|
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 09/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 05 tháng
5 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ
VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN
HÌNH SỰ
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số
63/2014/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 82/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số
34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công tố và Kiểm
sát xét xử hình sự và Vụ trưởng Vụ Pháp chế Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử vụ án hình sự (kèm theo 02 Phụ lục về hệ thống biểu mẫu và thẩm quyền
ký).
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC
ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
Điều 3. Thủ
trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 3;
- Lãnh đạo VKSNDTC;
- Lưu: VT, V14, Vụ 7.
|
VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Huy Tiến
|
QUY
CHẾ
CÔNG
TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 09/QĐ-VKSTC ngày 05 tháng 5 năm 2026. của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Quy
chế này quy định về phân công trách nhiệm, trình tự, thủ tục, việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm, người phạm tội và kiểm
sát tính hợp pháp các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong xét xử vụ án hình sự, bảo đảm việc xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng
pháp luật.
1.
Viện kiểm
sát các cấp, gồm:
a)
Viện kiểm
sát nhân dân tối cao;
b)
Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh);
c)
Viện kiểm
sát nhân dân khu vực;
d)
Viện kiểm
sát quân sự các cấp.
2.
Người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan nêu tại khoản 1 Điều này.
3.
Cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan.
Công
tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự bắt đầu từ khi Viện
kiểm sát chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng
hồ sơ vụ án đến Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không bị yêu cầu,
kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
1.
“Lãnh
đạo Viện” gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát.
2.
“Lãnh
đạo đơn vị” gồm:
a)
Vụ trưởng,
Phó Vụ trưởng Vụ Công tố và Kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (Vụ 7); Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc
thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Viện Phúc thẩm);
b)
Trưởng
phòng, Phó Trưởng phòng các phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, Kiểm sát xét xử
sơ thẩm hình sự; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Công tố và Kiểm sát xét
xử án phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh (Phòng 7);
c)
Trưởng
phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm (Phòng 2);
Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Công tố và Kiểm sát xét xử hình sự (Phòng
3) thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương; Trưởng ban Ban Công tố và Kiểm sát điều
tra, Kiểm sát xét xử án hình sự thuộc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
3.
“Bộ
luật Tố tụng hình sự” là Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật
số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15.
4.
“Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân” là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số
63/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 82/2025/QH15.
1.
Khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều
266 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 18 của Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
b)
Khi thực
hành quyền công tố theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm
vụ, quyền hạn nêu tại điểm a khoản 1 Điều này và tạm đình chỉ thi hành bản án,
quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo Điều 377
của Bộ luật Tố tụng hình sự;
c)
Khi thực
hành quyền công tố đối với việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm
vụ, quyền hạn theo quy định tại các điều 404, 405, 406, 407, 408 và 411 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Khi kiểm
sát xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại
Điều 267 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản
3 Điều 4, Điều 19 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định
khác của pháp luật có liên quan.
3.
Trường hợp
xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Điều 290 của Bộ luật Tố
tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thì Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và các nhiệm vụ, quyền
hạn sau:
a)
Kiểm sát
trường hợp, căn cứ, điều kiện xét xử vắng mặt bị cáo;
b)
Phát biểu
quan điểm của Viện kiểm sát về việc xét xử vắng mặt bị cáo.
1.
Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án có trách nhiệm lập hồ
sơ kiểm sát.
2.
Việc lập,
quản lý, sử dụng và lưu trữ hồ sơ kiểm sát thực hiện theo quy định của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
1.
Viện
trưởng Viện kiểm sát quyết định phân công, thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định tại Điều 41 và Điều
52 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường
hợp Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tham gia phiên tòa, phiên họp thì thông
báo bằng văn bản cho Tòa án.
2.
Việc gửi
quyết định phân công, thay đổi Kiểm sát viên, văn bản thông báo Viện trưởng
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp được thực hiện theo quy định của
pháp luật và quy định của Ngành.
1.
Sau khi
kết thúc phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay kết quả với lãnh
đạo đơn vị, lãnh đạo Viện. Báo cáo kết quả được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy
chế này và được gửi theo quy định pháp luật.
Đối
với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên phân công Viện kiểm sát cấp dưới thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thì việc báo cáo kết quả xét xử thực
hiện theo Quy chế này và các quy định khác có liên quan.
2.
Việc thông
báo, gửi báo cáo kết quả phiên tòa, phiên họp thực hiện như sau:
a)
Viện kiểm sát cấp sơ thẩm gửi ngay báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm đến Viện kiểm
sát cấp phúc thẩm. Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, nếu thấy cần thiết thì
Viện kiểm sát cấp phúc thẩm yêu cầu Viện kiểm sát cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ kiểm
sát và trả lại hồ sơ kiểm sát cho Viện kiểm sát cấp sơ thẩm sau khi kết thúc
việc giải quyết vụ án;
b)
Sau khi
xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi
ngay báo cáo kết quả xét xử cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua Vụ 7), đồng
thời gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực đã xét xử sơ thẩm;
c)
Viện Phúc
thẩm thông báo kết quả thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm đến
Vụ 7 và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm;
d)
Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu gửi ngay báo cáo kết quả xét xử phúc thẩm đến Viện
kiểm sát quân sự trung ương (qua Phòng 3) và thông báo đến Viện kiểm sát quân
sự khu vực đã xét xử sơ thẩm. Phòng Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm (Phòng
2) thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương thông báo kết quả xét xử phúc thẩm
đến Phòng 3 và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu đã xét xử sơ thẩm.
1.
Trong quá
trình thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự, nếu phát hiện vi phạm
pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thì Viện kiểm
sát thực hiện việc kiến nghị để khắc phục và phòng ngừa vi phạm, tội phạm theo
quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
và Điều 6 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc kiến nghị có
thể đối với từng vi phạm cụ thể hoặc tập hợp nhiều vi phạm nhưng phải kịp thời.
Viện kiểm sát phải theo dõi việc trả lời, thực hiện kiến nghị của cơ quan, tổ
chức bị kiến nghị.
Hết
thời hạn trả lời kiến nghị theo văn bản kiến nghị mà Viện kiểm sát không nhận
được văn bản trả lời thì Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu trả lời kiến
nghị; nếu vẫn không nhận được văn bản trả lời thì Viện kiểm sát đã kiến nghị tự
mình hoặc báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thông báo cho cơ quan, tổ
chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức bị kiến nghị biết để xử lý đồng
thời báo cáo cấp ủy, Hội đồng nhân dân có thẩm quyền.
2.
Kiến nghị
được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này và được gửi ngay đến cơ quan,
tổ chức, cá nhân bị kiến nghị đồng thời gửi đến Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp. Kiến nghị của Viện kiểm sát quân sự trung ương gửi đến Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
1.
Đối với
đơn, thông báo, kiến nghị, đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì giải
quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Quy chế này và các quy định
khác có liên quan.
2.
Khi nhận
được khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc kiểm sát
việc giải quyết của Viện kiểm sát thì đơn vị tiếp nhận chuyển khiếu nại, tố cáo
cho đơn vị có chức năng giải quyết, kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong hoạt động tư pháp.
1.
Khi thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự có bị can, bị cáo, người bị
hại, người làm chứng là người chưa thành niên, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt
chẽ thành phần, điều kiện của thành viên Hội đồng xét xử; thời hạn, trình tự,
thủ tục tố tụng; việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, hình
phạt, biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên bảo đảm thực hiện đúng
quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Bộ luật Tố tụng hình sự, quy
định khác của pháp luật có liên quan và Quy chế này.
2.
Khi bị
can, bị cáo thuộc trường hợp và có đủ căn cứ, điều kiện được áp dụng biện pháp
xử lý chuyển hướng theo quy định tại các điều 35, 36, 37, 38, 39 và 55 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Viện
kiểm sát kiểm sát việc Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng đối với bị can, bị cáo, nếu phát hiện vi phạm thì thực hiện quyền
yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; trường hợp Tòa án chưa ra quyết định áp dụng
biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị can, bị cáo thì Viện kiểm sát đề nghị
Tòa án xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và kiểm
sát các hoạt động tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật.
THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM
Mục 1. THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ TRƯỚC KHI MỞ PHIÊN TÒA
1.
Trường hợp
Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của
mình theo quy định tại khoản 1 Điều 274 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì Kiểm sát viên kiểm sát các nội dung sau:
a)
Kiểm sát
căn cứ, điều kiện trả hồ sơ vụ án;
b)
Kiểm sát
việc Tòa án giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử theo quy định tại Điều 275 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác có liên
quan.
2.
Kiểm sát
việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử
a)
Kiểm sát
thời hạn ra quyết định phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án
theo quy định tại khoản 2 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
b)
Kiểm sát
việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử và việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét
xử theo quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật Tố tụng hình
sự;
c)
Kiểm sát
thời hạn mở phiên tòa theo quy định tại khoản 3 Điều 277 của Bộ
luật Tố tụng hình sự.
3.
Kiểm sát
quyết định đưa vụ án ra xét xử
Kiểm
sát nội dung và hình thức của quyết định theo quy định tại khoản
1 Điều 255 của Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát thẩm quyền ra quyết định
theo quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4.
Kiểm sát
căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp xử lý chuyển hướng
theo quy định tại Chương VII, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tư
pháp người chưa thành niên và quy định khác của pháp luật có liên quan.
5.
Kiểm sát
việc giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa
Trường
hợp trước khi mở phiên tòa mà có yêu cầu, đề nghị theo quy định tại Điều 279
của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên kiểm sát việc Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa giải quyết yêu cầu, đề nghị đó.
6.
Kiểm sát
viên kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm
đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án của Tòa án bảo đảm các trường hợp tạm đình
chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án được thực hiện theo đúng quy định tại các điều
281, 282, 283 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn có liên
quan; nếu thấy quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án không có căn
cứ và trái pháp luật thì báo cáo đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kiến
nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
7.
Việc rút
quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa được thực hiện như sau:
a)
Khi có căn
cứ quy định tại Điều 285 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên báo cáo đề
xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về việc rút quyết định truy tố. Trường hợp
lãnh đạo đồng ý, Kiểm sát viên xây dựng dự thảo quyết định rút quyết định truy
tố theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này; trường hợp lãnh đạo không đồng ý thì
Kiểm sát viên phải thực hiện và được bảo lưu quan điểm;
b)
Trường hợp
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên thấy có căn cứ rút quyết định truy tố của
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới thì có văn bản yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp dưới rút quyết định; nếu Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới vẫn giữ
quan điểm truy tố thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên quyết định theo thẩm
quyền và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
8.
