Trong thời gian thử việc, người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
>> Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động của người lao động khi tham gia bảo hiểm lao động
>> Mẫu giấy đề nghị xác định người lao động có thu nhập thấp năm 2025
Theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 Bộ luật Lao động 2019, thời gian và mức lương thử việc của người lao động được xác định như sau:
- Về thời gian thử việc: Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:
+ Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp.
+ Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên.
+ Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
+ Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.
- Về mức lương thử việc: Tiền lương trong thời gian thử việc được hai bên thỏa thuận, tuy nhiên không được thấp hơn 85% mức lương của công việc đó. Nói cách khác, người lao động trong thời gian thử việc phải được trả ít nhất 85% mức lương chính thức. Mức lương này có thể cao hơn tùy theo thỏa thuận, chẳng hạn như 90%, 95% hoặc thậm chí bằng 100%, nhưng tuyệt đối không được thấp hơn 85% mức lương của công việc tương ứng.
![]() |
File Word Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn mới nhất [cập nhật ngày 21/10/2024] |

Người lao động được chấm dứt thử việc mà không cần báo trước năm 2025
(Ảnh minh họa – Hình từ Internet)
Theo khoản 2 Điều 27 Bộ luật Lao động 2019, trong thời gian thử việc, cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền chấm dứt hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã ký mà không cần báo trước và không phải bồi thường.
Như vậy, trong thời gian thử việc, nếu người lao động cảm thấy công việc không phù hợp, họ có thể nghỉ việc ngay mà không cần thông báo trước và không phải bồi thường. Ngược lại, người sử dụng lao động cũng có quyền chấm dứt thử việc bất kỳ lúc nào nếu thấy không đạt yêu cầu – mà không phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Xem thêm:
> > Trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước năm 2025
> > Năm 2025, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không có lý do có được không?
Căn cứ theo Điều 17 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động bị nghiêm cấm thực hiện những hành vi sau đây:
(i) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
(ii) Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.
(iii) Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động.
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 9 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi người sử dụng lao động giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động như sau:
Điều 9. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động
...
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng hoặc chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động;
...
3. Biện pháp khắc phục hậu quả
...
d) Buộc người sử dụng lao động trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
...
Và căn cứ khoản 1, 3 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, quy định về mức phạt tiền như sau:
1. Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 Điều 7; khoản 3, 4, 6 Điều 13; khoản 2 Điều 25; khoản 1 Điều 26; khoản 1, 5, 6, 7 Điều 27; khoản 8 Điều 39; khoản 5 Điều 41; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 Điều 42; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 43; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 45; khoản 3 Điều 46 Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
…
3. Tổ chức bị xử phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân trong Nghị định này bao gồm:
a) Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm, trừ trường hợp thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;
b) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp Việt Nam hoặc doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam;
c) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
d) Đơn vị sự nghiệp;
đ) Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân;
e) Văn phòng thường trú của cơ quan báo chí nước ngoài, văn phòng đại diện của nhà xuất bản nước ngoài hoặc tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài tại Việt Nam;
g) Cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế, tổ chức quốc tế liên Chính phủ, trừ trường hợp được miễn xử phạt vi phạm hành chính theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
h) Tổ chức phi chính phủ;
i) Văn phòng đại diện hoạt động không sinh lời tại Việt Nam của tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, tư vấn pháp luật nước ngoài;
k) Cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở y tế, cơ sở văn hóa - xã hội.
Như vậy, hành vi giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động sẽ bị xử phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng nếu người sử dụng lao động là cá nhân; từ 40 đến 50 triệu đồng nếu người sử dụng lao động là tổ chức (tổ chức được quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP). Đồng thời, buộc phải trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động






