Bài viết dưới đây sẽ trình bày các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt 2025 theo Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
>> Quy định mới về tiêu hủy hóa đơn, chứng từ theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP
Theo khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 sẽ hết hiệu lực từ tháng 07/2025, hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng thì không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được khẩu trừ thuế GTGT.
Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2025, tất cả các giao dịch hàng hóa, dịch vụ mua vào (kể cả hàng hóa, dịch vụ có giá trị dưới 20 triệu đồng) bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
(Theo điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025)
Như vậy, từ 01/7/2025, hàng hóa, dịch vụ dưới 20 triệu đồng phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT.
>> Xem chi tiết tại: Điều kiện khấu trừ thuế GTGT từ 1/7/2025 có gì thay đổi?
![]() |
File Excel so sánh Nghị định 70/2025/NĐ-CP và Nghị định 123/2020/NĐ-CP |

Quy định về thanh toán không dùng tiền mặt 2025 (Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
Hiện tại đã có Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng. Theo đó, quy định thanh toán không dùng tiền mặt từ 1/7/2025 theo dự thảo có 04 điểm đáng chú ý sau đây:
- Hóa đơn trên 5 triệu trở lên (bao gồm thuế VAT) mới phải áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt.
- Doanh nghiệp tư nhân có thể thanh toán thông qua tài khoản đứng tên chủ doanh nghiệp.
- Trường hợp công ty ủy quyền cho người lao động thanh toán hàng hóa dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh sau đó công ty thanh toán lại cho người lao động thì vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
- Trường hợp cùng một bên bán trong 01 ngày xuất nhiều hóa đơn, các hóa đơn đều dưới 05 triệu nhưng tổng các hóa đơn từ 05 triệu trở lên thì vẫn phải áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt.
>> Xem chi tiết tại: 04 điểm mới theo dự thảo thanh toán không dùng tiền mặt từ 1/7/2025
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác.
Cụ thể như sau:
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng:
Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như: Séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định.
(Bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán).
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác bao gồm:
+ Hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng.
+ Hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba.
+ Hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định).
+ Hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
Ví dụ: Công ty A mua hàng của Công ty B và Công ty A đang còn nợ tiền hàng của Công ty B. Tuy nhiên Công ty B đang còn nợ tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Cơ quan thuế thực hiện thu tiền, tài sản của Công ty B do Công ty A đang nắm giữ để thi hành quyết định hành chính thuế thì khi Công ty A chuyển tiền vào tài khoản thu ngân sách cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.
(Theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC)
Căn cứ khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị định 52/2024/NĐ-CP quy định về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt như sau:
1. Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) bao gồm: dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng và dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng.
2. Dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng.
3. Dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng là việc cung ứng dịch vụ thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán không thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng.