Kiểm sát
viên kiểm sát thời hạn giao, gửi; chủ thể được giao, gửi; thủ tục giao, gửi các
quyết định của Tòa án theo quy định tại Điều 286 của Bộ luật Tố tụng hình sự và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
9.
Kiểm sát
viên kiểm sát việc triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa. Trường hợp
Tòa án không triệu tập hoặc triệu tập không đầy đủ mà xét thấy có thể ảnh hưởng
đến việc xét xử thì Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án triệu tập.
10.
Kiểm sát
viên kiểm sát số lượng của Thẩm phán, Hội thẩm thuộc thành phần Hội đồng xét xử
theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự và kiểm sát các điều
kiện tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án theo quy định của
pháp luật. Nếu Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án thuộc trường hợp phải từ chối
hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng theo quy định tại các điều 49, 53 và 54
của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên đề nghị Tòa án thay đổi.
11.
Việc
nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo kết quả nghiên cứu vụ án để tham gia phiên tòa
thực hiện như sau:
a)
Kiểm sát
viên được phân công tham gia phiên tòa, Kiểm tra viên được phân công giúp việc
cho Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ vụ án, lập bản tổng hợp, báo cáo lãnh
đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án về các nội dung sau:
-
Lý lịch,
hành vi phạm tội của từng bị can, bị cáo;
-
Hệ thống
chứng cứ xác định có tội; chứng cứ xác định vô tội, sự mâu thuẫn của các tài
liệu, chứng cứ (nếu có);
-
Các tình
tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yêu cầu về bồi
thường thiệt hại hoặc trách nhiệm dân sự trong vụ án (nếu có);
-
Ý kiến chỉ
đạo của Viện kiểm sát cấp trên (nếu có);
-
Đề xuất
quan điểm giải quyết vụ án, tội danh và điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự
được áp dụng; các biện pháp tư pháp, biện pháp xử lý chuyển hướng được áp dụng
(nếu có); việc xử lý vật chứng, tài sản, tài liệu, đồ vật liên quan; áp dụng
biện pháp bảo vệ, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, thu hồi tài sản,
khắc phục hậu quả và những nội dung khác liên quan đến vụ án;
b)
Việc
nghiên cứu hồ sơ đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, phân công cho Viện kiểm sát cấp
dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thì thực hiện theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Quy chế này và các quy định khác có liên
quan;
c)
Đối với những vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực theo dõi, chỉ đạo hoặc những vụ án trọng điểm, phức tạp, có nhiều quan
điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, thì Kiểm sát viên được phân
công nghiên cứu hồ sơ phải đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để báo cáo
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo dõi, chỉ đạo.
12.
Kiểm sát
viên xây dựng đề cương xét hỏi, bản luận tội, đề cương tranh luận theo mẫu ban
hành kèm theo Quy chế này.
Kiểm
sát viên phải báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về đề cương
xét hỏi, bản luận tội, đề cương tranh luận đối với những vụ án thuộc diện Ban
Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo và những
vụ án khác trong trường hợp cần thiết.
1.
Khi xét
thấy cần thiết, Kiểm sát viên thực hiện các hoạt động sau:
a)
Xem xét
tại chỗ đối với những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa, xem xét nơi xảy ra
tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án;
b)
Gặp bị
can, bị cáo để hỏi cung; gặp bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan để lấy lời khai.
2.
Việc thực
hiện các hoạt động theo quy định tại khoản 1 Điều này phải được lập thành biên
bản theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trường hợp cần thiết thì tiến
hành ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, chuyển cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án
và sao chụp lưu hồ sơ kiểm sát.
3.
Những
chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp hoặc do Tòa án
thu thập trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được chuyển cho Viện kiểm sát thì
trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được, Kiểm sát viên phải xem
xét, nghiên cứu, sao chụp, lưu hồ sơ kiểm sát; báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện và chuyển lại cho Tòa án. Trường hợp chứng cứ, tài liệu, đồ vật cần phải
xác minh làm rõ hoặc có thể làm thay đổi nội dung của bản cáo trạng thì Viện
kiểm sát phải phối hợp với Toà án cùng xem xét, đánh giá chứng cứ. Trường hợp
phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Kiểm sát viên báo cáo
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện có văn bản đề nghị Toà án trả hồ sơ để điều tra
bổ sung.
4.
Trường hợp
Tòa án yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu theo quy định tại Điều 284 của Bộ
luật Tố tụng hình sự thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu,
Kiểm sát viên phải kịp thời báo cáo đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện và
thu thập chứng cứ, tài liệu chuyển cho Tòa án, trường hợp không bổ sung được
thì có văn bản thông báo cho Tòa án biết.
1.
Khi nhận
được quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án, Kiểm sát viên phải
nghiên cứu, kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét và tùy từng
trường hợp xử lý như sau:
a)
Khi xét
thấy quyết định trả hồ sơ của Tòa án là không có căn cứ hoặc không thể điều tra
bổ sung được những vấn đề Tòa án yêu cầu thì Viện kiểm sát giữ nguyên quyết
định truy tố và có văn bản nêu rõ lý do gửi Tòa án kèm theo hồ sơ vụ án;
b)
Khi xét
thấy việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án là có căn cứ thì Viện kiểm
sát trực tiếp điều tra bổ sung hoặc ra quyết định trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều
tra, người có thẩm quyền điều tra để điều tra bổ sung theo quy định của pháp
luật.
Trường
hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước
đó thì Viện kiểm sát đã ban hành cáo trạng phải ra bản cáo trạng mới thay thế
và chuyển cáo trạng mới cùng hồ sơ vụ án đến Toà án.
2.
Trường hợp
Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, phân công
cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thì
thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Quy chế này và các quy
định khác có liên quan.
3.
Sau khi có
kết quả điều tra bổ sung, nếu có căn cứ đình chỉ vụ án thì Kiểm sát viên báo
cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện quyết định và thông báo bằng văn bản cho Tòa
án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Mục 2. THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ TẠI PHIÊN TÒA
1.
Tại phiên
tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi
kết thúc phiên tòa về những nội dung sau:
a)
Thành phần,
tư cách pháp lý của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;
b)
Việc từ
chối tiến hành tố tụng, từ chối giám định, phiên dịch, việc đề nghị thay đổi
người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; việc quyết định
thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch;
c)
Kiểm sát
trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa; việc giao nộp chứng cứ, tài liệu, việc
chấp nhận, không chấp nhận của Tòa án;
d)
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa hoặc hoãn phiên tòa
nếu thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 251 và khoản 1 Điều
297 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử
thì Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát về việc giải quyết vụ án. Sau phiên tòa, Kiểm sát viên báo cáo ngay với
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định;
đ)
Kiểm sát việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa theo quy định
tại Điều 280, Điều 298 và điểm c khoản 6 Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự
hoặc Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi
phát hiện có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình
sự; có căn cứ kết luận về một tội danh nặng hơn theo quy định tại khoản 3 Điều
298 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
e)
Kiểm sát
việc xem xét vật chứng, nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh, xem xét tại chỗ bảo đảm thực hiện đúng quy định tại các điều 312, 313 và
314 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Khi phát
hiện có vi phạm trong hoạt động tố tụng thì kiến nghị, yêu cầu Hội đồng xét xử
khắc phục kịp thời.
3.
Việc kiểm
sát tuân theo pháp luật đối với phiên tòa xét xử trực tuyến thực hiện tương tự
phiên toà thông thường và theo quy định của pháp luật về tổ chức phiên tòa trực
tuyến.
Kiểm
sát viên công bố bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và
quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo, bổ sung làm rõ thêm nội dung
bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn (nếu có). Ý kiến bổ
sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
1.
Kiểm sát
viên kiểm sát việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa điều hành xét hỏi theo quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 307, các điều 309, 310, 311, 316, 317, 318 và 323
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Kiểm sát
viên thực hiện việc xét hỏi theo điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa;
việc xét hỏi theo đề cương đã chuẩn bị và diễn biến tại phiên tòa để xác định
sự thật khách quan của vụ án, làm sáng tỏ hành vi phạm tội, vai trò, vị trí của
từng bị cáo, tội danh và loại tội cần áp dụng, trách nhiệm dân sự của bị cáo,
việc xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp.
3.
Khi có
người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới tại phiên tòa,
Kiểm sát viên kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung chứng cứ, tài liệu, đồ
vật đó để kết luận về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài liệu,
đồ vật.
Trường
hợp kết luận ngay được về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài
liệu, đồ vật mới thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trường
hợp chưa đủ căn cứ để kết luận ngay được về tính hợp pháp và tính có căn cứ của
chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới mà chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới đó có thể làm
thay đổi nội dung, bản chất vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm
ngừng phiên tòa hoặc hoãn phiên tòa để xác minh, làm rõ.
4.
Kiểm sát
viên đề nghị Hội đồng xét xử công bố hoặc tự mình công bố lời khai trong giai
đoạn điều tra, truy tố và công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo
quy định tại Điều 308 và Điều 315 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc công bố có
thể thực hiện bằng hình thức trình chiếu bằng phương tiện điện tử.
5.
Kiểm sát
viên theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của Hội đồng xét xử, người bào
chữa, những người tham gia tố tụng khác và ý kiến trả lời của người được xét
hỏi để có sự điều chỉnh hợp lý nội dung xét hỏi của mình.
1.
Trường hợp
Kiểm sát viên rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội
nhẹ hơn theo quy định tại Điều 319 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trước khi
quyết định, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để báo
cáo xin ý kiến lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện.
Đối
với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên phân công Viện kiểm sát cấp dưới thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử, nếu tại phiên tòa xét xử có những tình tiết
khác với nội dung truy tố của Viện kiểm sát cấp trên thì Kiểm sát viên đề nghị
tạm ngừng phiên tòa hoặc hoãn phiên tòa và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện kiểm sát cấp mình để báo cáo Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định.
Trường hợp Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử thì Kiểm sát viên phải tham gia
phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện kiểm sát cấp mình để báo cáo Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định.
2.
Trường hợp
Tòa án kiến nghị về việc Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên
tòa không có căn cứ, thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhận được kiến nghị xem xét,
giải quyết như sau:
a)
Quyết định
hủy việc rút quyết định truy tố và thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã kiến
nghị biết nếu việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa không
có căn cứ;
b)
Thông báo
bằng văn bản cho Tòa án để xem xét, xử lý theo quy định nếu việc rút quyết định
truy tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ.
