đối với các lệnh thanh toán giữa
các ngân hàng trong phạm vi một địa bàn tỉnh, thành phố thì không giới hạn mức
tiền.
- Đối với các lệnh thanh toán bù trừ
điện tử để chuyển đi ngân hàng khác địa bàn tỉnh, thành phố thì mức tiền tối đa
là mức giá trị thấp do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định cho từng thời kỳ.
b. Tất cả
các khoản chuyển tiền Nợ trong thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng đều phải
có ủy quyền trước: Các ngân hàng thành viên phải ký hợp đồng chuyển nợ với nhau
và phải có thông báo bằng văn bản cho ngân hàng chủ trì trước khi thực hiện.
2. Chuyển
tiền điện tử; các khoản thanh toán giữa Việt Nam với nước ngoài và các hình thức
thanh toán quốc tế khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này.
Điều 2. Đối tượng
được phép tham gia thanh toán bù trừ điện tử
1. Các
Ngân hàng, tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có đủ các điều kiện tiêu chuẩn của
ngân hàng thành viên tham gia thanh toán điện tử liên ngân hàng theo quy định của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có đơn xin tham gia thanh toán bù trừ điện tử và
được Ngân hàng chủ trì chấp thuận bằng văn bản.
2. Các
Ngân hàng không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 điều này nếu muốn tham gia
thanh toán bù trừ điện tử thì phải chọn một ngân hàng thành viên trực tiếp làm
đại diện (Ngân hàng thành viên được ủy quyền) để mở tài khoản tiền gửi thanh
toán và thông qua ngân hàng này thực hiện các giao dịch thanh toán bù trừ điện
tử liên ngân hàng.
Ngân hàng thành viên được ủy quyền phải
có cam kết bằng văn bản với Ngân hàng chủ trì và các ngân hàng thành viên trực
tiếp khác về việc tiếp nhận các chứng từ thanh toán bù trừ của ngân hàng thành
viên gián tiếp do mình làm đại diện và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
đối với các khoản thanh toán này. Ngân hàng thành viên được ủy quyền phải chịu
trách nhiệm bồi thường vật chất nếu việc ủy quyền vì bất cứ lý do gì gây thiệt
hại đối với các bên liên quan. Quan hệ thanh toán giữa ngân hàng thành viên được
ủy quyền và ngân hàng ủy quyền do hai ngân hàng này xác định với nhau theo quy
định hiện hành về thanh toán giữa các ngân hàng.
Điều 3. Giải
thích các thuật ngữ sử dụng trong Quy chế này
- Thanh toán bù trừ điện tử
liên Ngân hàng (sau đây gọi tắt là thanh toán
bù trừ điện tử) là thực hiện việc chuyển khoản và thanh toán qua mạng máy
tính giữa các tài khoản được mở tại các ngân hàng khác hệ thống hoặc ở các chi
nhánh của cùng một ngân hàng trên phạm vi một địa bàn nhất định. Bằng kỹ thuật
xử lý bù trừ điện tử, các Ngân hàng chuyển cho nhau qua mạng máy tính các chứng
từ thanh toán, bù trừ cho nhau phần nợ qua lại và trả cho nhau số chênh lệch.
- Ngân hàng chủ trì thanh toán
bù trừ điện tử (sau đây gọi tắt là Ngân hàng chủ
trì): là đơn vị Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thanh toán bù trừ điện tử và xử lý kết quả thanh toán bù
trừ điện tử; ngân hàng chủ trì có thể tham gia thanh toán bù trừ điện tử như một
ngân hàng thành viên.
- Trung tâm xử lý kỹ thuật
thanh toán bù trừ điện tử: là bộ phận có nhiệm vụ
xử lý tự động các giao dịch thanh toán bù
trừ điện tử giữa các ngân hàng thành viên và xác định kết quả thanh toán bù trừ
điện tử cho các ngân hàng thành viên. Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ
điện tử là một đơn vị thuộc tổ chức hay một bộ phận cấu thành của ngân hàng chủ
trì hoặc là một đơn vị (công ty) độc lập thực hiện thu nhận, xử lý số liệu
thanh toán và thông báo kết quả thanh toán bù trừ cho ngân hàng chủ trì và các
ngân hàng thành viên liên quan.
- Ngân hàng thành viên trực tiếp
tham gia thanh toán bù trừ điện tử (sau đây gọi
tắt là Ngân hàng thành viên trực tiếp): là ngân hàng được nối mạng trực tiếp
với hệ thống máy tính của Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh
toán bù trừ điện tử (trường hợp Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện
tử là đơn vị độc lập) để thực hiện các
giao dịch thanh toán bù trừ điện tử. Trong thanh toán bù trừ điện tử, ngân hàng
thành viên trực tiếp vừa là ngân hàng gửi lệnh thanh toán (gọi tắt là Ngân hàng
gửi) vừa là ngân hàng nhận lệnh thanh toán (gọi tắt là Ngân hàng nhận).
- Ngân hàng thành viên được ủy
quyền: là ngân hàng
thành viên trực tiếp được đại diện cho một hoặc một số ngân hàng thành viên
gián tiếp để thực hiện các giao dịch thanh toán bù trừ điện tử.
- Ngân hàng thành viên gián tiếp
tham gia thanh toán bù trừ điện tử (sau đây gọi
tắt là ngân hàng thành viên gián tiếp): Là ngân hàng thực hiện các giao dịch
thanh toán bù trừ điện tử nối mạng thông qua một ngân hàng thành viên được ủy
quyền. Ngân hàng thành viên gián tiếp có thể là chi nhánh trực thuộc của ngân
hàng thành viên được ủy quyền hoặc là ngân hàng khác hệ thống nhưng có mở tài
khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng thành viên được ủy quyền.
