Mức đóng bảo hiểm y tế 2025 cho người thuộc hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức hộ gia đình theo Nghị định 188/2025/NĐ-CP
>> Điểm mới về chế độ bảo hiểm thất nghiệp 2026 theo Luật Việc làm 2025
>> Chế độ thai sản dành cho lao động nam từ ngày 01/7/2025
Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 6 Nghị định 188/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/8/2025) mức đóng bảo hiểm y tế 2025 (hàng tháng) cho người thuộc hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức hộ gia đình như sau:
|
TT |
Thành viên |
Mức đóng |
|
1 |
Người thứ nhất |
4,5% mức lương cơ sở |
|
2 |
Người thứ hai |
70% mức đóng của người thứ nhất |
|
3 |
Người thứ ba |
60% mức đóng của người thứ nhất |
|
4 |
Người thứ tư |
50% mức đóng của người thứ nhất |
|
5 |
Từ người thứ năm trở đi |
40% mức đóng của người thứ nhất |
Trên đây là giải đáp về "Mức đóng bảo hiểm y tế 2025 cho hộ gia đình"
![]() |
File Excel tính tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2025 theo hệ số trượt giá mới nhất |
.png)
Mức đóng bảo hiểm y tế 2025 cho hộ gia đình (Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
Căn cứ khoản 33 Điều 1 Luật số 51/2024/QH15 đã bổ sung Điều 48a và Điều 48b vào sau Điều 48 Luật Bảo hiểm y tế 2008 gồm các quy định liên quan về hành vi chậm, trốn đóng bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:
Điều 48a. Chậm đóng bảo hiểm y tế
Chậm đóng bảo hiểm y tế là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng bảo hiểm y tế kể từ sau ngày đóng bảo hiểm y tế chậm nhất quy định tại khoản 8 Điều 15 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48b của Luật này;
2. Không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm y tế trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 17 của Luật này;
3. Thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 2 Điều 48b của Luật này.
Điều 48b. Trốn đóng bảo hiểm y tế
1. Trốn đóng bảo hiểm y tế là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 17 của Luật này mà người sử dụng lao động không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm y tế;
b) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm y tế thấp hơn tiền lương quy định tại Điều 14 của Luật này;
c) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm y tế sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế chậm nhất theo quy định tại khoản 8 Điều 15 của Luật này và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định của Chính phủ;
d) Các trường hợp khác bị coi là trốn đóng bảo hiểm y tế theo quy định của Chính phủ.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định các trường hợp thuộc khoản 1 Điều này nhưng có lý do chính đáng thì không bị coi là trốn đóng bảo hiểm y tế.
Các trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm y tế, bao gồm:
Các trường hợp theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 48b của Luật Bảo hiểm y tế 2008 không bị coi là trốn đóng bảo hiểm y tế khi có một trong các lý do sau theo công bố của cơ quan có thẩm quyền về phòng, tránh thiên tai, tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự và phòng, chống dịch bệnh, bao gồm:
(i) Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
(ii) Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tài chính của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
(iii) Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
(iv) Các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự.
(Theo Điều 3 Nghị định 188/2025/NĐ-CP)





