|
HỘI
ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 01/2026/NQ-HĐTP
|
Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN THỦ TỤC TỐ TỤNG, THỦ
TỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP TRÊN MÔI TRƯỜNG SỐ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15,
Luật số 142/2025/QH15, Luật số 150/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc
tế số 150/2025/QH15;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 60/2024/QH15;
Căn cứ Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15,
Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
85/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 55/2019/QH14,
Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 85/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 45/2019/QH14,
Luật số 59/2020/QH14, Luật số 13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 46/2024/QH15 và Luật số 85/2025/QH15;
Căn cứ Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 85/2025/QH15;
Căn cứ Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 33/2021/QH15 về tổ chức phiên tòa trực tuyến;
Căn cứ Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục Tòa án
nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới
18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15;
Căn cứ Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 về xử phạt vi phạm hành chính đối
với hành vi cản trở hoạt động tố tụng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15;
Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét,
quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15;
Căn cứ Pháp lệnh số 05/2024/UBTVQH15 về chi phí tố tụng đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi có ý kiến của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ
tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị quyết này hướng dẫn
thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án (sau đây gọi
là thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp) trên môi trường số để giải quyết vụ án,
vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, bao gồm các thủ tục sau đây:
a) Nộp đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu, đơn kháng cáo, đơn đề nghị, kiến nghị, đơn khiếu nại, tố cáo (sau đây
gọi là đơn khởi kiện, yêu cầu);
b) Cung cấp, giao nộp tài
liệu, chứng cứ;
c) Cấp, tống đạt, thông
báo văn bản;
d) Nộp tạm ứng án phí, lệ
phí, chi phí tố tụng; án phí, lệ phí, chi phí tố tụng;
đ) Phiên họp, phiên tòa giải
quyết vụ án, vụ việc;
e) Cấp trích lục, bản sao
bản án, quyết định của Tòa án;
g) Giao, nhận hồ sơ, tài
liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng giữa các Tòa án;
h) Số hóa, lưu trữ hồ sơ,
tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng;
i) Thủ tục tố tụng, hành
chính tư pháp khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân
tối cao.
2. Nghị quyết này được áp
dụng để thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số, trừ
trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội có quy định khác.
3. Việc thực hiện thủ tục
giao, nhận hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng giữa Tòa án với Viện kiểm
sát, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan khác trên môi trường số được thực hiện
theo quy định của pháp luật có liên quan, trường hợp pháp luật có liên quan
không quy định thì áp dụng Nghị quyết này.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Nghị quyết này áp dụng đối
với các Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính
tư pháp trên môi trường số và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Điều
3. Về một số từ ngữ
Trong Nghị quyết này, những
từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Thực hiện thủ tục tố
tụng, hành chính tư pháp tại Tòa án trên môi trường số là việc Tòa án, cơ
quan, tổ chức, cá nhân tiến hành, thực hiện toàn bộ hoặc một số thủ tục tố tụng,
hành chính tư pháp bằng phương tiện điện tử thông qua Hệ thống dịch vụ công Tòa
án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc hệ thống khác theo quy định của pháp luật.
2. Hệ thống dịch vụ
công Tòa án là nền tảng thống nhất có chức năng tiếp nhận, giải quyết, theo
dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, thủ tục
hành chính tư pháp; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc
gia, hệ thống khác theo quy định của pháp luật để cung cấp và thực hiện các dịch
vụ công trực tuyến.
3. Tài liệu điện tử
là tài liệu được khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu.
4. Chứng cứ điện tử
là chứng cứ được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu được cơ quan, tổ chức,
cá nhân thu thập, bảo quản và giao nộp, xuất trình cho Tòa án theo trình tự, thủ
tục pháp luật quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết
khách quan của vụ án, vụ việc.
5. Hồ sơ điện tử là
tập hợp các thành phần hồ sơ vụ án, vụ việc được lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ
liệu có giá trị pháp lý như hồ sơ bằng văn bản giấy.
6. Tài khoản giao dịch
điện tử là danh tính điện tử của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức có
thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được xác thực điện tử để đăng nhập
vào Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống khác
theo quy định của pháp luật khi thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp
trên môi trường số và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
7. Bản sao điện tử
là bản chụp dưới dạng điện tử từ bản chính dạng văn bản giấy hoặc tập tin có nội
dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc, bản chính dạng văn bản giấy.
8. Cấp bản sao điện tử
từ sổ gốc là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để
cấp bản sao điện tử. Bản sao điện tử từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác
như nội dung ghi trong sổ gốc.
9. Chứng thực bản sao
điện tử từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản
chính dạng văn bản giấy để chứng thực bản sao bằng hình thức điện tử là đúng với
bản chính.
10. Số hóa kết quả, hồ
sơ giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp là việc chuyển đổi thông
tin, dữ liệu, tài liệu giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp từ dạng vật
lý hoặc tương tự sang dạng dữ liệu số.