- Lệnh thanh toán: là một chỉ định dưới dạng các yếu tố của chứng
từ kế toán được mã hóa của ngân hàng gửi đối với Ngân hàng chủ trì, Trung tâm xử
lý thanh toán bù trừ điện tử và ngân hàng nhận nhằm thực hiện thanh toán bù trừ
điện tử.
- Lệnh chuyển Có là lệnh thanh toán, được xem như một khoản phải trả của ngân hàng gửi
đối với ngân hàng nhận trong thanh toán bù trừ điện tử.
- Lệnh chuyển Nợ có ủy quyền là Lệnh thanh toán, được xem như một khoản phải thu của ngân hàng gửi
đối với ngân hàng nhận trong thanh toán bù trừ điện tử.
- Lệnh Hủy lệnh chuyển Nợ: là một tin điện có giá trị như một Lệnh chuyển
Có; do ngân hàng gửi lập và chuyển cho ngân hàng nhận để hủy Lệnh chuyển Nợ đã
gửi (hủy một phần hoặc toàn bộ số tiền).
- Yêu cầu hủy Lệnh chuyển Có: là một tin điện do ngân hàng gửi lập và chuyển cho ngân hàng nhận đề nghị
hủy Lệnh chuyển có đã gửi (hủy một phần hoặc toàn bộ số tiền tùy theo từng trường
hợp sai sót cụ thể); Là căn cứ để ngân hàng nhận lập Lệnh chuyển có đi, trả lại
cho ngân hàng gửi trên cơ sở đã thu hồi lại được tiền đã trả.
- Ngày giao dịch thanh toán bù
trừ điện tử (gọi tắt là Ngày giao dịch): là
khoảng thời gian trong ngày làm việc, được xác định kể từ thời điểm bắt đầu
ngày làm việc cho đến thời điểm dừng gửi Lệnh thanh toán của các ngân hàng
thành viên trực tiếp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Phiên thanh toán bù trừ điện
tử: Là khoảng thời
gian được xác định trong ngày giao dịch, trong khoảng thời gian này lệnh thanh
toán của các Ngân hàng thành viên gửi tới Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử
lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp Trung tâm xử lý kỹ thuật
thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc lập) sẽ được xử lý bù trừ vào một
thời điểm quy định. Trong Ngày giao dịch có thể có một hoặc một số phiên
thanh toán bù trừ điện tử.
- Bảng kết quả thanh toán bù trừ
điện tử: là bảng số liệu
do Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp
Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc lập) lập
cho từng ngân hàng thành viên trực tiếp sau khi kết thúc phiên giao dịch thanh
toán bù trừ và tại thời điểm quyết toán bù trừ điện tử, phản ánh tổng hợp số phải
thu, phải trả theo các Lệnh thanh toán mà ngân hàng thành viên đã gửi đi, nhận
về và thể hiện số thực phải trả hoặc được hưởng của từng ngân hàng thành viên.
Bảng kết quả thanh toán bù trừ điện tử được coi là một loại chứng từ kế toán.
- Khả năng chi trả của Ngân
hàng thành viên: là số dư trên tài khoản tiền gửi
của ngân hàng thành viên trực tiếp tại Ngân hàng chủ trì.
Chương 2.
CÁC QUY ĐỊNH CỤ
THỂ
Điều 4. Thủ tục
xin tham gia và xét duyệt ngân hàng thành viên tham gia thanh toán bù trừ điện
tử
1. Các
ngân hàng khi đã có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn của ngân hàng thành viên tham
gia thanh toán điện tử liên ngân hàng, nếu muốn tham gia thanh toán bù trừ điện
tử liên ngân hàng thì phải lập và nộp các hồ sơ sau đây cho Ngân hàng Nhà nước,
nơi mình mở tài khoản:
- Đơn xin tham gia thanh toán bù trừ
điện tử liên Ngân hàng.
- Giấy cam kết thực hiện các quy định
có liên quan khi trở thành Ngân hàng thành viên tham gia thanh toán bù trừ điện
tử liên Ngân hàng.
2. Khi nhận
được đơn và hồ sơ của ngân hàng xin tham gia thanh toán bù trừ điện tử, sau khi
kiểm tra, rà soát nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn của ngân hàng thành viên
thanh toán điện tử liên ngân hàng và thực hiện đúng thủ tục xin tham gia thanh
toán bù trừ điện tử theo quy định thì Ngân hàng chủ trì chấp nhận, kết nạp ngân
hàng thành viên tham gia thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng và thông báo
bằng văn bản cho tất cả các ngân hàng thành viên biết để giao dịch thanh toán.
Trường hợp ngân hàng xin tham gia
thanh toán bù trừ không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để kết nạp ngân hàng thành
viên tham gia thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng thì Ngân hàng chủ trì phải
có văn bản từ chối và nêu rõ lý do.
Điều 5. Chứng từ
sử dụng trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Chứng
từ ghi sổ trong thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng là các Lệnh thanh toán
và các Bảng kê thanh toán bù trừ điện tử do Ngân hàng Nhà nước quy định. Chứng
từ gốc dùng làm cơ sở để lập Lệnh thanh toán là các chứng từ thanh toán sử dụng
để chuyển tiền theo quy định hiện hành. Việc lập, kiểm soát, luân chuyển, xử
lý, lưu trữ và bảo quản chứng từ trong thanh toán bù trừ điện tử phải tuân thủ
theo đúng quy định của chế độ chứng từ kế toán Ngân hàng, Tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
ban hành.