1.
Kiểm sát
viên phải căn cứ vào diễn biến phiên tòa để bổ sung, hoàn chỉnh dự thảo luận
tội.
2.
Kiểm sát
viên trình bày bản luận tội theo đúng nội dung đã được hoàn chỉnh và đề nghị
Hội đồng xét xử theo hướng như sau:
a)
Kết tội bị
cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố
theo thủ tục rút gọn;
b)
Kết tội bị
cáo về khoản khác nhẹ hơn với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều
luật; kết luận về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát
đã truy tố;
c)
Kết tội bị
cáo về khoản khác nặng hơn trong cùng điều luật đã truy tố. Trường hợp này Kiểm
sát viên phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trước khi quyết
định;
d)
Đề nghị mức
hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại, xử lý vật chứng;
đ)
Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
3.
Trường hợp
có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị
Hội đồng xét xử trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét và báo cáo lãnh
đạo đơn vị, lãnh đạo Viện quyết định.
1.
Kiểm sát
viên kiểm sát việc tranh luận bảo đảm đúng theo quy định tại Điều 322 của Bộ
luật Tố tụng hình sự, nếu có vi phạm Kiểm sát viên kịp thời đề nghị Hội đồng
xét xử chấn chỉnh, khắc phục.
2.
Tại phiên
tòa, Kiểm sát viên phải chủ động tranh luận; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật
và lập luận để đối đáp đến cùng với từng ý kiến của những người tham gia tố
tụng. Trường hợp có nhiều ý kiến về cùng một nội dung thì Kiểm sát viên tổng
hợp lại để đối đáp chung cho các ý kiến đó.
3.
Trường hợp
chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên đối đáp lại những ý kiến có liên quan
đến vụ án chưa được tranh luận thì Kiểm sát viên thực hiện theo đề nghị của chủ
tọa phiên tòa.
4.
Trường hợp
cần xem xét thêm chứng cứ, tài liệu, Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc
xét hỏi thì sau khi xét hỏi xong Kiểm sát viên phải tiếp tục tranh luận.
5.
Đối với vụ
án có nhiều Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì mỗi Kiểm sát viên chủ động
thực hiện việc tranh luận theo sự phân công của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện.
1.
Khi chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án,
Kiểm sát viên phải ghi lại những nhận định quan trọng và nội dung quyết định
của bản án để làm căn cứ kiểm sát biên bản phiên tòa, bản án và chuẩn bị nội dung
báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về kết quả xét xử, nếu có vi phạm thì đề
xuất kiến nghị, kháng nghị.
2.
Ngay sau
khi tuyên án, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc Hội đồng xét xử trả tự do cho bị
cáo hoặc bắt tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 328 và Điều 329 của Bộ luật
Tố tụng hình sự (nếu có), nếu có vi phạm thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện xem xét, quyết định.
Sau
khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải kiểm sát biên bản phiên tòa. Nếu
phát hiện biên bản phiên tòa ghi không đầy đủ hoặc không chính xác thì yêu cầu
Thư ký Tòa án phải ghi sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và cùng Chủ tọa
phiên tòa ký xác nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 258 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Mục 3. THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT SAU KHI KẾT THÚC PHIÊN TÒA
1.
Kiểm sát
viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án phải kiểm
sát chặt chẽ nội dung, hình thức bản án, quyết định của Tòa án và việc ra,
giao, gửi bản án, quyết định theo đúng quy định tại Điều 132, khoản 1, khoản 2 Điều
260 và khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm phát hiện những sai
sót, vi phạm của Tòa án để kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ban
hành kiến nghị, kháng nghị.
2.
Việc sao
gửi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật cho Viện kiểm sát cấp trên
để kiểm sát, xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực
hiện như sau:
a)
Viện kiểm
sát nhân dân khu vực sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân khu vực tới Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh;
b)
Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh tới Vụ 7;
c)
Viện kiểm
sát quân sự khu vực sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
của Tòa án quân sự cùng cấp tới Viện kiểm sát quân sự trung ương.
1.
Khi có căn
cứ kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm, nếu còn thời hạn
kháng nghị, Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện xem xét quyết định việc kháng
nghị; nếu hết thời hạn kháng nghị cùng cấp thì báo cáo Viện kiểm sát cấp trên
để kháng nghị phúc thẩm trên một cấp kèm theo hồ sơ kiểm sát.
2.
Khi nhận
được đề nghị kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới, Viện trưởng Viện kiểm sát
cấp trên phân công Kiểm sát viên nghiên cứu để báo cáo xem xét việc kháng nghị
và yêu cầu Toà án cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án. Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm
có công văn trả lời hồ sơ vụ án đã được chuyển cho Toà án cấp phúc thẩm do có
kháng cáo thì Viện kiểm sát cấp trên phối hợp, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm
chuyển hồ sơ để nghiên cứu. Trường hợp ban hành quyết định kháng nghị phúc
thẩm, Viện kiểm sát gửi quyết định kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều
338 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi
hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm mà không kháng nghị thì Viện kiểm sát cấp
trên phải trả hồ sơ kiểm sát cho Viện kiểm sát cấp dưới và trả lại hồ sơ vụ án
cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn
kháng nghị phúc thẩm.
1.
Nếu bản
án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì Viện kiểm sát đã thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm phải theo dõi kết quả xét xử phúc thẩm; trường
hợp không nhất trí với bản án, quyết định phúc thẩm thì đề nghị Viện kiểm sát
cấp trên xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
2.
Nếu bản
án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố, kiểm sát xét
xử sơ thẩm phải theo dõi kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường
hợp không nhất trí với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương thì báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(qua Vụ 7) xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ PHÚC THẨM
Mục 1. THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ TRƯỚC KHI MỞ PHIÊN TÒA
1.
Thẩm quyền
kháng nghị phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 336 và điểm
a khoản 5 Điều 41 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể như sau:
a)
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực.
Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực;
b)
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
và Tòa án nhân dân khu vực.
Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân
khu và Tòa án quân sự khu vực;
c)
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Phúc thẩm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân
khu.
2.
Đối với vụ
án mà Viện kiểm sát cấp trên đã có ý kiến chỉ đạo trong quá trình thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm hoặc
những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên khởi tố, điều tra, truy tố, phân công cho
Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm, nếu
kháng nghị phải báo cáo Viện kiểm sát cấp trên.
3.
Viện
trưởng đã quyết định kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này trực tiếp ký
quyết định kháng nghị hoặc phân công Phó Viện trưởng ký quyết định kháng nghị.
Phó Viện trưởng ký quyết định kháng nghị phải ghi là “KT. VIỆN TRƯỞNG” (ký thay
Viện trưởng).
1.
Bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a)
Việc điều
tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng
tính chất của vụ án;
b)
Có căn cứ
cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra
về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
c)
Kết luận,
quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết
khách quan của vụ án;
d)
Có sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân
sự và các văn bản pháp luật khác;
đ)
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
cấp sơ thẩm;
e)
Thành phần
Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định;
g)
Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.
2.
Thời hạn
kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án thực hiện theo Điều 337 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Trường
hợp Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã kháng nghị phúc thẩm mà xét thấy cần phải kháng
nghị bổ sung theo hướng bất lợi cho bị cáo nhưng thời hạn kháng nghị của Viện
kiểm sát cấp sơ thẩm đã hết, chỉ còn thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp
phúc thẩm thì Kiểm sát viên báo cáo đề xuất Viện trưởng Viện kiểm sát cấp phúc
thẩm ban hành kháng nghị mới thay thế.
1.
Quyết định
kháng nghị phúc thẩm được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này và thể
hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Quyết định
kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát được gửi theo quy định tại khoản 2 Điều
338 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp. Trường hợp Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị thì gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị để theo dõi.
Kháng
nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với bản án, quyết định
của Tòa án nhân dân cùng cấp được gửi đến Viện Phúc thẩm thuộc phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ.
Kháng
nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu đối với bản án, quyết
định của Tòa án quân sự cùng cấp được gửi đến Viện kiểm sát quân sự trung ương.
1.
Sau khi
nhận được thông báo kháng cáo của Tòa án, Kiểm sát viên được phân công tiến
hành kiểm sát tư cách chủ thể của người có quyền kháng cáo, phạm vi kháng cáo,
thủ tục kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và
333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Trường hợp
kháng cáo quá hạn, sau khi nhận được bản sao đơn kháng cáo quá hạn và chứng cứ,
tài liệu kèm theo (nếu có), Kiểm sát viên được phân công phải nghiên cứu các
chứng cứ, tài liệu nêu trên, xây dựng bài phát biểu, báo cáo lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn.
Kiểm
sát viên được phân công tham gia phiên họp xét kháng cáo quá hạn phải kiểm sát
việc xét kháng cáo quá hạn của Tòa án theo quy định tại Điều 335 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
3.
Khi nhận
được thông báo của Tòa án cấp phúc thẩm về việc người kháng cáo thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo, Kiểm sát viên kiểm sát tính hợp pháp, giới hạn của việc
thay đổi, bổ sung kháng cáo. Trường hợp thay đổi, bổ sung vượt quá phạm vi
kháng cáo thì Kiểm sát viên trao đổi ngay với Tòa án để có biện pháp giải
quyết.
1.
Kiểm sát
việc Tòa án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ vụ án, chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ
sung (nếu có) cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2.
Nghiên cứu
hồ sơ vụ án và chứng cứ, tài liệu, đồ vật do Tòa án chuyển đến như sau:
a)
Đánh giá
tính hợp pháp, tính có căn cứ và tính liên quan của chứng cứ, tài liệu, đồ vật.
Trường hợp chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới được bổ sung cần kiểm tra, xác minh
hoặc cần phải trưng cầu giám định, yêu cầu định giá thì Kiểm sát viên báo cáo
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để đề nghị Tòa án tiến hành các hoạt động trên;
b)
Nghiên cứu
kỹ lý do, căn cứ, nội dung kháng cáo, kháng nghị; các chứng cứ, tình tiết liên
quan đến kháng cáo, kháng nghị, biên bản nghị án, biên bản phiên tòa sơ thẩm,
bản án, ý kiến chỉ đạo của Viện kiểm sát có thẩm quyền sau xét xử sơ thẩm (nếu
có); đề xuất triệu tập những người tham gia phiên tòa; nếu thấy cần thiết thì
xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị để giải quyết vụ án theo
đúng quy định của pháp luật.
