Dưới đây là lưu ý lập và sử dụng hóa đơn khi giảm trừ chi phí y tế giáo dục để tính thuế TNCN theo Công văn 47199/HAN-QLDN5.
>> Mẫu số S02a-DN Mẫu chứng từ ghi sổ theo Thông tư 99/2025/TT-BTC
Ngày 18/9/2026, Thuế Thành phố Hà Nội ban hành Công văn 47199/HAN-QLDN5 về việc thực hiện chính sách thuế về các khoản giảm trừ thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục.
Theo đó, căn cứ Mục 2 Công văn 47199/HAN-QLDN5, Thuế Thành phố Hà Nội lưu ý lập và sử dụng hóa đơn khi giảm trừ chi phí y tế giáo dục để tính thuế TNCN như sau:
- Căn cứ Nghị định 254/2026/NĐ-CP:
+ Tại khoản 1 Điều 4 Chương I quy định nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ điện tử:
Điều 4. Nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ điện tử
1. Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ; xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn) và các trường hợp lập hóa đơn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trừ các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.
+ Tại khoản , khoản 4 Điều 9 Chương II quy định thời điểm lập hóa đơn:
Điều 9. Thời điểm lập hóa đơn:
...2. Thời điểm lập hóa đơn đối với cung cấp dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ (bao gồm cả cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài) không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Trường hợp người cung cấp dịch vụ có thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ thì thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền (không bao gồm trường hợp thu tiền đặt cọc theo quy định Bộ luật Dân sự để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ).
...4. Thời điểm lập hóa đơn đối với một số trường hợp cụ thể như sau:
...m) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sử dụng phần mềm quản lý khám bệnh, chữa bệnh và quản lý viện phí, từng giao dịch khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện các dịch vụ chụp, chiếu, xét nghiệm có in phiếu thu tiền (thu viện phí hoặc tiền khám, chụp, chiếu, xét nghiệm) và có lưu trên hệ thống công nghệ thông tin, nếu khách hàng (người đến khám, chữa bệnh) không có nhu cầu lấy hóa đơn thì cuối ngày cơ sở khám bệnh, chữa bệnh căn cứ thông tin khám, chữa bệnh và thông tin từ phiếu thu tiền để tổng hợp lập hóa đơn điện tử cho các dịch vụ y tế thực hiện trong ngày, trường hợp khách hàng yêu cầu lập hóa đơn điện tử thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập hóa đơn điện tử giao cho khách hàng.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập hóa đơn cho cơ quan bảo hiểm xã hội tại thời điểm được cơ quan bảo hiểm xã hội thanh, quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế:
+ Tại tiết b khoản 4 Phụ lục nội dung hóa đơn kèm theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP:
b) Trường hợp người mua là người tiêu dùng cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân thì trên hóa đơn phải thể hiện tên, địa chỉ, số định danh cá nhân (đối với người mua là người nước ngoài cung cấp thông tin để lập hóa đơn thì thông tin về địa chỉ, số định danh cá nhân có thể được thay thế bằng thông tin về số hộ chiếu hoặc giấy tờ xuất nhập cảnh và quốc tịch của khách hàng): trường hợp người mua không cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân thì trên hóa đơn thể hiện rõ “Bán cho người tiêu dùng”. Một số trường hợp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ đặc thù cho người tiêu dùng là cá nhân quy định tại điểm 9 Phụ lục này thì trên hóa đơn không phải thể hiện tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người mua.
Hóa đơn không có thông tin người mua hoặc hóa đơn xuất cho người tiêu dùng thì không có giá trị để tổ chức kinh tế, cơ quan, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng vào mục đích hạch toán chi phí hoặc quyết toán thuế theo quy định pháp luật về thuế.
- Căn cứ Quyết định 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 của Bộ Y tế ban hành mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
Điều 2. Hướng dẫn kỹ thuật
1. Trong một lượt khám bệnh, chữa bệnh đối với mỗi người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập 01 bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh để lưu cùng với hồ sơ khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh đó và 01 bảng kê để cung cấp cho người bệnh.
2. Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã triển khai bệnh án điện tử thì thực hiện lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh bản điện tử để lưu trữ cùng hồ sơ bệnh án điện tử của người bệnh và cung cấp bảng kê cho người bệnh qua phương tiện, thiết bị điện tử, không phải lập bảng kê giấy. Bảng kê điện tử có ký số đầy đủ theo quy định thì có giá trị tương đương bản giấy. Trường hợp bảng kê giấy có chữ ký trực tiếp (ký tay) của người bệnh được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển thành file điện tử (scan) và có ký số xác thực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì có giá trị như bản điện tử để lưu trữ cùng bệnh án điện tử của người bệnh, thay thế cho bản giấy.
Căn cứ các quy định nêu trên, để đảm bảo quyền lợi của người lao động là các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công được tính giảm trừ thu nhập chịu thuế TNCN, Thuế Thành phố Hà Nội đề nghị:
- Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục thực hiện đúng quy định về việc lập, sử dụng hóa đơn, thời điểm xuất hóa đơn và lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Nghị định 254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính Phủ và Quyết định 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 của Bộ Y tế.
- Các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động: Phổ biến, tuyên truyền đến toàn bộ người lao động về việc giảm trừ thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế. Cụ thể:
+ Điều kiện để giảm trừ thu nhập: Có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp (đối với chi phí y tế có thêm bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu); hóa đơn thể hiện đầy đủ thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế; các khoản chi này không được đồng thời thanh toán từ các nguồn được hỗ trợ khác mà không phải do người lao động trực tiếp chi trả.
+ Các khoản thu nhập người lao động nhận được do chi cho y tế, giáo dục - đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP do được xác định là các khoản thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nên sẽ không được tính vào các khoản giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNCN.
+ Các khoản chi cho y tế (bệnh hiểm nghèo) theo Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thuộc trường hợp giảm thuế nên không được tính vào các khoản giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNCN.
+ Trường hợp người lao động có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập đối với các khoản chi phí giáo dục, y tế nêu trên khi tính thuế thì người nộp thuế không được ủy quyền quyết toán cho cơ quan chi trả, phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Trên đây là lưu ý lập và sử dụng hóa đơn khi giảm trừ chi phí y tế giáo dục để tính thuế TNCN.
Lưu ý lập và sử dụng hóa đơn khi giảm trừ chi phí y tế giáo dục để tính thuế TNCN
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Căn cứ khoản 2, khoản 5 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, người nộp thuế được giảm trừ tối đa 47 triệu đồng chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN 2026 từ tiền lương, tiền công trong đó:
- Giảm trừ y tế: Không quá 23 triệu đồng/năm
- Giảm trừ giáo dục: Không quá 24 triệu đồng/năm
Lưu ý: Các khoản giảm trừ phát sinh vào năm nào thì được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó, không được chuyển trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế tiếp theo. Trường hợp cá nhân đã thực hiện quyết toán thuế mà chưa có hóa đơn, chứng từ để xác định các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo thì việc điều chỉnh nghĩa vụ thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
Căn cứ khoản 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, để được giảm trừ y tế giáo dục khi tính thuế TNCN thì phải đáp ứng 3 điều kiện sau:
(i) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
(ii) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
(iii) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.