2. Các
Ngân hàng thành viên phải thực hiện việc chuyển hóa chứng từ bằng giấy sang chứng
từ điện tử hoặc ngược lại khi cần thiết phù hợp với quy trình kỹ thuật nghiệp vụ
thanh toán bù trừ điện tử. Việc chuyển hóa chứng từ phải đảm bảo sự khớp đúng
giữa chứng từ dùng làm căn cứ chuyển hóa và chứng từ được chuyển hóa, đúng mẫu
quy định và đảm bảo tính pháp lý của chứng từ.
3. Ngân
hàng gửi (bao gồm cả ngân hàng thành viên trực tiếp và ngân hàng thành viên
gián tiếp) có trách nhiệm bảo quản và lưu trữ chứng từ thanh toán hợp lệ được
sử dụng làm căn cứ lập Lệnh thanh toán theo đúng quy định hiện hành.
Điều 6. Thời gian
giao dịch trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Thời
điểm bắt đầu giao dịch, thời điểm dừng gửi Lệnh thanh toán của các ngân hàng
thành viên, thời điểm xử lý của phiên thanh toán bù trừ điện tử và thời điểm
quyết toán thanh toán bù trừ điện tử của ngày giao dịch do Ngân hàng chủ trì
quy định dựa trên các căn cứ sau đây:
- Khả năng xử lý của Trung tâm xử lý
kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử và yêu cầu của các ngân hàng thành viên trực
tiếp;
- Sự kết nối mạng máy tính của hệ thống
thanh toán bù trừ điện tử với các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng khác có liên
quan của các ngân hàng thành viên trực tiếp.
2. Khi có
sự thay đổi về thời gian giao dịch thanh toán bù trừ điện tử thì Ngân hàng chủ
trì phải thông báo kịp thời cho các ngân hàng thành viên trực tiếp.
Điều 7. Truyền,
nhận và xử lý dữ liệu trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Khi
truyền qua mạng máy tính, dữ liệu thanh toán bù trừ điện tử phải được mã hóa và
áp dụng các biện pháp bảo mật theo quy định hiện hành đối với chứng từ điện tử
và các quy định có liên quan khác về truyền tin và xử lý dữ liệu qua mạng máy
tính trong hoạt động ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước ban hành.
2. Ngân
hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp
Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc lập) và
các Ngân hàng thành viên phải tuân thủ quy định về phương thức truyền, nhận và
xử lý dữ liệu trong thanh toán bù trừ điện tử. Phương thức truyền, nhận và xử
lý dữ liệu trong thanh toán bù trừ điện tử do Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm
xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử quy định sau khi đã thống nhất với các
Ngân hàng thành viên và phải phù hợp với các quy định về truyền, nhận và xử lý
dữ liệu thanh toán chuyển tiền do Ngân hàng Nhà nước ban hành hoặc được Ngân
hàng Nhà nước chấp thuận.
3. Trong
trường hợp bị sự cố kỹ thuật, truyền tin và các nguyên nhân bất khả kháng khác
dẫn đến không thể truyền, nhận dữ liệu thanh toán bù trừ điện tử qua mạng máy
tính thì Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện
tử (trường hợp Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị
độc lập) và các Ngân hàng thành viên phải có giải pháp xử lý thích hợp; nếu có
điều kiện thì có thể áp dụng biện pháp giao, nhận trực tiếp dữ liệu trên các vật
mang tin (băng, đĩa từ v.v...) theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước đồng
thời phải tìm mọi biện pháp để khắc phục sự cố nhanh nhất.
Điều 8. Đảm bảo
an toàn đối với hệ thống máy tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu phục vụ cho
hoạt động thanh toán bù trừ điện tử
1. Ngân
hàng chủ trì, các Ngân hàng thành viên phải có quy định chặt chẽ về cài đặt, sử
dụng, bảo quản và bảo trì các trang thiết bị và chương trình máy tính phục vụ
cho hoạt động thanh toán bù trừ điện tử thuộc phạm vi mình quản lý.
2. Ngân
hàng chủ trì, Ngân hàng thành viên phải có hệ thống máy tính, trang thiết bị và
cơ sở dữ liệu dự phòng cho hoạt động thanh toán bù trừ điện tử và phải tổ chức lưu trữ dữ liệu dự phòng đồng thời dữ
liệu đang hoạt động. Hệ thống máy tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu dự
phòng phải đặt tại địa điểm an toàn, tách rời với hệ thống đang hoạt động chính
thức và phải có phương án sử dụng cụ thể để đảm bảo cho hoạt động thanh toán bù
trừ điện tử được tiến hành an toàn và liên tục.
Điều 9. Bảo mật
trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Ngân
hàng chủ trì và từng Ngân hàng thành viên chịu trách nhiệm quy định các biện
pháp bảo mật thích hợp áp dụng trong nội bộ đơn vị mình.
2. Ngân
hàng chủ trì chịu trách nhiệm quy định về chữ ký điện tử được sử dụng để bảo vệ
và kiểm soát dữ liệu thanh toán bù trừ điện tử khi thực hiện truyền, nhận qua mạng
máy tính giữa Ngân hàng chủ trì và các Ngân hàng thành viên trực tiếp. Trong
trường hợp cần thiết, Ngân hàng chủ trì có thể quy định thêm các biện pháp bảo
mật khác để đảm bảo sự an toàn của yếu tố chứng từ đã được mã hóa.