Trường
hợp Viện kiểm sát cấp sơ thẩm kháng nghị thì Kiểm sát viên nghiên cứu quyết
định kháng nghị phải làm rõ lý do, căn cứ và nội dung kháng nghị; trao đổi,
phối hợp chặt chẽ với Kiểm sát viên của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm về nội dung
kháng nghị, quan điểm giải quyết vụ án. Nếu không nhất trí với nội dung kháng
nghị của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện để yêu cầu Viện kiểm sát cấp sơ thẩm thay đổi, bổ sung, rút kháng
nghị, nếu Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới không nhất trí thì Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên rút quyết định kháng nghị và chịu trách nhiệm về quyết
định đó;
c)
Lập bản
tổng hợp, báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án
về các nội dung sau: lý lịch bị cáo; tóm tắt nội dung vụ án; quá trình tố tụng
của vụ án; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên;
d)
Lập hồ sơ
kiểm sát theo quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3.
Chuyển lại
hồ sơ vụ án, chứng cứ, tài liệu, đồ vật cho Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều
341 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4.
Kiểm sát căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn Tòa án cấp phúc thẩm
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; nếu phát
hiện vi phạm thì phải kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kiến nghị
Tòa án khắc phục.
5.
Kiểm sát
căn cứ, thẩm quyền, nội dung, phạm vi, việc gửi các quyết định đưa vụ án ra xét
xử, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 346 và Điều 348
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi
kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử, Kiểm sát viên thực hiện quyền yêu cầu
triệu tập những người tham gia tố tụng và kiểm sát việc triệu tập những người
tham gia phiên tòa phúc thẩm; kiểm sát thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm; việc
thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án.
Khi
kiểm sát quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm của Tòa án nếu phát hiện vi phạm
thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để đề nghị Viện kiểm
sát cấp trên xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
6.
Kiểm sát
viên kiểm sát việc Tòa án thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm.
Khi
thấy cần thiết, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm xem xét quyết định và trực tiếp xác
minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khác
hỗ trợ việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Khi nhận được yêu cầu,
Viện kiểm sát nơi nhận được yêu cầu phải phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho
Viện kiểm sát có yêu cầu.
7.
Kiểm sát
viên xây dựng đề cương xét hỏi, bài phát biểu, đề cương tranh luận theo mẫu ban
hành kèm theo Quy chế này.
Đề
cương xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm tập trung vào những vấn đề và những tình
tiết liên quan đến kháng cáo, kháng nghị; dự kiến các câu hỏi để làm rõ chứng
cứ, tình tiết bảo vệ kháng nghị của Viện kiểm sát, các chứng cứ khác là cơ sở
để đánh giá, xem xét lý do của việc kháng cáo.
Bài
phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm trên cơ sở chứng cứ, tài liệu, đồ vật có
trong hồ sơ vụ án; chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới được bổ sung (nếu có); phân
tích nội dung của kháng cáo, kháng nghị; viện dẫn các quy định của Bộ luật Hình
sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan để đưa
ra nhận xét, đánh giá về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị...
Đề
cương tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm cần dự kiến được các tình huống xảy ra
để tranh luận đầy đủ, đến cùng với những người có liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị.
1.
Việc thay
đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều
342 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Trước khi
mở phiên tòa phúc thẩm, nếu Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp rút
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới thì có văn bản trao đổi với
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới; nếu Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới
không nhất trí thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên quyết định và chịu trách
nhiệm về quyết định đó.
1.
Khi nghiên
cứu hồ sơ để tham gia phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định tạm đình chỉ vụ
án, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị
cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của
Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan, Kiểm sát viên nghiên cứu
nội dung kháng cáo, kháng nghị; chứng cứ, tài liệu kèm theo; nội dung quyết
định; căn cứ, thẩm quyền, thời hạn ra quyết định.
2.
Tại phiên
họp phúc thẩm xem xét các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, Kiểm sát viên kiểm
sát việc xét hỏi và thực hiện việc xét hỏi tại phiên họp; kiểm sát việc tranh
luận và tham gia tranh luận tại phiên họp như quy định tại Điều
17 và Điều 20 của Quy chế này và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại
phiên họp.
3.
Kiểm sát
viên kiểm sát biên bản phiên họp, yêu cầu ghi sửa đổi, bổ sung biên bản phiên
họp (nếu thấy cần thiết) và ký xác nhận theo quy định tại Điều
22 của Quy chế này.
Mục 2. THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ TẠI PHIÊN TÒA
Kiểm
sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm kiểm sát các nội dung sau:
1.
Kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những
người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 15 của Quy chế này;
kiểm sát thủ tục phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại Điều 354 của Bộ luật Tố
tụng hình sự;
2.
Kiểm sát sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa theo quy định
tại Điều 349 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sự có mặt của người tham gia tố tụng
theo quy định tại Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát phạm vi xét xử
phúc thẩm theo quy định tại Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát việc
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của Tòa án
đối với bị cáo theo quy định tại Điều 347 của Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát
việc đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 348 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
3.
Kiểm sát
biên bản phiên tòa phúc thẩm tương tự như quy định tại Điều 22
của Quy chế này.
Kiểm
sát viên kiểm sát việc xét hỏi và tham gia xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm
tương tự như quy định tại Điều 17 của Quy chế này. Việc xét
hỏi tập trung làm rõ những nội dung liên quan đến kháng cáo, kháng nghị; nếu
cần thiết, Kiểm sát viên có thể xét hỏi các phần khác của bản án, quyết định
không bị kháng cáo, kháng nghị.
1.
Việc thay
đổi, bổ sung, rút kháng nghị được thực hiện theo quy định tại Điều 342 của Bộ
luật Tố tụng hình sự.
2.
Tại phiên
tòa phúc thẩm, nếu có căn cứ thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị thì trước khi
quyết định, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để báo
cáo, xin ý kiến lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện.
1.
Kiểm sát
viên căn cứ vào chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được thu thập, kiểm tra, xem xét,
kết quả xét hỏi công khai tại phiên tòa để bổ sung và hoàn chỉnh bản dự thảo
phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát. Sau khi kết thúc xét hỏi, Kiểm sát viên
phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát theo bài phát biểu đã được hoàn chỉnh tại
phiên tòa.
2.
Khi có
người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới tại phiên tòa,
Kiểm sát viên kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung chứng cứ, tài liệu, đồ
vật đó để kết luận về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài liệu,
đồ vật.
Trường
hợp kết luận ngay được về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài
liệu, đồ vật mới thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trường
hợp chưa đủ căn cứ để kết luận ngay được về tính hợp pháp và tính có căn cứ của
chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới mà chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới đó có thể làm
thay đổi nội dung, bản chất vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm
ngừng phiên tòa hoặc hoãn phiên tòa để xác minh, làm rõ.
1.
Việc tranh
luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện tương tự theo quy
định tại Điều 20 của Quy chế này.
2.
Khi tranh
luận, Kiểm sát viên phải tập trung vào những nội dung liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị và những vấn đề khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo,
kháng nghị mà Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết.
Mục 3. THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁTSAU KHI KẾT THÚC PHIÊN TÒA
Sau
phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đã tham gia phiên tòa phúc thẩm thực hiện
các công việc sau:
1.
Báo cáo,
thông báo kết quả xét xử theo quy định tại Điều 8 của Quy chế
này;
2.
Gửi bản
án, quyết định phúc thẩm kèm phiếu kiểm sát theo quy định tại khoản
1 Điều 41 của Quy chế này;
3.
Báo cáo
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kiến nghị khắc phục, phòng ngừa vi phạm, tội
phạm theo quy định tại Điều 9 của Quy chế này;
4.
Báo cáo
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm khi có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự;
5.
Trường hợp
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
thì phải kiểm sát việc chuyển hồ sơ của Tòa án cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án
cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung.
1.
Trường hợp
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án để điều tra lại thì hồ sơ vụ án được
chuyển đến Viện kiểm sát cấp sơ thẩm để thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Kiểm sát viên phải chú ý kiểm sát thời hạn tạm giam bị can, bị cáo; kịp thời
yêu cầu Tòa án tiếp tục tạm giam bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều
358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Viện kiểm
sát cấp phúc thẩm có văn bản hướng dẫn Viện kiểm sát cấp sơ thẩm giải quyết lại
vụ án do Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án để điều tra lại.
Việc
kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm được thực hiện tương tự
như kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều
23 của Quy chế này.
1.
Trong thời
hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án, Viện
kiểm sát cấp phúc thẩm phải sao, gửi bản án, quyết định đến Viện kiểm sát có
thẩm quyền như sau:
a)
Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện Phúc thẩm gửi bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa
án nhân dân cùng cấp đến Vụ 7.
b)
Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu gửi bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án quân sự
cùng cấp đến Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2.
Trường hợp
Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, Viện kiểm
sát cấp phúc thẩm phải thông báo ngay kết quả xét xử và gửi ngay bản án, quyết
định phúc thẩm sau khi nhận được cho Viện kiểm sát cấp sơ thẩm biết.
3.
Trường hợp
sao, gửi quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm thì phải gửi kèm theo bản án sơ
thẩm.
1.
Đối với
bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cùng cấp bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm phải theo dõi kết quả
xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường
hợp Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh không nhất trí với quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì báo cáo Vụ 7; Viện Phúc thẩm
không đồng ý với kết quả giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao thì thông báo cho Vụ 7 xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm.
Trường
hợp Viện Phúc thẩm không đồng ý với kết quả giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao xem, quyết định.
2.
Đối với
bản án, quyết định phúc thẩm bị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hủy để xét xử lại
ở cấp phúc thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm phân công Kiểm sát viên kiểm tra
chứng cứ, tài liệu, đồ vật có trong hồ sơ vụ án để phục vụ việc tham gia phiên
tòa xét xử phúc thẩm lại vụ án.
THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN
1.
Kiểm sát
viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục
rút gọn theo quy định tại Điều 462 và Điều 463 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Trường hợp ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục
rút gọn theo quy định tại khoản 1 Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà Tòa
án chưa ra quyết định áp dụng thì Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng Viện
kiểm sát đề nghị Chánh án Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và kiểm
sát việc giao, gửi quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 457 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
3.
Trường hợp
xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án không đúng pháp luật thì
Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án
đã ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và kiểm sát việc xem
xét, trả lời của Chánh án theo quy định tại khoản 4 Điều 457 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; nếu Chánh án Tòa án không hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút
gọn thì Kiểm sát viên tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án.
