Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 đã quy định rất chi tiết về các hành vi bị coi là trốn đóng, chậm đóng BHXH, BHTN và các chế tài xử lý cụ thể.
>> Mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT từ ngày 01/7/2025
>> Thay đổi thời hạn báo tăng bảo hiểm xã hội từ 1/7/2025
Tại Mục 7 Công văn 144/BHXH-QLT&PTNTG 2025 của Bảo hiểm xã hội khu vực XIII về hướng dẫn triển khai một số điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi có giới thiệu quy định về hành vi trốn đóng, chậm đóng BHXH, BHYT từ ngày 01/7/2025 như sau:
Chậm đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này hoặc kể từ sau ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 39 của Luật này;
2. Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này;
3. Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp;
4. Thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật này.
(Theo Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
![]() |
File Excel tính tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2025 theo hệ số trượt giá mới nhất |

Lưu ý về trốn đóng, chậm đóng BHXH từ ngày 01/7/2025 (Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Trốn đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây để không đóng hoặc đóng không đầy đủ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động:
a) Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này mà người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;
b) Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp mà người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp;
c) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này;
d) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp;
đ) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
e) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm thất nghiệp sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
g) Các trường hợp khác bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Chính phủ.
(Theo Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Biện pháp xử lý đối với hành vi chậm đóng BHXH và trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT cụ thể như sau:
- Bắt buộc đóng đủ số tiền chậm đóng, trốn đóng;
- Nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tỉnh trên số tiền BHXH, BHTN, BHYT chậm đóng, trốn đóng và số ngày chậm đóng, trốn đóng.
- Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- Không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.
- Riêng đối với hành vi trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT còn có biện pháp là truy cứu trách hiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Phải đóng đủ số tiền chưa đóng và nộp số tiền lãi bằng hai lần mức lãi suất liên ngân hàng tỉnh trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của quỹ bảo hiểm y tế.
- Phải hoàn trả toàn bộ chỉ phi cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế mà người lao động đã chỉ trả trong thời gian chưa có thẻ bảo hiểm y tế.
(Theo Điều 40 và 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Từ ngày 01/7/2025, thời hạn báo tăng bảo hiểm xã hội là trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chứ không phải kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng như quy định hiện hành.
>> Xem chi tiết tại bài viết: Thay đổi thời hạn báo tăng bảo hiểm xã hội từ 1/7/2025