3. Trung
tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử chịu trách nhiệm quy định về mã
khóa bảo mật được sử dụng để truy cập vào hệ thống máy tính của Trung tâm xử lý
kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (gọi tắt là mã khóa bảo mật máy tính).
4. Các
quy định về chữ ký điện tử và mã khóa bảo mật máy tính trong thanh toán bù trừ
điện tử nêu tại khoản 2 và 3 điều này, phải tuân thủ quy định hiện hành của
Ngân hàng Nhà nước về việc xây dựng, cấp phát, sử dụng, bảo quản và quản lý chữ
ký điện tử, mã khóa bảo mật máy tính trong thanh toán chuyển tiền điện tử.
Điều 10. Xử lý tại
phiên thanh toán bù trừ điện tử
1. Tại thời
điểm xử lý bù trừ được quy định cho từng phiên thanh toán bù trừ điện tử, Trung
tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (nếu Trung tâm xử lý bù trừ là đơn
vị độc lập) hoặc Ngân hàng chủ trì thực hiện:
- Xử lý bù trừ đối với các lệnh thanh
toán hợp lệ đã nhận được từ các ngân hàng thành viên.
- Lập và gửi Bảng kết quả thanh toán
bù trừ điện tử để phục vụ cho việc kiểm soát đối chiếu và hạch toán tại Ngân
hàng chủ trì và các Ngân hàng thành viên trực tiếp theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước.
2. Ngân
hàng chủ trì căn cứ Bảng kết quả thanh toán bù trừ điện tử để thanh toán và hạch
toán theo số chênh lệch phải trả hoặc được hưởng của mỗi ngân hàng thành viên
trực tiếp.
3. Khi nhận
được kết quả thanh toán bù trừ do Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật
thanh toán bù trừ điện tử chuyển tới Ngân hàng thành viên trực tiếp phải kiểm
soát, đối chiếu chặt chẽ theo quy định đối với các Lệnh thanh toán, Kết quả
thanh toán bù trừ điện tử trước khi xử lý, hạch toán.
Điều 11. Quyết
toán thanh toán bù trừ điện tử
1. Quyết
toán thanh toán bù trừ điện tử là việc xử lý thanh toán bù trừ điện tử lần cuối
cùng trong ngày giao dịch và vào một thời điểm quy định sau khi Ngân hàng chủ
trì và các Ngân hàng thành viên đã đối chiếu xong, chính xác cho toàn bộ các
khoản phải thu, phải trả và số thực phải trả hoặc được hưởng của từng Ngân hàng
thành viên trong ngày giao dịch; Trường hợp Ngân hàng chủ trì và các Ngân hàng
thành viên còn chưa xử lý xong sai sót, chênh lệch số liệu trước thời điểm quyết toán quy định thì Ngân hàng chủ trì có thể
lùi lại thời điểm quyết toán của ngày giao dịch và phải thông báo cho tất cả
các Ngân hàng thành viên để có biện pháp xử lý thích hợp theo quy định.
2. Tại thời điểm quyết toán bù trừ
điện tử, Ngân hàng chủ trì xử lý:
- Xử lý bù trừ điều chỉnh đối với những
Lệnh thanh toán của Ngân hàng thành viên trực tiếp đã bổ sung đủ nguồn vốn để
bù đắp khoản thiếu hụt trong thanh toán bù trừ điện tử.
- Trả lại hoặc Hủy bỏ những Lệnh thanh
toán vượt quá khả năng chi trả của Ngân hàng thành viên trực tiếp tại Ngân hàng
chủ trì.
- Gửi kết quả quyết toán bù trừ cho
các Ngân hàng thành viên trực tiếp.
- Căn cứ kết quả quyết toán bù trừ đã
được điều chỉnh, Ngân hàng chủ trì thực hiện việc hạch toán ghi Nợ, ghi Có cho
các Ngân hàng thành viên trực tiếp theo số thực phải trả hoặc được hưởng cuối
cùng trong Ngày giao dịch. Sau khi quyết toán xong, tài khoản thanh toán bù trừ
của Ngân hàng chủ trì phải hết số dư.
3. Ngân hàng thành viên trực tiếp
phải thực hiện:
- Kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ theo
quy định đối với các Lệnh thanh toán, số phải thu, phải trả hoặc được hưởng cuối
cùng trong ngày giao dịch của ngân hàng mình với Kết
quả quyết toán bù trừ điện tử nhận được trước khi xử lý, hạch toán.
- Nếu khớp đúng thì phải gửi điện xác
nhận ngay cho Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ
điện tử (nếu Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc
lập); Trường hợp phát hiện có sai sót, nhầm lẫn thì phải tra soát ngay và có
trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng chủ trì, Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán
bù trừ điện tử và các Ngân hàng thành viên có liên quan để điều chỉnh theo đúng
quy định.
- Tại các Ngân hàng thành viên trực
tiếp, sau khi hạch toán xong số thực phải trả hoặc được hưởng cuối cùng trong
ngày giao dịch theo kết quả quyết toán bù trừ, tài khoản thanh toán bù trừ của
Ngân hàng thành viên trực tiếp phải hết số dư.
Điều 12. Các biện
pháp phòng ngừa và xử lý trường hợp thiếu
khả năng chi trả của Ngân hàng thành viên trực tiếp
trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Ngân
hàng thành viên trực tiếp phải cam kết và có biện pháp duy trì đủ khả năng chi
trả của mình để đảm bảo thanh toán kịp thời và đầy đủ số tiền phải trả trong
thanh toán bù trừ điện tử, bao gồm số tiền phải trả cho khách hàng và cho các
Ngân hàng thành viên liên quan khác.