11. Kho quản lý dữ liệu
điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân là không gian điện tử của cơ quan, tổ
chức, cá nhân tại Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc
hệ thống khác để hỗ trợ quản lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu điện tử liên quan đến
giao dịch điện tử với Tòa án của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
Điều
4. Nguyên tắc thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số
1. Phù hợp với quy định của
pháp luật tố tụng, pháp luật về chuyển đổi số, pháp luật về giao dịch điện tử,
Nghị quyết này và pháp luật có liên quan.
2. Thủ tục tố tụng, hành
chính tư pháp được thực hiện trên môi trường số có giá trị pháp lý như các
phương thức khác theo quy định của pháp luật.
3. Bảo đảm hợp pháp, hợp
lý, khoa học, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của tổ chức, cá nhân và cơ
quan có thẩm quyền; bảo đảm bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch, bảo mật,
an ninh mạng và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền.
4. Không yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân cung cấp lại những dữ liệu, tài liệu mà Tòa án đang quản lý hoặc
đã được cơ quan nhà nước khác sẵn sàng chia sẻ hoặc thông tin, dữ liệu đã được
xác thực qua các cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu ngành; chuẩn hóa, kết nối dữ
liệu giữa các Tòa án.
5. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền lựa chọn phương thức thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư
pháp, trường hợp không lựa chọn thì Tòa án xem xét, quyết định phương thức theo
quy định của pháp luật tố tụng, phương thức quy định tại Nghị quyết này.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân
đã lựa chọn thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số
không được thay đổi phương thức trong quá trình giải quyết vụ án, vụ việc, trừ
trường hợp có lý do chính đáng và được Tòa án chấp nhận.
6. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân chịu trách nhiệm về tính chính xác và tính hợp pháp của thông tin được kê
khai, việc giao nộp tài liệu, chứng cứ khi thực hiện thủ tục tố tụng, hành
chính tư pháp trên môi trường số; có trách nhiệm theo dõi, cập nhật, phản hồi
các thông tin liên quan với Tòa án và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Điều
5. Điều kiện tham gia thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số
Cơ quan, tổ chức, cá nhân
có yêu cầu, lựa chọn thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường
số phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
1. Có cam kết tuân thủ các
quy trình về thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số
do Tòa án nhân dân tối cao ban hành và hướng dẫn của Nghị quyết này.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có sử dụng chữ ký điện tử hoặc sử dụng hình thức xác nhận khác bằng phương
tiện điện tử theo phân loại, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ xác thực tương ứng
với loại giao dịch để thực hiện giao dịch điện tử theo quy định của pháp luật
và Quy chế thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số tại
Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Quy chế) do Tòa án nhân dân tối cao ban hành.
Điều
6. Sử dụng chữ ký điện tử trong thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp
trên môi trường số
1. Tòa án khi thực hiện
giao dịch điện tử với cơ quan, tổ chức, cá nhân phải sử dụng chữ ký số chuyên
dùng công vụ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp. Cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền trong cơ quan nhà nước khi thực hiện giao dịch điện tử với Tòa án phải
sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân khi thực hiện giao dịch điện tử với Tòa án có thể sử dụng chữ ký điện tử
chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số để thực hiện thủ tục tố tụng, hành
chính tư pháp trên môi trường số. Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc
chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.
3. Tòa án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm quản lý, sử dụng chữ ký điện tử theo quy định của Luật Giao dịch điện tử, Nghị quyết này và pháp
luật có liên quan.
Điều
7. Sử dụng hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử trong thực hiện
thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thể sử dụng một hoặc một số hình thức xác nhận bằng phương tiện điện tử
dưới đây để thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp:
a) Xác thực bằng mã khóa
bí mật sử dụng một lần thông qua tin nhắn điện thoại hoặc ứng dụng trên thiết bị
di động hoặc ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);
b) Xác thực thông qua thông
tin sinh trắc học;
c) Xác thực bằng thiết bị
lưu khóa bí mật đạt mức độ an toàn cao;
d) Hình thức khác theo quy
định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
2. Việc sử dụng hình thức
xác nhận quy định tại Điều này được thực hiện theo Quy chế.
Điều
8. Đăng ký, đăng nhập tài khoản giao dịch điện tử
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân thực hiện đăng ký tài khoản định danh điện tử trên Hệ thống dịch vụ công
Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc hình thức khác theo Quy chế.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân đăng nhập tài khoản định danh điện tử trên Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng
Dịch vụ công quốc gia hoặc hình thức khác theo Quy chế để đăng ký, thực hiện
giao dịch điện tử với Tòa án.