Kiểm
sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc xét xử phúc thẩm vụ án theo thủ
tục rút gọn theo quy định tại Điều 464, Điều 465 của Bộ luật Tố tụng hình sự và
tương tự như quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 43 của Quy chế
này.
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ, KIỂM SÁT VIỆC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT THEO THỦ
TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
1.
Đơn của
người bị kết án và người tham gia tố tụng; thông báo, kiến nghị, đề nghị của cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
2.
Báo cáo đề
nghị kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp.
3.
Kết quả
kiểm tra, thanh tra công tác nghiệp vụ trong Ngành; kết quả kiểm sát bản án,
quyết định của Tòa án.
4.
Thông tin
trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến vụ án.
5.
Thông qua
các nguồn thông tin khác.
1.
Việc tiếp
nhận đơn, thông báo, kiến nghị, đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (sau
đây gọi chung là đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm) được thực hiện theo
quy định tại Điều 375, Điều 399 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định của
ngành Kiểm sát nhân dân.
2.
Trường hợp đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của
Viện kiểm sát thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phân công Kiểm sát viên nghiên
cứu, đề xuất giải quyết. Kiểm sát viên được phân công thực hiện các công việc
sau:
a)
Báo cáo
người có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án;
b)
Nghiên cứu
hồ sơ vụ án và đề xuất quan điểm giải quyết;
c)
Thông báo
tiến độ nghiên cứu, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3.
Trường hợp
đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm không thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện
kiểm sát thì xử lý như sau:
a)
Chuyển cho
cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân đã có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm biết;
b)
Hướng dẫn
cơ quan, tổ chức, cá nhân đã có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chuyển cho
cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp
đến trình bày.
1.
Viện kiểm
sát nhân dân khu vực kiểm sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cùng cấp, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng hoặc tình tiết mới là căn
cứ kháng nghị giám đốc thẩm hoặc kháng nghị tái thẩm thì báo cáo ngay với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xem xét kháng nghị; nếu Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh thông báo không kháng nghị mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực
không nhất trí thì báo cáo đề nghị Vụ 7 để xem xét, giải quyết.
2.
Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh kiểm sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cùng cấp và Tòa án nhân dân khu vực, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng
hoặc tình tiết mới là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm hoặc kháng nghị tái thẩm
thì kháng nghị theo thẩm quyền hoặc báo cáo ngay với Vụ 7 để xem xét, giải
quyết.
3.
Viện Phúc
thẩm kiểm sát bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa
án nhân dân cấp tỉnh; nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng hoặc tình tiết mới là
căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm hoặc kháng nghị tái thẩm thì thông báo ngay
bằng văn bản cho Vụ 7 để xem xét, giải quyết.
4.
Viện kiểm sát quân sự khu vực kiểm sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án quân sự cùng cấp; Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm
sát quân sự trung ương kiểm sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án quân sự cùng cấp và cấp dưới; nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng hoặc
tình tiết mới là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm hoặc kháng nghị tái thẩm thì
báo cáo ngay bằng văn bản với Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương để
xem xét, giải quyết; trường hợp Viện kiểm sát quân sự trung ương phát hiện thì
báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua Vụ 7) xem xét, giải quyết.
5.
Vụ 7 kiểm
sát bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự trung ương; kiểm sát
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án
quân sự cấp quân khu, khu vực khi thấy cần thiết.
6.
Viện kiểm
sát đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm gửi văn bản đề nghị đến Viện
kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị, kèm theo các tài liệu có liên quan.
1.
Khi phát
hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án đang quản
lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để xem xét việc kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 376 và
Điều 403 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Thẩm quyền
yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ để xem xét giải quyết đơn
đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện theo quy định tại Điều 376, Điều 403
của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao.
3.
Xử lý việc
Viện kiểm sát không nhận được hồ sơ vụ án theo yêu cầu:
a)
Trường hợp
Tòa án được yêu cầu chuyển hồ sơ có văn bản trả lời hồ sơ vụ án đã chuyển cho
Tòa án có thẩm quyền để xem xét kháng nghị thì Viện kiểm sát yêu cầu chuyển hồ
sơ phải theo dõi kết quả giải quyết của Tòa án. Trường hợp Tòa án không kháng
nghị và xét thấy có căn cứ kháng nghị, phải rút hồ sơ để giải quyết thì Viện
kiểm sát tiếp tục có văn bản yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để xem xét việc
kháng nghị và giải quyết đơn;
b)
Trường hợp
Tòa án được yêu cầu chuyển hồ sơ nhưng không chuyển trong thời hạn quy định tại
khoản 1 Điều 376 của Bộ luật Tố tụng hình sự và không nêu lý do, thì Viện kiểm
sát đã yêu cầu chuyển hồ sơ đôn đốc và tiếp tục yêu cầu, nếu không nhận được hồ
sơ thì ban hành văn bản kiến nghị với Chánh án Tòa án được yêu cầu. Trường hợp
đã kiến nghị nhưng vẫn không nhận được hồ sơ thì ban hành văn bản kiến nghị với
Tòa án nhân dân tối cao;
c)
Trường hợp
không nhận được hồ sơ vụ án và xét thấy cần thiết thì Viện kiểm sát có thẩm
quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm yêu cầu Viện kiểm sát cùng cấp
với Tòa án đã được yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ kiểm sát hoặc hồ sơ
kiểm sát số hóa (nếu có) để xem xét việc kháng nghị.
1.
Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm có quyền xem xét, quyết định việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài
liệu, đồ vật theo thẩm quyền. Trường hợp xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu,
đồ vật để kháng nghị tái thẩm thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có
thẩm quyền phải ra quyết định.
Khi
xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật thì Viện kiểm sát có thể yêu cầu
Viện kiểm sát khác phối hợp, hỗ trợ. Viện kiểm sát được yêu cầu phải có trách
nhiệm phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát có yêu cầu.
2.
Việc xác
minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật để bảo đảm việc kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm được thực hiện tương tự quy định khoản 6 Điều 30
của Quy chế này; tập trung làm rõ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
quy định tại các điều 371, 398 và 399 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.
Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên được lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phân công có trách
nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm.
Thời
hạn, trình tự, thủ tục và việc báo cáo kết quả nghiên cứu thực hiện theo quy
định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về quy trình giải quyết đơn
đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
Kiểm
sát viên nghiên cứu kỹ đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, các nguồn thông tin
khác, các chứng cứ, tài liệu, đồ vật sau khi xác minh, thu thập được, nội dung
bản án, quyết định; xây dựng báo cáo kết quả nghiên cứu, giải quyết đơn theo
quy định và đề xuất như sau:
-
Trường
hợp có đủ căn cứ, điều kiện kháng nghị thì đề xuất kháng nghị. Khi thấy cần
thiết tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì
Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện quyết định;
-
Trường hợp
không có đủ căn cứ, điều kiện kháng nghị thì đề xuất ra văn bản thông báo cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân đã có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, nêu rõ lý
do của việc không kháng nghị;
-
Trường hợp
bản án, quyết định có vi phạm ít nghiêm trọng thì đề xuất lãnh đạo Viện ban
hành văn bản kiến nghị khắc phục vi phạm.
2.
Đối với bản án, quyết định do Chánh án Tòa án kháng nghị, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên phải nghiên cứu kỹ quyết định kháng nghị của Chánh án, bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm nhất
trí toàn bộ, một phần hoặc không nhất trí với kháng nghị.
3.
Việc
nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm được thực
hiện tương tự theo quy định tại khoản 11 Điều 12 và khoản 2 Điều
30 của Quy chế này.
1.
Sau khi
nghiên cứu đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và hồ sơ vụ án nếu thấy không có
căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Kiểm sát viên báo
cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về việc không có căn cứ kháng nghị.
2.
Tại Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, việc xem xét, ban hành thông báo không kháng nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
3.
Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương; Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh xem xét, ban hành thông báo không kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những vụ án thuộc thẩm quyền.
Trường
hợp Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đã có văn
bản thông báo không kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà người bị kết án, cơ
quan, tổ chức, cá nhân vẫn tiếp tục có đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết
định, thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể xem xét, giải quyết theo quy
định.
4.
Văn bản
thông báo không kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nêu rõ lý do không kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
5.
Trường hợp
có khiếu nại, tố cáo về việc thông báo không kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
của Viện kiểm sát thì giải quyết theo quy định của ngành Kiểm sát nhân dân.
1.
Căn cứ,
thẩm quyền, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện theo
các điều 371, 373, 379 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 5 của Thông tư số
02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án
hình sự.
2.
Căn cứ, thẩm quyền, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được thực hiện
theo các điều 398, 400, 401 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 5 của Thông tư
số 02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ
án hình sự.
1.
Quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải nêu rõ lý do, căn cứ, quan điểm giải
quyết vụ án và có đủ các nội dung theo quy định tại Điều 378 và Điều 403 của Bộ
luật Tố tụng hình sự; được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này.
2.
Việc gửi
quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều
380 và Điều 403 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đồng thời được gửi cho Viện kiểm
sát cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì phải gửi
quyết định kháng nghị đến Vụ 7.
3.
Việc tạm
đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 377
và Điều 403 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.
Việc thay
đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy
định tại Điều 381 và Điều 403 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Trước khi
bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu có chứng cứ, tài liệu,
đồ vật hoặc căn cứ khác dẫn đến phải thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị của Viện
kiểm sát thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để báo
cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định; nếu Hội đồng xét xử
không chấp nhận và vẫn tiến hành xét xử thì Kiểm sát viên tiếp tục tham gia
phiên tòa và thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Ngay sau khi kết
thúc phiên tòa, Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện.
3.
Trường hợp
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đưa vụ án ra xét xử tại
phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh
hoặc của Ủy ban thẩm phán Tòa án quân sự trung ương, nếu phát hiện chứng cứ,
tài liệu, đồ vật hoặc căn cứ khác dẫn đến phải thay đổi, bổ sung, rút kháng
nghị thì Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
xử lý như sau:
a)
Trước khi
mở phiên tòa, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương để báo cáo Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao là quyết định cuối cùng;
b)
Tại phiên
tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để báo cáo lãnh
đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền; nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận và vẫn
tiến hành xét xử thì Kiểm sát viên tiếp tục tham gia phiên tòa và thực hiện
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật nhưng sau phiên tòa phải báo cáo ngay Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
1.