2. Kể từ
thời điểm dừng gửi Lệnh thanh toán cho đến thời điểm quyết toán thanh toán bù trừ điện tử, (các) ngân hàng thành viên
trực tiếp bị thiếu khả năng chi trả phải áp dụng các biện pháp tìm kiếm nguồn để
bù đắp số thiếu hụt của ngân hàng mình.
3. Trường
hợp khi tiến hành quyết toán thanh toán bù trừ điện tử hoặc sau một thời gian
theo quy định đã được thông báo mà Ngân hàng thành viên trực tiếp bị thiếu khả
năng chi trả vẫn chưa tạo đủ nguồn để bù đắp số bị thiếu hụt trong thanh toán
bù trừ thì Ngân hàng chủ trì có quyền trả lại hoặc hủy bỏ (theo quy định tại
Quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng) những
lệnh thanh toán vượt quá khả năng chi trả của ngân hàng này và sẽ đình chỉ tham
gia thanh toán bù trừ nếu việc này xảy ra 3 lần liên tiếp, đồng thời thông báo
cho các ngân hàng thành viên liên quan biết.
Điều 13. Kiểm
soát và đối chiếu trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Ngân
hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp
Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc lập), các
Ngân hàng thành viên trực tiếp phải thực hiện đúng các quy định về kiểm soát và
đối chiếu nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử nhằm đảm bảo số liệu chính xác và
thống nhất; phát hiện và xử lý kịp thời các sai sót.
2. Các
Ngân hàng thành viên trực tiếp, Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật
thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù
trừ điện tử là một đơn vị độc lập) phải kiểm tra chặt chẽ theo quy định đối với chữ ký điện tử, các mã khóa bảo mật và
ký hiệu mật khác (nếu có), các Lệnh thanh toán, Bảng kết quả thanh toán
bù trừ điện tử và các chứng từ có liên quan khác được sử dụng trong thanh toán
bù trừ điện tử.
3. Ngân
hàng chủ trì và các Ngân hàng thành viên trực tiếp phải thường xuyên kiểm tra,
đối chiếu số liệu tài khoản tiền gửi của Ngân hàng thành viên tại ngân hàng chủ
trì.
4. Ngân
hàng chủ trì phải tính toán, kiểm soát, đối chiếu chặt chẽ theo đúng quy định về
kết quả xử lý bù trừ của từng lần xử lý kết quả thanh toán bù trừ điện tử trong
ngày giao dịch bảo đảm số liệu chính xác và thống nhất.
Điều 14. Tổ chức
hạch toán và xử lý sai sót, điều chỉnh sai sót trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Tổ
chức hạch toán: Ngân hàng chủ trì và các Ngân hàng thành viên phải tuân thủ
đúng chế độ về hạch toán kế toán trong thanh toán bù trừ điện tử do Ngân hàng
Nhà nước quy định.
Ngân hàng thành viên trực tiếp phải tổ
chức hạch toán trên máy vi tính để bảo đảm phù hợp và đồng bộ với hệ thống
thanh toán bù trừ điện tử; thực hiện thanh toán chính xác, kịp thời, đầy đủ các
nghĩa vụ thanh toán và phải chịu trách nhiệm về những chậm trễ, sai sót khi
mình gây ra thiệt hại cho các bên liên quan.
2. Sai sót và điều chỉnh sai sót: Khi phát hiện các sai sót hoặc chênh lệch số liệu trong thanh toán bù
trừ điện tử (gọi chung là sai sót), Ngân hàng chủ trì, hoặc Trung tâm xử
lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp Trung tâm xử lý kỹ thuật
thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc
lập) và các Ngân hàng thành viên liên quan phải có biện pháp xử lý, điều chỉnh
theo đúng quy định nhằm đảm bảo số liệu chính xác, thống nhất, an toàn tài sản,
không để ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán bù trừ điện tử và gây thiệt hại cho
khách hàng. Việc điều chỉnh sai sót trong thanh toán bù trừ điện tử phải đảm bảo
các nguyên tắc sau:
a. Tuân
thủ chặt chẽ các quy định và phương pháp điều chỉnh sai sót trong kế toán và
trong thanh toán bù trừ điện tử; Sai sót phát sinh ở khâu nào thì phải được sửa
chữa, điều chỉnh ở khâu đó. Nghiêm cấm việc tự ý sửa chữa số liệu, điều chỉnh
sai sót.
b. Cá
nhân, đơn vị gây ra sai sót hoặc vi phạm các nguyên tắc, quy định điều chỉnh
sai sót, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành
chính và phải chịu trách nhiệm bồi thường vật chất về những thiệt hại do mình
gây ra cho các bên liên quan theo quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 15. Hủy Lệnh
thanh toán
1. Tại thời
điểm quyết toán, Ngân hàng chủ trì có quyền trả lại hoặc hủy bỏ đối với những Lệnh thanh toán không đủ điều kiện
thanh toán của Ngân hàng thành viên trực tiếp. Trong trường hợp này, Ngân hàng
thành viên trực tiếp phải chấp nhận vô điều kiện về những lệnh thanh toán bị trả
lại hoặc hủy bỏ.
2. Trước
thời điểm quyết toán, một Lệnh thanh toán có thể được ngừng thanh toán bởi một
Lệnh hủy (đối với hủy Lệnh chuyển Nợ có ủy quyền) hoặc Yêu cầu hủy (đối
với hủy Lệnh chuyển Có) của Ngân hàng gửi. Lệnh hủy hoặc Yêu cầu hủy của
Ngân hàng gửi chỉ có hiệu lực trong trường hợp cụ thể sau:
- Lệnh chuyển Nợ có ủy quyền chỉ được
hủy khi Ngân hàng gửi chưa trả tiền cho khách hàng theo lệnh sai hoặc trả rồi
nhưng thu hồi lại được.