Điều
9. Yêu cầu tạm ngừng giao dịch điện tử
Cơ quan, tổ chức, cá nhân
đã đăng ký thực hiện giao dịch điện tử với Tòa án có thể yêu cầu tạm ngừng giao
dịch điện tử nếu có lý do chính đáng. Việc đăng ký ngừng giao dịch điện tử thực
hiện như sau:
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân trực tiếp đến trụ sở của Tòa án hoặc thực hiện trực tuyến để yêu cầu tạm
ngừng giao dịch điện tử. Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu tạm ngừng khi cơ quan, tổ
chức, cá nhân lựa chọn và thông báo cho Tòa án phương thức thực hiện thủ tục tố
tụng, hành chính tư pháp khác.
2. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án phải kiểm tra thông tin và gửi
thông báo kết quả đến tài khoản giao dịch điện tử của cơ quan, tổ chức, cá
nhân. Trường hợp không chấp nhận, Tòa án phải nêu rõ lý do. Việc thực hiện giao
dịch điện tử theo hướng dẫn tại Nghị quyết này sẽ tạm ngừng kể từ thời điểm cơ
quan, tổ chức, cá nhân nhận được thông báo chấp nhận của Tòa án.
3. Trường hợp tạm ngừng
giao dịch điện tử, Tòa án thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp theo
phương thức do cơ quan, tổ chức, cá nhân lựa chọn.
4. Trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân có yêu cầu tiếp tục giao dịch điện tử thì thực hiện theo hướng dẫn
tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết.
Điều
10. Thời điểm thực hiện giao dịch điện tử
1. Thời điểm cơ quan, tổ
chức, cá nhân gửi yêu cầu thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên
môi trường số theo hướng dẫn tại các điểm a, b, c, d, đ, e và i
khoản 1 Điều 1 Nghị quyết này là thời điểm thông điệp dữ liệu của cơ quan,
tổ chức, cá nhân rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của họ.
Trường hợp cơ quan, tổ chức,
cá nhân gửi yêu cầu thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp thông qua Hệ
thống dịch vụ công Tòa án thì thời điểm gửi thông điệp dữ liệu là thời điểm
thông điệp dữ liệu đó nhập vào Hệ thống dịch vụ công Tòa án.
2. Thời điểm cơ quan, tổ
chức, cá nhân nhận thông điệp dữ liệu do Tòa án gửi đến là thời điểm thông điệp
dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ định và có
thể truy cập được.
Trường hợp cơ quan, tổ chức,
cá nhân không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời
điểm nhận thông điệp dữ liệu do Tòa án gửi đến là thời điểm thông điệp dữ liệu
đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào hoặc tài khoản định danh điện tử của
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó và có thể truy cập được.
3. Thời điểm cơ quan, tổ
chức, cá nhân gửi, nhận thông điệp dữ liệu theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản
2 Điều này là ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, nhận văn bản, tài liệu, chứng
cứ hướng dẫn tại các điểm a, b, c, d, đ, e và i khoản 1 Điều 1
Nghị quyết này.
4. Sau khi gửi, nhận thông
điệp dữ liệu theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án in thông
báo xác nhận giao dịch điện tử thành công theo hướng dẫn tại Điều
16 Nghị quyết này để lưu hồ sơ vụ án, vụ việc.
5. Tòa án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân đã giao dịch điện tử thành công theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2
Điều này thì được coi là hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng, pháp luật
có liên quan.
Điều
11. Giá trị pháp lý của bản sao điện tử
1. Bản sao điện tử được cấp
từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
2. Bản sao điện tử được chứng
thực từ bản chính dạng văn bản giấy có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã
dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
3. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thể yêu cầu Tòa án cấp bản sao điện tử trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu cấp bản sao điện
tử từ sổ gốc;
b) Yêu cầu chứng thực bản
sao điện tử từ bản chính giấy tờ, tài liệu.
Điều
12. Quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục tố tụng trên môi trường số
1. Hệ thống dịch vụ công
Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, kiểm tra tự động về mặt kỹ thuật.
Trường hợp hồ sơ bảo đảm thành phần theo quy định và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thì
thực hiện phản hồi tự động xác nhận việc gửi đơn thành công và thông báo thời
điểm tiếp nhận đơn.
2. Sau khi kiểm tra hồ sơ,
nếu văn bản và hồ sơ điện tử đáp ứng điều kiện tiếp nhận theo quy định của pháp
luật tố tụng, Tòa án tiếp nhận vào sổ nhận đơn, cập nhật vào Hệ thống dịch vụ
công Tòa án và phân công Thẩm phán giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng.
3. Tòa án kiểm tra, xem
xét đơn và hồ sơ điện tử do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến để ra thông báo
thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu trên Hệ thống dịch vụ công Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng.
Điều
13. Quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường
số
1. Hệ thống dịch vụ công
Tòa án tiếp nhận yêu cầu, kiểm tra tự động về mặt kỹ thuật. Trường hợp hồ sơ bảo
đảm thành phần theo quy định và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thì thực hiện phản hồi
tự động xác nhận việc gửi đơn thành công và thông báo thời điểm tiếp nhận đơn.