Kiểm sát
viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái
thẩm của Tòa án cùng cấp, cụ thể như sau:
a)
Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao;
b)
Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp của Viện kiểm sát
quân sự trung ương thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giám
đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương;
c)
Kiểm sát
viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm của
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
2.
Khi được
phân công thực hành quyền công tố tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm, Kiểm
sát viên thực hiện các hoạt động theo quy định tại các điều 266, 386, 403 của
Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 15, Điều 20 của Quy chế này.
Trường
hợp Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị, Kiểm sát viên phải trình bày nội dung
kháng nghị, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án,
tranh luận về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án với người tham
gia tố tụng (nếu có).
Trường
hợp Chánh án Tòa án kháng nghị giám đốc thẩm, Kiểm sát viên phải nêu rõ lý do
nhất trí, không nhất trí với một phần hoặc toàn bộ kháng nghị; phát biểu ý kiến
về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị của Chánh án Tòa án.
3.
Kiểm sát
viên được phân công giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm phải
tập trung kiểm sát các nội dung sau: thời hạn xét xử; việc triệu tập người bị
kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng
nghị (nếu có); thành phần Hội đồng xét xử; thủ tục xét hỏi những người được Tòa
án triệu tập đến phiên tòa (nếu có); việc Hội đồng xét xử biểu quyết và áp
dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với bị
cáo; việc tạm đình chỉ thi hành án và các hoạt động khác của Tòa án.
Điều 56. Hoạt động của Kiểm sát viên sau phiên tòa
1.
Sau phiên
tòa, Kiểm sát viên báo cáo kết quả xét xử với Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
mình; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự trung ương gửi báo
cáo kết quả xét xử đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua Vụ 7); đồng thời
thông báo kết quả xét xử cho Viện kiểm sát đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
2.
Trường hợp
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án để điều tra lại thì Kiểm sát
viên phải kiểm sát việc Tòa án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra
lại theo Điều 396 và Điều 403 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngay sau khi nhận
được hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát đã thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm phải chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát
đã thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để chuyển cho Cơ quan điều tra
giải quyết theo thẩm quyền.
Đối
với những vụ án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao huỷ để điều tra lại thì Vụ 7 chuyển hồ sơ vụ án đến đơn vị
Công tố, Kiểm sát điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đến Viện
kiểm sát quân sự trung ương để chuyển cho Cơ quan điều tra cấp trung ương giải
quyết.
Điều 57. Kiểm sát quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
1.
Kiểm sát
viên phải kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định, nội dung, hình thức của quyết
định và thời hạn gửi quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại các điều
394, 395 và 403 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.
Trường hợp
phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết mới thì xử lý
như sau:
a)
Đối với
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án quân sự trung ương, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
b)
Đối với
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kiến nghị
theo thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao theo quy định tại Chương XXVII của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.
Nếu phát
hiện vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát
xem xét kiến nghị với Tòa án.
4.
Viện kiểm
sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh phải sao, gửi quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm đến Vụ 7.
THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG THỦ TỤC XEM XÉT LẠI
QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1.
Thông qua
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Đơn của
người bị kết án; thông báo, kiến nghị, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3.
Thông qua
kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
4.
Thông qua
các nguồn thông tin khác.
1.
Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án báo
cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét việc kiến nghị với Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Trường hợp
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc kiến nghị thì Kiểm
sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao dự thảo văn bản kiến nghị trình Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký ban hành và gửi đến Tòa án nhân dân
tối cao.
1.
Trường hợp
cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét việc kiến nghị xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Viện kiểm sát nhân dân
tối cao gửi văn bản yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án cho
Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao kiến nghị thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển kiến nghị cùng với
hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời thông báo cho Tòa án đã
chuyển hồ sơ biết. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không
kiến nghị thì trả hồ sơ vụ án cho Tòa án đã chuyển hồ sơ.
2.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công Kiểm sát viên nghiên cứu yêu
cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp
của Quốc hội hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nghiên cứu hồ
sơ vụ án, lập hồ sơ kiểm sát để giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
tham gia phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và phiên họp xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3.
Việc yêu
cầu chuyển hồ sơ vụ án, nghiên cứu hồ sơ vụ án, lập hồ sơ kiểm sát thực hiện
theo quy định của Quy chế này và quy định về lập hồ sơ kiểm sát án hình sự của
ngành Kiểm sát nhân dân.
1.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao được Viện trưởng ủy quyền tham gia phiên họp để xem xét kiến nghị,
đề nghị.
2.
Trường hợp
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị thì Viện trưởng hoặc Phó
Viện trưởng trình bày nội dung kiến nghị, căn cứ của việc kiến nghị, phân tích,
đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án, chứng cứ bổ sung (nếu có) để làm rõ
vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hoặc tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3.
Trường hợp
xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội hoặc đề nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kiến
nghị, đề nghị; nêu rõ quan điểm và lý do của việc nhất trí hoặc không nhất trí
với kiến nghị, đề nghị đó theo quy định tại Điều 407 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao được Viện trưởng ủy quyền tham gia phiên họp xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tại phiên họp, Viện trưởng hoặc
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định tại Điều 411 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
Sau
khi kết thúc phiên họp, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền tham gia phiên họp phải báo
cáo Viện trưởng về kết quả phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
QUẢN
LÝ, KIỂM TRA VÀ BÁO CÁO
1.
Quan hệ giữa Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; quan hệ giữa Viện trưởng, Phó
Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên của Viện kiểm sát mỗi cấp thực hiện
theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự
và quy định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường
hợp vụ án có nhiều Kiểm sát viên tham gia giải quyết thì Kiểm sát viên ở ngạch
thấp hơn phải tuân theo sự phân công, chỉ đạo của Kiểm sát viên ở ngạch cao
hơn.
Trường
hợp vụ án có nhiều Kiểm sát viên cùng ngạch tham gia giải quyết thì Viện trưởng
quyết định phân công một Kiểm sát viên chịu trách nhiệm chính.
2.
Thẩm quyền
ký, ký thay, ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền văn bản tố tụng, văn bản hành chính
- tư pháp trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự
được thực hiện theo Phụ lục ban hành kèm theo Quy chế này và các quy định khác
của Ngành.
3.
Việc phân
công, tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ trong từng đơn
vị, từng cấp Viện kiểm sát được thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của
đơn vị, Viện kiểm sát các cấp.
1.
Báo cáo
thỉnh thị và trả lời thỉnh thị trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử hình sự thực hiện theo quy định về công tác hướng dẫn, giải đáp vướng
mắc về pháp luật, nghiệp vụ; báo cáo thỉnh thị, trả lời thỉnh thị trong ngành
Kiểm sát nhân dân.
2.
Việc thỉnh
thị, trả lời thỉnh thị trong một số trường hợp cụ thể được thực hiện như sau:
a)
Những vụ
án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra, truy tố, phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố,
kiểm sát xét xử sơ thẩm thì báo cáo thỉnh thị đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm
sát cấp trên đã thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy
tố;
b)
Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh báo cáo thỉnh thị Vụ 7 về thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; báo cáo thỉnh thị Viện Phúc thẩm về thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, trừ trường hợp quy định
tại điểm a khoản này;
c)
Những vụ
án do cấp phúc thẩm hủy để điều tra lại thì đơn vị Công tố, Kiểm sát điều tra
trên một cấp của cấp sơ thẩm sẽ hướng dẫn trả lời thỉnh thị. Trường hợp những
vụ án do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Cơ quan điều tra
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng điều tra lại nếu có vướng mắc thì báo cáo Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
1.
Vụ 7 hướng
dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử hình sự trong toàn Ngành.
2.
Viện Phúc
thẩm hướng dẫn nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm các vụ án cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ.
3.
Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự đối với các đơn vị, Viện kiểm sát nhân
dân khu vực trực thuộc.
4.
Viện kiểm
sát quân sự trung ương tổ chức kiểm tra, hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp
vụ công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểm sát
quân sự các cấp.
5.
Viện kiểm
sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp tự kiểm tra, tổ chức hướng dẫn, tập
huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
hình sự cho công chức trong đơn vị.
6.
Chế độ kiểm
tra, hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ được thực hiện theo quy định của
Ngành.
Vụ
7 có trách nhiệm phối hợp với Cục Thống kê tội phạm và chuyển đổi số (Cục 2)
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện việc quản lý, hướng dẫn công tác thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự trên nền tảng Quản lý án hình
sự.
Viện
kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp có trách nhiệm bảo đảm cập
nhật đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu, lệnh, quyết định, văn bản tố
tụng khác, các báo cáo đề xuất, chỉ đạo trên nền tảng Quản lý án hình sự trong
thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Ngành.
1.
Công tác
thông tin, báo cáo trong thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự thực
hiện theo Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành
Kiểm sát nhân dân và chế độ báo cáo thống kê thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp và thống kê vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
2.
Đối với
thông báo rút kinh nghiệm, báo cáo về án Tòa án tuyên không phạm tội, án trọng điểm,
phức tạp, các tài liệu kiểm tra, hướng dẫn cấp dưới, kiến nghị vi phạm và những
báo cáo khác theo yêu cầu của Ngành phải gửi cho Viện kiểm sát cấp trên.
Việc
lập, sử dụng, quản lý, lưu trữ và bảo vệ bí mật hồ sơ vụ án hình sự thực hiện
theo quy định của pháp luật và quy định của Ngành.
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
1.
Quy chế
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
2.
Các quy
định trước đây của ngành Kiểm sát nhân dân trái với Quy chế này được bãi bỏ.
Trưởng hợp có quy định mới hoặc các văn bản quy định, hướng dẫn được dẫn chiếu
tại Quy chế này được sửa đổi, bổ sung bằng văn bản khác có liên quan thì áp
dụng theo quy định mới của pháp luật, quy định, hướng dẫn của Ngành.
1.
Thủ trưởng
đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực
hiện Quy chế này.
2.
Giao cho
Vụ Công tố và Kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7) chủ trì, phối hợp với Văn phòng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các đơn vị có liên quan theo dõi, đôn đốc,
hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế này.
3.
Trong quá
trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần sửa
đổi, bổ sung thì kịp thời báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua Vụ 7) để
tổng hợp, báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết
định./.
PHỤ LỤC I
HỆ THỐNG BIỂU MẪU KÈM
THEO QUY CHẾ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 09/QĐ-VKSTC ngày 05/5/2026 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao)
Mẫu
số 01:
Danh sách yêu cầu triệu tập người tham gia tố tụng đến phiên tòa.