- Lệnh chuyển Có chỉ được hủy khi
Ngân hàng nhận chưa ghi Có vào tài khoản của khách hàng hoặc đã ghi Có vào tài
khoản của khách hàng nhưng khách hàng đã trả lại.
Điều 16. Các quy
định về phí trong thanh toán bù trừ điện tử
1. Các
Ngân hàng thành viên trực tiếp phải nộp đầy đủ và kịp thời cho Ngân hàng chủ
trì (các) khoản phí cố định sau đây:
a. Phí
tham gia thanh toán bù trừ điện tử là khoản tiền chỉ nộp một lần của các Ngân
hàng trước khi được kết nạp thành Ngân hàng thành viên trực tiếp. Khoản phí này
do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quy định hoặc chấp thuận theo đề nghị của Ngân
hàng chủ trì.
b. Phí
thường niên là khoản tiền nộp mỗi năm một lần của các Ngân hàng thành viên trực
tiếp để duy trì hoạt động của hệ thống. Việc áp dụng phí thường niên do Ngân
hàng chủ trì quyết định sau khi đã thống nhất với các Ngân hàng thành viên trực
tiếp.
2. Ngân
hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử (trường hợp
Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử là một đơn vị độc lập) được thu phí dịch vụ thanh toán
bù trừ điện tử đối với các Ngân hàng
thành viên trực tiếp theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về thu phí
dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng.
3. Ngân
hàng thành viên trực tiếp được thu phí dịch vụ thanh toán bù trừ điện tử đối với
khách hàng, Ngân hàng thành viên gián tiếp, ngân hàng có liên quan theo quy định
hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về thu phí dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng.
Chương 3.
QUYỀN VÀ TRÁCH
NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THANH TOÁN BÙ TRỪ ĐIỆN TỬ
Điều 17. Quyền
và trách nhiệm của Ngân hàng thành viên trực tiếp
1. Ngân hàng thành viên trực tiếp
có quyền:
- Sử dụng dịch vụ thanh toán bù trừ
điện tử và các dịch vụ có liên quan do Ngân hàng chủ trì hoặc Trung tâm xử lý kỹ
thuật thanh toán bù trừ điện tử quy định và cung cấp.
- Được nhận làm đại diện (ủy quyền)
thanh toán bù trừ điện tử cho Ngân hàng thành viên gián tiếp và thu phí theo
quy định hiện hành.
- Từ chối thực hiện đối với các trường
hợp: Lệnh thanh toán không hợp lệ, sai địa chỉ; Lệnh chuyển Nợ không có ủy quyền
hoặc quá mức được ủy quyền; Yêu cầu hủy Lệnh chuyển Có do tài khoản của người
hoặc đơn vị nhận Lệnh thanh toán không có
đủ tiền hoặc không thu hồi lại được.
- Đề nghị Ngân hàng chủ trì thông báo
số dư và tình hình hoạt động của tài khoản tiền gửi của ngân hàng mình tại Ngân
hàng chủ trì.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại do lỗi
của Ngân hàng chủ trì hoặc Ngân hàng thành viên khác gây ra cho mình. Mức bồi
thường giới hạn trong phạm vi số tiền phải thanh toán cộng với tiền phạt chậm
trả tính trên số tiền phải thanh toán nhân với lãi suất phạt chậm trả được áp dụng
theo quy định hiện hành.
2. Ngân hàng thành viên trực tiếp
có trách nhiệm:
- Đảm bảo khả năng chi trả để thanh
toán kịp thời và đầy đủ các khoản phải trả trong thanh toán bù trừ điện tử của
ngân hàng mình (cũng như đối với các ngân
hàng thành viên gián tiếp trong trường hợp mình đại diện).
- Nộp đầy đủ và kịp thời các khoản
phí trong thanh toán bù trừ điện tử theo quy định.
- Đảm bảo an toàn đối với hệ thống
máy tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động thanh toán bù
trừ điện tử thuộc phạm vi ngân hàng mình quản lý; Thực hiện đúng và đầy đủ các
quy định về truyền, nhận, xử lý dữ liệu và bảo mật trong thanh toán bù trừ điện
tử.
- Chịu sự kiểm tra do Ngân hàng chủ
trì, Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử tiến hành về việc chấp
hành các quy định về đảm bảo an toàn hệ thống máy tính, trang thiết bị và cơ sở
dữ liệu phục vụ cho hoạt động thanh toán bù trừ điện tử và các quy định về bảo mật trong thanh toán bù trừ điện
tử.
- Chịu trách nhiệm về tính trung thực,
chính xác và đầy đủ của các Lệnh thanh toán, các bảng kê và chứng từ có liên
quan do ngân hàng mình lập.
- Kiểm soát chặt chẽ Lệnh thanh toán,
Bảng kết quả thanh toán bù trừ điện tử và các chứng từ có liên quan khác nhận
được từ Ngân hàng chủ trì (hoặc Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện
tử) và phải xác nhận lại theo đúng quy định; Trả lại ngay Lệnh thanh toán bị từ
chối và nếu có vướng mắc phải đưa ra lý do chính đáng.
- Tra soát Ngân hàng gửi, Ngân hàng
chủ trì và Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử khi thấy có sai lầm,
nghi ngờ hoặc không rõ ràng trên các Lệnh thanh toán nhận được.