2. Công chức Tòa án được
phân công đăng nhập Hệ thống dịch vụ công Tòa án để kiểm tra đơn và hồ sơ điện
tử do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến. Nội dung kiểm tra bao gồm:
a) Kiểm tra thông tin được
khai trong đơn thông qua việc khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu, hệ thống
thông tin đã sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống dịch vụ công Tòa
án, Cổng Dịch vụ công quốc gia theo quy định của pháp luật;
b) Kiểm tra tính xác thực,
tính hợp lệ và tính toàn vẹn của văn bản, tài liệu và chữ ký số hoặc hình thức
xác thực điện tử khác theo quy định của Luật Giao
dịch điện tử và pháp luật tố tụng.
3. Sau khi kiểm tra hồ sơ,
nếu đơn và hồ sơ điện tử đáp ứng điều kiện tiếp nhận, công chức Tòa án tiếp nhận
vào sổ nhận đơn và cập nhật vào Hệ thống dịch vụ công Tòa án. Trường hợp đơn hoặc
hồ sơ điện tử chưa đầy đủ, không hợp lệ, không đúng mẫu, không thuộc thẩm quyền,
công chức Tòa án thông báo qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân để biết và hướng dẫn về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo quy định của
pháp luật.
4. Việc thông báo tiếp nhận
chính thức đơn hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ phải được thực hiện không muộn
hơn 08 giờ làm việc kể từ thời điểm Hệ thống ghi nhận việc tiếp nhận đơn.
5. Thông tin, tài liệu và
dữ liệu điện tử quy định tại khoản 2 Điều này, sau khi được Tòa án kiểm tra và
xác nhận sẽ được lưu trữ tại Kho quản lý dữ liệu điện tử của cơ quan, tổ chức,
cá nhân.
Điều
14. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính tư pháp
1. Kết quả giải quyết thủ
tục hành chính tư pháp trên môi trường số phải bảo đảm:
a) Phản ánh đầy đủ các nội
dung kết quả giải quyết đã được quy định;
b) Có chữ ký số của Tòa án;
c) Bảo đảm tính toàn vẹn của
dữ liệu, tính xác thực, tính chống chối bỏ và phù hợp với quy định của Luật Giao dịch điện tử.
2. Tòa án trả kết quả cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật, đồng thời trả kết quả bản
điện tử cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Kho quản lý dữ liệu điện tử của cơ
quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục
hành chính tư pháp theo ủy quyền thì việc lưu trữ kết quả giải quyết thủ tục
hành chính tư pháp điện tử được thực hiện theo văn bản ủy quyền.
Điều
15. Chuyển đổi hồ sơ, tài liệu, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính
tư pháp từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu
1. Thông điệp dữ liệu được
chuyển đổi từ văn bản giấy phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản
1 Điều 12 của Luật Giao dịch điện tử. Yêu cầu về ký hiệu riêng và các thông
tin khác tại điểm c khoản 1 Điều 12 của Luật Giao dịch điện tử
được quy định cụ thể như sau:
a) Các thông tin trên
thông điệp dữ liệu được chuyển đổi từ văn bản giấy bao gồm: ký hiệu riêng bằng
chữ thể hiện thông điệp dữ liệu đã được chuyển đổi từ văn bản giấy và thời gian
thực hiện chuyển đổi; thông tin bao gồm tên đầy đủ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân thực hiện chuyển đổi.
Trên thông điệp dữ liệu được
chuyển đổi từ văn bản giấy, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn hiển thị
bổ sung mã phản hồi nhanh (QR) hoặc hình thức mã hóa khác chứa các thông tin
trên để phục vụ việc tra cứu và sử dụng thông tin bằng phương tiện điện tử.
Nội dung ký hiệu riêng thể
hiện thông điệp dữ liệu đã được chuyển đổi từ văn bản giấy theo quy định của
pháp luật;
b) Trường hợp chuyển đổi
phục vụ hoạt động công chứng, chứng thực, sao y, sao lục, trích sao, các thông
tin trên thông điệp dữ liệu được thực hiện theo quy định của pháp luật về công
chứng, chứng thực và công tác văn thư.
2. Yêu cầu đối với hệ thống
thông tin phục vụ chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu phải bảo đảm
các tính năng sau:
a) Chuyển đổi toàn vẹn nội
dung từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu;
b) Tạo ký hiệu riêng và
các thông tin khác trên thông điệp dữ liệu theo quy định tại khoản 1 Điều này;
c) Lưu trữ thông điệp dữ
liệu;
d) Bảo đảm an ninh mạng
theo quy định của pháp luật;
đ) Trường hợp chuyển đổi
thông điệp dữ liệu từ văn bản giấy theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 của
Luật Giao dịch điện tử, hệ thống thông tin
phục vụ chuyển đổi phải có tính năng ký số.