Mẫu
số 02:
Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
Mẫu
số 03:
Quyết định thay đổi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ
thẩm (hoặc phúc thẩm/giám đốc thẩm/tái thẩm) vụ án hình sự.
Mẫu
số 04:
Quyết định rút quyết định truy tố,
Mẫu
số 05:
Quyết định hủy quyết định rút quyết định truy tố.
Mẫu
số 06:
Quyết định huỷ việc rút quyết định truy tố theo kiến nghị của Tòa án.
Mẫu
số 07:
Công văn về việc yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ,
Mẫu
số 08:
Công văn về việc đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Mẫu
số 09: Báo cáo kết quả nghiên cứu vụ án (giai đoạn xét xử sơ thẩm).
Mẫu
số 10:
Đề cương xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa vụ án hình sự.
Mẫu
số 11:
Bản luận tội.
Mẫu
số 12:
Đề cương tranh luận của kiểm sát viên tại phiên tòa vụ án hình sự.
Mẫu
số 13:
Tóm tắt diễn biến phiên tòa.
Mẫu
số 14: Báo cáo kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Mẫu
số 15: Phiếu kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.
Mẫu
số 16:
Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên họp xét kháng cáo quá hạn.
Mẫu
số 17:
Quyết định thay đổi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên họp xét kháng cáo quá hạn.
Mẫu
số 18:
Kế hoạch xác minh.
Mẫu
19: Quyết
định kháng nghị phúc thẩm.
Mẫu số 20: Quyết định phân công
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Mẫu số 21: Quyết định rút Quyết
định kháng nghị phúc thẩm.
Mẫu số 22: Quyết định thay đổi,
bổ sung Quyết định kháng nghị phúc thẩm.
Mẫu số 23: Báo cáo kết quả nghiên
cứu vụ án (giai đoạn xét xử phúc thẩm).
Mẫu số 24: Phát biểu của Kiểm sát
viên tại phiên tòa phúc thẩm hình sự.
Mẫu số 25: Báo cáo/Thông báo kết
quả thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm.
Mẫu số 26: Hướng dẫn kiểm sát điều
tra lại vụ án (trường hợp án bị cấp phúc thẩm/giám đốc thẩm/ tái thẩm hủy điều
tra lại).
Mẫu số 27: Báo cáo đề nghị kháng
nghị giám đốc thẩm/tái thẩm
Mẫu số 28: Yêu cầu chuyển hồ sơ
vụ án hình sự.
Mẫu số 29: Quyết định Phân công
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm/tái thẩm
vụ án hình sự.
Mẫu số 30: Báo cáo kết quả nghiên
cứu vụ án (giai đoạn xét xử giám đốc thẩm/tái thẩm).
Mẫu số 31: Phát biểu của Kiểm sát
viên tại phiên toà giám đốc thẩm/tái thẩm vụ án hình sự.
Mẫu số 32: Thông báo rút kinh
nghiệm.
Mẫu số 33: Quyết định xác minh
tình tiết mới theo thủ tục tái thẩm.
Mẫu số 34: Yêu cầu Cơ quan điều
tra xác minh tình tiết mới theo thủ tục tái thẩm.
Mẫu số 35: Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm.
Mẫu số 36: Quyết định kháng nghị
tái thẩm.
Mẫu số 37: Quyết định Tạm đình
chỉ thi hành Bản án (hoặc Quyết định) hình
sự bị kháng nghị giám
đốc thẩm/tái thẩm.
Mẫu số 38: Thông báo giải quyết
đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm/tái thẩm. Mẫu số 39: Quyết định rút
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm/tái thẩm.
Mẫu số 40: Quyết định Thay đổi,
bổ sung Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm/tái thẩm.
Mẫu số 41: Báo cáo/Thông báo kết
quả thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm/tái thẩm.
Mẫu số 42: Kiến nghị yêu cầu khắc
phục vi phạm pháp luật.
Mẫu số 43: Kiến nghị xem xét lại
Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân nhân tối cao.
Mẫu số 44: Quyết định không kháng
nghị.
Mẫu số 45: Tờ trình Chủ tịch nước
về xét đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.
Mẫu số 46: Báo cáo Chủ tịch nước
trường hợp người bị kết án tử hình không có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình
hoặc xin thi hành án tử hình sớm.
PHỤ
LỤC
VỀ
THẨM QUYỀN KÝ, KÝ THAY, KÝ THỪA LỆNH, KÝ THỪA ỦY QUYỀN VĂN BẢN TỐ TỤNG, VĂN BẢN
HÀNH CHÍNH - TƯ PHÁP TRONG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ
ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 09/QĐ-VKSTC ngày 05/5/2026 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
1. Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn bản
hành chính - tư pháp và văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án
hình sự tại Phụ lục A.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ủy quyền cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao ký thay (KT.) đối với văn bản thuộc thẩm quyền ký của Viện trưởng trong công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Phụ lục A.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao ủy quyền cho Thủ trưởng đơn vị nghiệp vụ thuộc Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký thừa lệnh
(TL.), ký thừa ủy quyền (TUQ.) các văn bản tại Phụ lục B.
Thủ trưởng đơn vị
nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho cấp phó của
mình ký thay (KT.) các văn bản quy định tại tại Phụ lục B. Người được ủy quyền ký thay
Thủ trưởng đơn vị phải báo cáo Thủ trưởng đơn vị và phải chịu trách nhiệm trước
Thủ trưởng đơn vị và trước pháp luật về tính có căn cứ và hợp pháp của văn bản
mà mình đã ký.
2. Viện trưởng Viện
Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm
quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn bản hành chính - tư pháp thuộc thẩm
quyền theo lãnh thổ trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án
hình sự tại Phụ lục E.
Viện trưởng Viện Công
tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền cho Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình ký thay (KT.) đối với văn bản thuộc thẩm
quyền ký của Viện trưởng trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án
hình sự tại Phụ lục E.
Viện trưởng Viện Công
tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công cho
Kiểm sát viên cao cấp ký thừa lệnh (TL.), ký thừa ủy quyền (TUQ.) các văn bản
thuộc tại Phụ lục G.
3. Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn bản
hành chính - tư pháp và văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án
hình sự tại Phụ lục C.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh ký thay (KT.) đối với văn bản thuộc thẩm quyền ký của Viện trưởng trong công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Phụ lục C.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Trưởng phòng nghiệp vụ, Kiểm sát viên trung
cấp ký thừa lệnh (TL.), ký thừa ủy quyền (TUQ.) các văn bản tại Phụ lục D.
4. Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn bản
hành chính - tư pháp thuộc thẩm quyền ban hành của Viện kiểm sát cấp mình trong
công tác
thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Phụ lục H.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân khu vực ủy quyền cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình ký
thay (KT.) đối với văn bản thuộc thẩm quyền ký của Viện trưởng trong công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự tại Phụ lục H.
Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân khu vực phân công cho Kiểm sát viên ký thừa lệnh (TL.), ký thừa ủy
quyền (TUQ.) các văn bản thuộc tại Phụ lục I.
5. Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự trung ương có thẩm quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn
bản hành chính - tư pháp và văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Viện
kiểm sát quân sự trong công
tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử án hình sự tại Phụ lục C.
Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu có thẩm quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn bản
hành chính, tư pháp và văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Viện kiểm sát
quân sự trong công
tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử án hình sự tại Phụ lục E.
Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự khu vực có thẩm quyền ký tất cả các văn bản tố tụng, văn bản hành
chính – tư pháp và văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Viện kiểm sát
quân sự trong công
tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử án hình sự tại Phụ lục H.
Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự các cấp ủy quyền cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình ký thay
(KT.) đối với văn bản thuộc thẩm quyền ký của Viện trưởng trong công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử án hình sự tại các Phụ lục C, Phụ lục E, Phụ lục
H.
Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự trung ương phân công cho Kiểm sát viên cao cấp ký thừa lệnh (TL.),
ký thừa ủy quyền (TUQ.) các văn bản thuộc Phụ lục D.
Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu phân công cho Kiểm sát viên trung cấp ký thừa lệnh
(TL.), ký thừa ủy quyền (TUQ.) các văn bản thuộc Phụ lục G.
Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự khu vực phân công cho Kiểm sát viên ký thừa lệnh (TL.), ký thừa ủy
quyền (TUQ.) các văn bản thuộc Phụ lục I.
Phụ
lục A
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 02
|
Quyết định phân công KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
|
|
02
|
Mẫu số 03
|
Quyết định thay đổi KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm (hoặc phúc thẩm/giám đốc thẩm/tái thẩm) án hình
sự
|
|
03
|
Mẫu số 04
|
Quyết định Rút Quyết định truy tố
|
|
04
|
Mẫu số 05
|
Quyết định Huỷ Quyết định rút quyết định truy
tố
|
|
05
|
Mẫu số 06
|
Quyết định Huỷ Quyết định rút Quyết định truy
tố theo kiến nghị của Tòa án
|
|
06
|
Mẫu số 08
|
Công văn đề nghị Tòa án trả hồ sơ để điều tra
bổ sung
|
|
07
|
Mẫu số 18
|
Kế hoạch xác minh
|
|
08
|
Mẫu số 19
|
Quyết định kháng nghị phúc thẩm
|
|
09
|
Mẫu số 20
|
Quyết định phân công KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
|
|
10
|
Mẫu số 21
|
Quyết định Rút Quyết định kháng nghị phúc
thẩm
|
|
11
|
Mẫu số 22
|
Quyết định thay đổi, bổ sung Quyết định
kháng nghị phúc thẩm
|
|
12
|
Mẫu số 28
|
Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án hình sự
|
|
13
|
Mẫu số 29
|
Quyết định phân công KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm) vụ án hình sự
|
|
14
|
Mẫu số 33
|
Quyết định xác minh tình tiết mới theo thủ
tục tái thẩm
|
|
15
|
Mẫu số 34
|
Yêu cầu cơ quan điều tra xác minh tình tiết
mới theo thủ tục tái thẩm
|
|
16
|
Mẫu số 35
|
Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm
|
|
17
|
Mẫu số 36
|
Quyết định Kháng nghị tái thẩm
|
|
18
|
Mẫu số 37
|
Quyết định tạm đình chỉ thi hành Bản án (hoặc
Quyết định) hình sự bị kháng nghị giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm)
|
|
19
|
Mẫu số 38
|
Thông báo giải quyết đơn đề nghị kháng nghị
giám đốc thẩm/tái thẩm
|
|
20
|
Mẫu số 39
|
Quyết định rút Quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm (hoặc tái thẩm)
|
|
21
|
Mẫu số 40
|
Quyết định thay đổi, bổ sung Quyết định kháng
nghị giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm)
|
|
22
|
Mẫu số 42
|
Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình
xét xử vụ án hình sự.