- Xác nhận và trả lời tra soát về Lệnh
thanh toán theo yêu cầu của các bên liên quan.
- Hạch toán chính xác, kịp thời và đầy
đủ các Lệnh thanh toán hợp lệ nhận được.
- Thông báo ngay cho người hoặc đơn vị
được thụ hưởng, đơn vị có nghĩa vụ thanh
toán biết về Lệnh thanh toán chuyển đến và kết
quả xử lý. Chịu trách nhiệm thanh toán với người hoặc đơn vị nhận kể từ
khi chấp nhận Lệnh thanh toán.
- Trong trường hợp đã thanh toán sai
hoặc thừa cho người hoặc đơn vị nhận Lệnh
thanh toán, khi phát hiện phải thông báo cho người hoặc đơn vị nhận Lệnh thanh
toán biết và áp dụng ngay các biện pháp theo quy định để thu hồi lại số tiền đã
trả sai hoặc trả thừa.
- Bồi thường thiệt hại hoặc chịu phạt
vì những sai sót và chậm trễ do mình gây ra. Mức bồi thường đối với khoản chuyển
tiền được giới hạn trong số tiền phải trả cộng với số tiền phạt chậm trả theo
quy định hiện hành.
- Khi không tham gia thanh toán bù trừ
điện tử nữa, Ngân hàng thành viên trực tiếp vẫn phải chịu trách nhiệm về tất cả
các giao dịch thanh toán bù trừ điện tử do ngân hàng mình đã thực hiện (bao gồm
các khoản thanh toán của Ngân hàng thành viên trực tiếp và các khoản thanh toán
được ủy quyền của ngân hàng thành viên gián tiếp) trong thời gian tham gia
thanh toán bù trừ điện tử trước đây.
Điều 18. Quyền
và trách nhiệm của Ngân hàng chủ trì
1. Ngân hàng chủ trì có quyền:
- Xem xét và chấp thuận cho các Ngân
hàng, Tổ chức tín dụng và Kho bạc Nhà nước có đủ điều kiện và tiêu chuẩn tham
gia thanh toán bù trừ điện tử.
- Thu các khoản phí trong thanh toán
bù trừ điện tử theo quy định.
- Quy định về thời gian giao dịch và
xử lý kết quả thanh toán bù trừ điện tử.
- Trích tài khoản tiền gửi thanh toán
của Ngân hàng thành viên trực tiếp để thanh toán số chênh lệch phải trả theo kết
quả thanh toán bù trừ điện tử; Áp dụng các biện pháp khác theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước để phòng ngừa và xử lý trường hợp thiếu khả năng chi trả của Ngân
hàng thành viên trực tiếp.
- Trả lại hoặc hủy bỏ đối với những lệnh
thanh toán vượt quá khả năng chi trả của Ngân hàng thành viên trực tiếp tại thời
điểm quyết toán bù trừ điện tử.
- Quyết định xử phạt Ngân hàng thành
viên trực tiếp vi phạm trong thanh toán bù trừ điện tử theo thẩm quyền do Ngân
hàng Nhà nước quy định.
2. Ngân hàng chủ trì có trách nhiệm:
- Lập đề án tổ chức thực hiện thanh
toán bù trừ điện tử; Phổ biến, hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ thanh toán bù trừ
điện tử cho các Ngân hàng thành viên trực tiếp.
- Đảm bảo an toàn đối với các máy
tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động thanh toán bù trừ
điện tử thuộc phạm vi Ngân hàng mình quản lý; Thực hiện đúng các quy định về tiếp
nhận và xử lý dữ liệu trong thanh toán bù trừ điện tử.
- Thực hiện đúng và đầy đủ các quy định
về bảo mật trong thanh toán bù trừ điện tử.
- Tổ chức và hướng dẫn việc kiểm
soát, đối chiếu và xử lý, điều chỉnh sai sót trong thanh toán bù trừ điện tử
theo đúng quy định.
- Quản lý và giám sát khả năng chi trả
của các Ngân hàng thành viên trực tiếp; Hạch toán chính xác, kịp thời và đầy đủ
kết quả thanh toán bù trừ điện tử.
- Đề ra biện pháp và tổ chức kiểm
tra, giám sát thường xuyên và đột xuất đối với
Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử và các Ngân hàng thành viên
trực tiếp trong việc chấp hành các quy định về đảm bảo an toàn hệ thống máy
tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động thanh toán bù trừ
điện tử; và các quy định về bảo mật trong
thanh toán bù trừ điện tử.
- Bồi thường thiệt hại hoặc chịu phạt
vì những sai sót và chậm trễ do mình gây ra; Mức bồi thường giới hạn trong số
tiền phải trả cộng với số tiền phạt chậm trả theo quy định hiện hành.
3. Quyền và trách nhiệm khác của
Ngân hàng chủ trì:
a. Khi
tham gia thanh toán bù trừ điện tử với tư cách như một Ngân hàng thành viên trực
tiếp thì Ngân hàng chủ trì phải tuân thủ các quy định đối với Ngân hàng thành viên trực tiếp.
b. Khi
Ngân hàng chủ trì đảm nhiệm cả vai trò là Trung tâm xử lý kỹ thuật thanh toán
bù trừ điện tử thì Ngân hàng chủ trì còn có các quyền và trách nhiệm của Trung
tâm xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện tử như sau:
- Thực hiện đúng và đầy đủ các quy định
về đảm bảo an toàn đối với hệ thống máy tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu
phục vụ cho hoạt động thanh toán bù trừ điện tử; và các quy định về bảo mật
trong thanh toán bù trừ điện tử.