3. Thông điệp dữ liệu được
chuyển đổi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều này có giá trị pháp lý như
văn bản giấy tương ứng, trừ trường hợp pháp luật tố tụng hoặc pháp luật có liên
quan có quy định khác.
Điều
16. Chuyển đổi hồ sơ, tài liệu, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính
tư pháp từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy
1. Văn bản giấy được chuyển
đổi từ thông điệp dữ liệu phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật Giao dịch điện tử. Thông tin để xác định
được hệ thống thông tin và chủ quản hệ thống thông tin tạo lập, gửi, nhận, lưu
trữ thông điệp dữ liệu để tra cứu tại điểm b khoản 2 Điều 12 của
Luật Giao dịch điện tử được quy định cụ thể như sau:
a) Thông tin tối thiểu xác
định hệ thống thông tin và chủ quản hệ thống thông tin tạo lập, gửi, nhận, lưu
trữ thông điệp dữ liệu để tra cứu bao gồm: tên hệ thống thông tin, tên chủ quản
hệ thống thông tin;
b) Thông tin để truy cập
thông điệp dữ liệu trên hệ thống thông tin tạo lập, lưu trữ thông điệp dữ liệu
có thể là một đường dẫn đầy đủ của thông điệp dữ liệu trên hệ thống thông tin
hoặc mã duy nhất để truy cập thông điệp dữ liệu thông qua một giao diện tìm kiếm.
2. Yêu cầu về ký hiệu
riêng và các thông tin khác tại điểm c khoản 2 Điều 12 của Luật
Giao dịch điện tử được quy định cụ thể như sau:
a) Các thông tin tối thiểu
trên văn bản giấy được chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu bao gồm: ký hiệu riêng
bằng chữ thể hiện văn bản giấy đã được chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu và thời
gian thực hiện chuyển đổi; thông tin về tên đầy đủ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân thực hiện chuyển đổi.
Trên văn bản giấy được
chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn hiển
thị bổ sung mã phản hồi nhanh (QR) hoặc các hình thức mã hóa khác chứa các
thông tin trên để phục vụ việc tra cứu bằng phương tiện điện tử đối với thông
điệp dữ liệu tạo lập trên hệ thống thông tin.
Nội dung ký hiệu riêng thể
hiện văn bản giấy đã được chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu theo quy định của
pháp luật;
b) Trường hợp chuyển đổi
phục vụ hoạt động công chứng, chứng thực, sao y, sao lục, trích sao các thông
tin trên văn bản giấy được thực hiện theo quy định của pháp luật về công chứng,
chứng thực, văn thư.
3. Yêu cầu về hệ thống
thông tin phục vụ chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy phải bảo đảm
các tính năng sau:
a) Truy xuất từ hệ thống
lưu trữ và hiển thị thông điệp dữ liệu gốc cần chuyển đổi dưới dạng hoàn chỉnh;
b) Tạo ký hiệu riêng và
các thông tin khác trên văn bản giấy theo quy định tại khoản 2 Điều này;
c) Chuyển đổi toàn vẹn nội
dung từ thông điệp dữ liệu gốc sang văn bản giấy.
4. Văn bản được chuyển đổi
đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều này có giá trị pháp lý như thông điệp dữ
liệu tương ứng, trừ trường hợp pháp luật tố tụng, pháp luật có liên quan có quy
định khác.
Điều
17. Giá trị pháp lý của việc giao, nhận hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng
trên môi trường số
1. Hồ sơ, tài liệu, chứng
cứ, văn bản tố tụng được gửi và nhận bằng phương thức điện tử qua Hệ thống dịch
vụ công Tòa án bảo đảm các điều kiện theo quy định của Nghị quyết này và pháp luật
có liên quan có giá trị pháp lý như văn bản giấy.
2. Việc giao, nhận trên
môi trường số phải bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn, tính chống chối bỏ, bảo
đảm bảo mật và an ninh mạng.
Điều
18. Lưu trữ điện tử
1. Hồ sơ, tài liệu, chứng
cứ, văn bản tố tụng, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp điện
tử được lưu trữ theo quy định của pháp luật có liên quan, phù hợp với môi trường,
điều kiện lưu trữ điện tử và các quy định có liên quan của pháp luật về lưu trữ.
Việc lưu trữ hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp điện
tử có giá trị như lưu trữ hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính
tư pháp dưới dạng văn bản giấy.
2. Tòa án phải in ra bản
giấy đối với hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng dưới dạng thông điệp dữ
liệu theo hướng dẫn tại Điều 16 Nghị quyết này và lưu vào hồ
sơ vụ án, vụ việc.