|
|
23
|
Mẫu số 43
|
Kiến nghị xem xét lại Quyết định Giám đốc
thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
|
|
24
|
Mẫu số 44
|
Quyết định không kháng nghị (đối với hồ sơ
thẩm định án tử hình)
|
|
25
|
Mẫu số 45
|
Tờ trình Về đơn xin ân giảm hình phạt tử hình
|
|
26
|
Mẫu số 46
|
Báo cáo Chủ tịch nước trường hợp người bị kết
án tử hình không có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình hoặc xin thi hành án tử
hình sớm
|
Phụ
lục B
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên Mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
02
|
Mẫu số 09
|
Báo cáo kết quả nghiên cứu vụ án (giai đoạn
xét xử sơ thẩm)
|
|
03
|
Mẫu số 13
|
Tóm tắt diễn biến phiên tòa
|
|
04
|
Mẫu số 18
|
Kế hoạch xác minh
|
|
05
|
Mẫu số 28
|
Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án hình sự
|
|
06
|
Mẫu số 31
|
Phát biểu của KSV tại phiên tòa giám đốc
thẩm/tái thẩm vụ án hình sự
|
|
07
|
Mẫu số 34
|
Yêu cầu xác minh tình tiết mới theo thủ tục
tái thẩm
|
|
08
|
Mẫu số 38
|
Thông báo giải quyết đơn đề nghị kháng nghị
giám đốc thẩm/ tái thẩm
|
|
09
|
Mẫu số 41
|
Thông báo kết quả thực hành quyền công tố,
kiểm sát xét xử giám đốc thẩm/tái thẩm
|
|
10
|
Mẫu số 42
|
Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình
xét xử vụ án hình sự
|
|
11
|
|
Báo cáo tiến độ và kết quả giải quyết đơn do
Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan trung ương chuyển
đến
|
|
12
|
|
Văn bản trả lời thỉnh thị, đề nghị của Viện
kiểm sát cấp dưới
|
|
13
|
|
Văn bản trao đổi nghiệp vụ
|
|
14
|
|
Văn bản yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới báo
cáo về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự
|
Phụ
lục C
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 02
|
Quyết định phân công KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
|
|
02
|
Mẫu số 03
|
Quyết định thay đổi KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm (hoặc phúc thẩm/giám đốc thẩm/tái thẩm) án hình
sự
|
|
03
|
Mẫu số 04
|
Quyết định rút Quyết định truy tố
|
|
04
|
Mẫu số 05
|
Quyết định huỷ Quyết định rút quyết định truy
tố
|
|
05
|
Mẫu số 06
|
Quyết định huỷ Quyết định rút Quyết định truy
tố theo kiến nghị của Tòa án
|
|
06
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
07
|
Mẫu số 08
|
Công văn đề nghị Tòa án trả hồ sơ để điều tra
bổ sung
|
|
08
|
Mẫu số 18
|
Kế hoạch xác minh
|
|
09
|
Mẫu số 19
|
Quyết định kháng nghị phúc thẩm
|
|
10
|
Mẫu số 20
|
Quyết định phân công KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
|
|
12
|
Mẫu số 21
|
Quyết định rút Quyết định kháng nghị phúc
thẩm
|
|
13
|
Mẫu số 22
|
Quyết định thay đổi, bổ sung quyết định kháng
nghị phúc thẩm
|
|
14
|
Mẫu số 27
|
Báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm/tái
thẩm
|
|
15
|
Mẫu số 28
|
Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án hình sự
|
|
16
|
Mẫu số 29
|
Quyết định phân công KSV thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm) vụ án hình sự
|
|
17
|
Mẫu số 33
|
Quyết định xác minh tình tiết mới theo thủ
tục tái thẩm
|
|
18
|
Mẫu số 34
|
Yêu cầu cơ quan điều tra xác minh tình tiết
mới theo thủ tục tái thẩm
|
|
19
|
Mẫu số 35
|
Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm
|
|
20
|
Mẫu số 36
|
Quyết định Kháng nghị tái thẩm
|
|
21
|
Mẫu số 37
|
Quyết định tạm đình chỉ thi hành Bản án (hoặc
Quyết định) hình sự bị kháng nghị giám đốc thẩm (hoặc tái thẩm)
|
|
22
|
Mẫu số 38
|
Thông báo giải quyết đơn đề nghị kháng nghị
giám đốc thẩm/tái thẩm
|
|
23
|
Mẫu số 39
|
Quyết định rút Quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm/tái thẩm
|
|
24
|
Mẫu số 40
|
Quyết định thay đổi, bổ sung Quyết định kháng
nghị giám đốc thẩm/tái thẩm
|
|
26
|
Mẫu số 42
|
Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình
xét xử vụ án hình sự
|
|
27
|
|
Văn bản trao đổi nghiệp vụ
|
|
28
|
|
Báo cáo tiến độ và kết quả giải quyết đơn do
Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ quan trung ương chuyển
đến
|
Phụ
lục D
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
02
|
Mẫu số 10
|
Đề cương xét hỏi
|
|
03
|
Mẫu số 12
|
Đề cương tranh luận
|
|
04
|
Mẫu số 13
|
Tóm tắt diễn biến phiên tòa
|
|
04
|
Mẫu số 23
|
Báo cáo kết quả nghiên cứu vụ án (giai đoạn
xét xử phúc thẩm)
|
|
07
|
Mẫu số 24
|
Phát biểu của KSV tại phiên tòa phúc thẩm
|
|
08
|
Mẫu số 25
|
Thông báo kết quả THQCT, KSXX phúc thẩm
|
|
09
|
Mẫu số 28
|
Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án hình sự
|
|
10
|
Mẫu số 31
|
Phát biểu của KSV tại phiên tòa giám đốc
thẩm/tái thẩm vụ án hình sự
|
|
11
|
Mẫu số 38
|
Thông báo giải quyết đơn đề nghị kháng nghị
giám đốc thẩm/ tái thẩm
|
|
12
|
Mẫu số 41
|
Thông báo kết quả thực hành quyền công tố,
kiểm sát xét xử giám đốc thẩm/tái thẩm
|
|
13
|
|
Yêu cầu triệu tập người làm chứng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa
|
|
14
|
|
Yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án, người bào chữa, người phiên dịch, dịch thuật
|
Phụ
lục E
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 03
|
Quyết định thay đổi
KSV thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
|
|
02
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung
cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
03
|
Mẫu số 18
|
Kế hoạch xác minh
|
|
04
|
Mẫu số 19
|
Quyết định kháng nghị
phúc thẩm
|
|
05
|
Mẫu số 20
|
Quyết định phân công
KSV thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
|
|
06
|
Mẫu số 21
|
Quyết định rút Quyết
định kháng nghị phúc thẩm
|
|
07
|
Mẫu số 22
|
Quyết định thay đổi,
bổ sung quyết định kháng nghị phúc thẩm
|
|
08
|
Mẫu số 27
|
Báo cáo đề nghị kháng
nghị giám đốc thẩm/tái thẩm
|
|
10
|
Mẫu số 28
|
Yêu cầu chuyển hồ sơ
vụ án hình sự
|
|
11
|
|
Văn bản trao đổi
nghiệp vụ
|
|
12
|
|
Báo cáo tiến độ và
kết quả giải quyết đơn do Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và các cơ
quan trung ương chuyển đến
|
Phụ
lục G
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
02
|
Mẫu số 09
|
Báo cáo kết quả nghiên cứu vụ án
|
|
03
|
Mẫu số 12
|
Đề cương xét hỏi
|
|
04
|
Mẫu số 13
|
Tóm tắt diễn biến phiên tòa
|
|
05
|
Mẫu số 24
|
Phát biểu của KSV tại phiên tòa phúc thẩm
|
|
06
|
Mẫu số 25
|
Thông báo kết quả THQCT, KSXX phúc thẩm
|
|
07
|
Mẫu số 28
|
Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án hình sự
|
|
08
|
|
Yêu cầu triệu tập người làm chứng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa
|
|
09
|
|
Yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án, người bào chữa, người phiên dịch, dịch thuật
|
Phụ
lục H
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 02
|
Quyết định phân công
KSV thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
|
|
02
|
Mẫu số 03
|
Quyết định thay đổi
KSV thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự
|
|
03
|
Mẫu số 04
|
Quyết định rút Quyết
định truy tố
|
|
04
|
Mẫu số 05
|
Quyết định huỷ Quyết
định rút quyết định truy tố
|
|
05
|
Mẫu số 06
|
Quyết định huỷ Quyết
định rút Quyết định truy tố theo kiến nghị của Tòa án
|
|
06
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung
cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
07
|
Mẫu số 08
|
Công văn đề nghị Tòa
án trả hồ sơ để điều tra bổ sung
|
|
08
|
Mẫu số 19
|
Quyết định kháng nghị
phúc thẩm
|
|
09
|
Mẫu số 21
|
Quyết định rút Quyết
định kháng nghị phúc thẩm
|
|
10
|
Mẫu số 22
|
Quyết định thay đổi,
bổ sung quyết định kháng nghị phúc thẩm
|
|
11
|
Mẫu số 42
|
Kiến nghị, yêu cầu
Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện đúng quy định của
pháp luật trong quá trình xét xử vụ án hình sự
|
|
12
|
|
Văn bản trao đổi
nghiệp vụ
|
Phụ
lục I
|
Số TT
|
Mẫu
|
Tên mẫu
|
|
01
|
Mẫu số 07
|
Văn bản yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ
|
|
|
Mẫu số 09
|
Báo cáo kết quả nghiên cứu vụ án (giai đoạn
xét xử sơ thẩm)
|
|
02
|
Mẫu số 10
|
Đề cương xét hỏi
|
|
03
|
Mẫu số 11
|
Bản luận tội
|
|
04
|
Mẫu số 12
|
Đề cương tranh luận
|
|
05
|
Mẫu số 13
|
Tóm tắt diễn biến phiên tòa
|
|
06
|
Mẫu số 14
|
Báo cáo kết quả THQCT, KSXX sơ thẩm
|
|
07
|
|
Yêu cầu triệu tập người làm chứng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa
|
|
08
|
|
Yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án, người bào chữa, người phiên dịch, dịch thuật
|