- Quy định và hướng dẫn về phương thức
truyền, nhận và xử lý dữ liệu giữa bộ phận xử lý kỹ thuật thanh toán bù trừ điện
tử với các Ngân hàng thành viên trực tiếp và Ngân hàng chủ trì.
- Bảo đảm việc lưu trữ dữ liệu thanh
toán bù trừ điện tử an toàn và đúng thời gian quy định.
- Chịu trách nhiệm về tính chính xác,
trung thực và đầy đủ của Bảng kết quả thanh toán bù trừ và các chứng từ có liên
quan khác do mình lập.
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát và đối
chiếu trong thanh toán bù trừ điện tử theo đúng quy định. Tra soát và trả lời kịp
thời tra soát của các Ngân hàng thành viên trực tiếp và Ngân hàng chủ trì về
các sai sót, chênh lệch số liệu có liên quan.
- Thực hiện kiểm tra, giám sát đối với
các Ngân hàng thành viên trực tiếp trong việc chấp hành các quy định về đảm bảo
an toàn đối với hệ thống máy tính, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu phục vụ cho
hoạt động thanh toán bù trừ điện tử.
- Bồi thường thiệt hại hoặc chịu phạt
vì những sai sót, chậm trễ do mình gây ra. Mức bồi thường đối với các khoản
chuyển tiền được giới hạn trong số tiền phải trả cộng với số tiền phạt chậm trả
theo quy định hiện hành.
Chương 4.
XỬ LÝ VI PHẠM
TRONG THANH TOÁN BÙ TRỪ ĐIỆN TỬ
Điều 19. Vi phạm
và xử lý vi phạm
1. Các hành vi vi phạm trong thanh
toán bù trừ điện tử là:
a. Không
chấp hành đúng các quy định có liên quan đến nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử
do Ngân hàng Nhà nước ban hành.
b. Ngân
hàng thành viên trực tiếp không duy trì đủ khả năng chi trả để thanh toán kịp
thời, đầy đủ số tiền phải trả vào thời điểm quyết toán thanh toán bù trừ điện tử
cho toàn bộ các Lệnh thanh toán của ngân hàng mình đã gửi đi và phải nhận về
trong Ngày giao dịch.
c. Chậm
trễ (hoặc trì hoãn) trong việc trả lại Lệnh chuyển Có đã bị từ chối với dụng ý
chiếm dụng vốn; Từ chối Lệnh chuyển Nợ có ủy quyền hợp lệ để tránh tình trạng
thiếu hụt vốn của Ngân hàng mình.
2. Xử lý vi phạm:
a. Cá
nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định tại khoản 1 điều này, nếu gây thiệt
hại về vật chất cho khách hàng hoặc Ngân hàng thành viên khác thì phải bồi thường
thiệt hại đó cho khách hàng hoặc ngân hàng bị thiệt hại.
b. Đình
chỉ tham gia hoạt động thanh toán bù trừ điện tử:
- Đình chỉ tạm thời: Nếu ngân hàng
thành viên trực tiếp vi phạm liên tiếp 3 lần liền về một trong các quy định tại
khoản 1 điều này thì sẽ bị đình chỉ tham gia thanh toán bù trừ điện tử liên
ngân hàng tạm thời ít nhất trong thời gian 6 tháng để chấn chỉnh. Sau 6 tháng,
nếu muốn tiếp tục tham gia thanh toán bù trừ điện tử, Ngân hàng thành viên này
phải có văn bản gửi Ngân hàng chủ trì để xem xét.
- Đình chỉ vĩnh viễn: Nếu vi phạm đến
lần thứ tư các quy định tại khoản 1 điều này, Ngân hàng thành viên trực tiếp sẽ
bị đình chỉ vĩnh viễn và xóa tên trong danh sách ngân hàng tham gia thanh toán
bù trừ điện tử.
Chương 5.
ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH
Điều 20. Thủ trưởng các Vụ, Cục và đơn vị thuộc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn, triển khai
và giám sát thực hiện Quy chế này.
Tổng Giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng, Tổ
chức khác được làm dịch vụ thanh toán có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện
đối với hệ thống của mình theo đúng các quy định của Quy chế này.
Điều 21. Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế này do Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quyết định./.
Nơi nhận:
- Ban Lãnh đạo NHNN;
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Website NHNN;
- Lưu VP, PC3, Vụ TT.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
THỐNG ĐỐC
PHÓ THỐNG ĐỐC
Đặng Thanh Bình
|
[1] Quyết định số 456/2003/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1,
Điều 1 "Quy chế thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng" ban hành
kèm theo Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14/12/2001 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước có căn cứ ban hành như sau:
"Căn
cứ Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 và Luật các tổ chức tín dụng
số 02/1997/QH10 ngày 12/12/1997;
Căn cứ
Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ
Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán
qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
Căn cứ
Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg ngày 21/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử
dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của
các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
Theo đề
nghị của Vụ trưởng Vụ Kế toán - Tài chính,"
[2] Điều 2 và Điều 3 của Quyết định số 456/2003/QĐ-NHNN về việc sửa đổi,
bổ sung khoản 1, Điều 1 "Quy chế thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân
hàng" ban hành kèm theo Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2003 quy định
như sau:
"Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành
sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 3.
Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ Kế toán - Tài chính, Cục trưởng Cục Công nghệ tin
học ngân hàng, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Giám đốc
Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng, Tổ chức
khác được làm dịch vụ thanh toán chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./."
[3] Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Điều 1 của Quyết định số
456/2003/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1, Điều 1 "Quy chế thanh
toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng" ban hành kèm theo Quyết định số
1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực
kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2003.