3. Cơ quan, đơn vị thực hiện
lưu trữ hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp điện tử
phải bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật
Giao dịch điện tử.
4. Tài liệu, chứng cứ là bản
chính, bản sao hợp pháp mà cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp theo hướng dẫn tại
Điều 24 Nghị quyết này phải được lưu vào hồ sơ vụ án, vụ việc.
5. Thời hạn lưu trữ thông
điệp dữ liệu được thực hiện như đối với thời hạn lưu trữ hồ sơ vụ án, vụ việc bằng
văn bản theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
Trường hợp thông điệp dữ liệu hết thời hạn lưu trữ theo quy định nhưng có liên
quan đến tính toàn vẹn về thông tin của hệ thống và các thông điệp dữ liệu đang
lưu hành thì tiếp tục được lưu trữ đến khi việc hủy thông điệp dữ liệu hoàn
toàn không ảnh hưởng đến các giao dịch điện tử khác.
Điều
19. Xử lý sự cố trong quá trình thực hiện giao dịch điện tử
1. Trường hợp xảy ra sự cố
trong quá trình thực hiện giao dịch điện tử thì Tòa án có trách nhiệm thông báo
ngay về sự cố của hệ thống, hạ tầng kỹ thuật và thời điểm sự cố được khắc phục,
hệ thống hoạt động trở lại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được biết.
2. Trong quá trình thực hiện
giao dịch điện tử mà xảy ra sự cố, nếu sau 03 ngày làm việc không khắc phục được
thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phải gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, Tòa
án phải cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức khác theo quy
định của pháp luật tố tụng.
Thời gian từ khi có thông
báo của Tòa án đến khi sự cố được khắc phục được coi là trở ngại khách quan và
không tính vào thời hạn tố tụng.
3. Quá trình giao dịch điện
tử nếu hệ thống hạ tầng kỹ thuật Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ
công quốc gia hoặc hệ thống khác theo quy định của pháp luật gặp sự cố thì ngày
gửi, nhận thông điệp dữ liệu được xác định là ngày thực tế thông điệp dữ liệu
đó được gửi vào hệ thống của người nhận.
Điều 20.
Bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin
1. Việc giao dịch điện tử
tại Tòa án phải bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn thông tin cho
hệ thống theo quy định của Luật An ninh mạng,
Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin, pháp luật khác có liên
quan và Quy chế.
2. Tòa án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm:
a) Bảo đảm an ninh, an
toàn, bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử;
b) Sử dụng, quản lý, bảo vệ
thông điệp dữ liệu đúng pháp luật;
c) Tự mình hoặc phối hợp với
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các biện pháp cần thiết bảo
đảm tính an toàn, bảo mật, chính xác và toàn vẹn của thông điệp dữ liệu.
Điều
21. Kết nối, chia sẻ dữ liệu
1. Tòa án nhân dân tối cao
thực hiện việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa Hệ thống dịch vụ công
Tòa án thuộc thẩm quyền quản lý với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ,
ngành, địa phương để xác thực, thu thập thông tin. Việc kết nối, chia sẻ thông
tin đảm bảo việc vận hành thông suốt, hiệu quả; kịp thời phối hợp với các cơ
quan liên quan khắc phục sự cố (nếu có).
2. Hồ sơ, tài liệu, chứng
cứ điện tử, dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước được kết nối, chia sẻ theo
quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về cơ yếu.
3. Việc chia sẻ dữ liệu giữa
các cơ quan nhà nước không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân có liên quan, không được xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Chương
II
GỬI, NHẬN VÀ XỬ LÝ ĐƠN
KHỞI KIỆN, YÊU CẦU, TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ
Điều
22. Gửi đơn khởi kiện, yêu cầu, tài liệu, chứng cứ bằng phương tiện điện tử
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân thực hiện gửi đơn khởi kiện, yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến
Hệ thống dịch vụ công Tòa án, trừ trường hợp quy định tại khoản
4 Điều 24 Nghị quyết này.
2. Ngày khởi kiện, yêu cầu
là ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn khởi kiện, yêu cầu bằng phương tiện
điện tử và được Hệ thống dịch vụ công Tòa án xác nhận là đã gửi thành công.
3. Trong quá trình tố tụng,
cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi tài liệu, chứng cứ bằng phương tiện điện tử đến
Tòa án thông qua tài khoản giao dịch điện tử của mình, trừ trường hợp quy định
tại khoản 4 Điều 24 Nghị quyết này.
Điều
23. Nhận và xử lý đơn khởi kiện, yêu cầu, tài liệu, chứng cứ
1. Sau khi nhận được đơn
khởi kiện, yêu cầu, tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Tòa án phải
gửi thông điệp dữ liệu xác nhận đã nhận đơn khởi kiện, yêu cầu, tài liệu, chứng
cứ đến tài khoản giao dịch điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Kết quả xử lý đơn khởi
kiện, yêu cầu được Tòa án gửi đến tài khoản giao dịch điện tử của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
Điều
24. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân sử dụng tài liệu, chứng cứ điện tử đã nộp trong quá trình tố tụng nếu được
Tòa án kiểm tra và chấp nhận. Tòa án có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp bản gốc, bản chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có căn cứ cho rằng tài
liệu điện tử có dấu hiệu bị chỉnh sửa, sai lệch, không bảo đảm tính toàn vẹn, cần
đối chiếu với bản gốc, bản chính;
b) Tài liệu điện tử không
hoàn chỉnh, nội dung không rõ ràng, hình thức không đúng quy chuẩn.
2. Đối với các giấy tờ,
tài liệu, chứng cứ, hồ sơ đã được số hóa, lưu trữ, kết nối, chia sẻ thông tin với
Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia thì Tòa án không yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp lại.
3. Đối với các giấy tờ,
tài liệu, chứng cứ, hồ sơ chưa được số hóa, lưu trữ, kết nối, chia sẻ thông tin
với Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp bản sao điện tử để gửi đến
Tòa án qua phương tiện điện tử.
4. Đối với tài liệu, chứng
cứ là vật chứng; tài liệu nghe được, nhìn được hoặc những tài liệu, chứng cứ
khác không thể định dạng dưới dạng thông điệp dữ liệu thì Tòa án, cơ quan, tổ
chức, cá nhân không được gửi bằng phương thức điện tử mà phải giao nộp bằng
phương thức khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
Chương
III
CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO
VĂN BẢN
Điều
25. Cấp, tống đạt, thông báo văn bản bằng phương tiện điện tử
1. Trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân đã đăng ký giao dịch điện tử với Tòa án thì văn bản do Tòa án ban
hành theo quy định của pháp luật được Tòa án gửi từ Hệ thống dịch vụ công Tòa
án đến tài khoản giao dịch điện tử đã được đăng ký của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong thời hạn pháp luật quy định.
Văn bản do Tòa án ban hành
phải bảo đảm các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị
quyết này.
2. Ngày cấp, tống đạt,
thông báo văn bản bằng phương tiện điện tử được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 10 Nghị quyết này.
Điều
26. Nhận và xử lý thông điệp dữ liệu do Tòa án cấp, tống đạt, thông báo
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân được sử dụng thông điệp dữ liệu mà Tòa án gửi để thực hiện các quyền,
nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện các nội dung, yêu cầu của Tòa án trong
thời hạn quy định; thường xuyên kiểm tra tài khoản giao dịch điện tử.
3. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân tự chịu trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện việc đăng nhập, tiếp
nhận, thực hiện các nội dung, yêu cầu của Tòa án.
Chương
IV
NỘP ÁN PHÍ, LỆ PHÍ, CHI
PHÍ, TẠM ỨNG ÁN PHÍ, LỆ PHÍ, CHI PHÍ; PHIÊN HỌP, PHIÊN TÒA; CẤP BẢN SAO BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH
Điều
27. Thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính trong giải quyết thủ tục tố tụng,
thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức
có nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, tạm ứng
chi phí tố tụng, các khoản nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
tố tụng được thực hiện thanh toán trực tuyến thông qua Hệ thống dịch vụ công
Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc các phương thức thanh toán điện tử hợp
pháp khác.
2. Việc xác thực khi thanh
toán trực tuyến được thực hiện theo một trong các phương thức:
a) Đăng nhập một lần trên
cơ sở liên kết tài khoản giữa Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công
quốc gia và hệ thống thanh toán của các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ
trung gian thanh toán theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật
có liên quan;
b) Thực hiện bằng tài khoản
của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong trường
hợp không thực hiện đăng nhập bằng tài khoản của Cổng Dịch vụ công quốc gia
theo quy định của Tòa án và pháp luật về giao dịch điện tử có liên quan.
3. Mức nộp, thời điểm nộp
án phí, lệ phí, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, tạm ứng chi phí tố tụng, các
khoản nghĩa vụ tài chính khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về án
phí và lệ phí Tòa án và các quy định pháp luật liên quan.
4. Chứng từ điện tử về việc
nộp tiền, có chữ ký số của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian
thanh toán kèm theo xác nhận khoản thu đã được ghi nhận thành công vào ngân
sách nhà nước được gửi tự động cho người nộp, Tòa án và các cơ quan liên quan
(nếu có) để làm căn cứ thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo.
5. Việc hoàn trả án phí, lệ
phí, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, các khoản phải hoàn trả khác được thực hiện
bằng phương thức thanh toán điện tử qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch
vụ công quốc gia hoặc qua ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh
toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và hướng dẫn của Tòa án
nhân dân tối cao.
6. Ngân hàng, tổ chức cung
ứng dịch vụ trung gian thanh toán có trách nhiệm kết nối, cung cấp dịch vụ
thanh toán trực tuyến; công khai phí dịch vụ; bảo đảm an toàn, bảo mật; thực hiện
đối soát, hạch toán và hỗ trợ tra soát, khiếu nại theo quy định của pháp luật.
7. Tòa án có trách nhiệm
tích hợp, đồng bộ dữ liệu về nghĩa vụ tài chính; phối hợp với ngân hàng và tổ
chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong việc đối soát; bảo đảm an toàn
hệ thống; công khai đầu mối hỗ trợ tra soát, giải quyết vướng mắc trong quá
trình thực hiện thanh toán trực tuyến.
8. Kho bạc Nhà nước thực
hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính
trong hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật.
Điều
28. Giá trị pháp lý của việc thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính trong giải
quyết thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số
1. Chứng từ điện tử của
ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có giá trị pháp
lý như chứng từ, biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.
2. Ngày nộp biên lai được
xác định là ngày Hệ thống dịch vụ công Tòa án thông báo xác nhận thanh toán
thành công.
3. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thể lựa chọn thực hiện nộp án phí, lệ phí, chi phí, tạm ứng án phí, tạm
ứng lệ phí, tạm ứng chi phí trong giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư
pháp thông qua chức năng thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia,
Hệ thống dịch vụ công Tòa án hoặc bằng cách thức khác theo quy định của pháp luật.
Điều
29. Tổ chức phiên tòa, phiên họp trực tuyến
1. Việc tổ chức phiên tòa
trực tuyến được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức phiên tòa trực
tuyến, Nghị quyết này và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
2. Tòa án tổ chức phiên họp
trực tuyến để giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc. Khi tổ chức phiên họp trực tuyến
phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tổ chức phiên họp trực tuyến, Nghị
quyết này và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao; bảo đảm an ninh mạng, các
điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và bảo đảm sự tôn nghiêm của Tòa án.
3. Tòa án thông báo cho
đương sự và các thành phần tham gia khác thông qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án,
Cổng Dịch vụ công quốc gia, tin nhắn điện thoại hoặc ứng dụng VNelD về thông
tin của phiên họp, yêu cầu, điều kiện tham gia phiên họp, kiểm soát danh sách
thành phần triệu tập, tham gia phiên họp và điều hành phiên họp.
4. Đương sự căn cứ thông
báo của Tòa án, đăng nhập Hệ thống thông tin, Hệ thống xét xử trực tuyến để
tham gia phiên họp. Đương sự có trách nhiệm bảo mật thông tin đăng nhập, thông
tin phiên họp, chịu trách nhiệm về việc tham gia phiên họp theo thông báo của
Tòa án và đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật trong quá trình diễn ra phiên họp.
Điều
30. Cấp bản sao bản án, quyết định của Tòa án trên môi trường số
Cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thể yêu cầu cấp trích lục, bản sao bản án, quyết định của Tòa án trên Hệ thống
dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thủ tục, lệ phí cấp bản sao bản
án, quyết định của Tòa án theo hướng dẫn tại Nghị quyết này, quy định của pháp luật
có liên quan và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
Chương
V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
31. Tổ chức thực hiện
1. Các Tòa án tổ chức thực
hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số theo đúng quy định
của pháp luật về chuyển đổi số, giao dịch điện tử, pháp luật tố tụng, Nghị quyết
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Các Tòa án thực hiện kết
nối, tích hợp, cung cấp các dịch vụ công trên Hệ thống dịch vụ công Tòa án với
Cổng Dịch vụ công quốc gia, đảm bảo việc vận hành hệ thống an toàn, thông suốt.
Tòa án phối hợp, thực hiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Viện kiểm sát, cơ
quan thi hành án dân sự, cơ quan khác để thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính
tư pháp trên môi trường số khi có đủ điều kiện.
3. Việc thực hiện thủ tục
tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án theo hướng dẫn tại
Nghị quyết này được thực hiện khi có đủ điều kiện. Ngay khi có đủ điều kiện thực
hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số, Tòa án phải thông
báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan.
Điều
32. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết này được Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 15 tháng 01 năm 2026 và
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 03 năm 2026.
2. Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 về gửi,
nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
bằng phương tiện điện tử hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi
hành.
3. Trong quá trình triển
khai thi hành Nghị quyết, nếu có vướng mắc cần được hướng dẫn thì các Tòa án phản
ánh về Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung kịp thời./.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường
vụ Quốc hội (để giám sát);
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội;
- Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Trung ương Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ (02 bản);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công an;
- Bộ Quốc phòng;
- Các TAND và TAQS các cấp (để thực hiện);
- Các Thẩm phán TANDTC và các đơn vị TANDTC (để thực hiện);
- Cổng Thông tin điện tử TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT (TANDTC, Vụ PC&QLKTH-P2).
|
TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN
Nguyễn Văn Quảng
|