Hoá đơn xuất sai thời điểm sẽ bị xử lý trên từng hoá đơn lập sai. Thời điểm xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ. Mức phạt đối với hành vi xuất hoá đơn sai thời điểm.
>> So sánh đối tượng áp dụng của Thông tư 200/2014/TT-BTC với Thông tư 99/2025/TT-BTC
>> Mã thủ tục hành chính khai thuế sử dụng đất
Căn cứ khoản 6 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý.
Đồng thời, điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật số 67/2020/NĐ-CP), có quy định như sau:
d) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng;
Đối chiếu với Nghị định 125/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn, thì hiện không quy định áp dụng tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần” đối với hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm.
Theo đó, nếu người bán xuất hoá đơn sai thời điểm nhiều lần thì sẽ bị xử lý trên từng hoá đơn đã lập sai. Hiểu đơn giản, xuất sai thời điểm bao nhiêu hóa đơn thì xử phạt bấy nhiêu lần. Ví dụ, nếu doanh nghiệp xuất sai 10 hóa đơn mà không dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế, không có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ thì mức phạt sẽ được tính như sau: 4 triệu đồng × 10 = 40 triệu đồng.
Xem thêm:
>> Tổng hợp các công văn về hóa đơn điện tử đáng chú ý ban hành năm 2025
>> Hướng dẫn kê khai hóa đơn có chiết khấu thương mại theo Công văn 3248
>> Công văn 4696: Người bán không phải lập hóa đơn và khai thuế đối với các khoản thu hộ
>> Hóa đơn điện tử có sai sót sử dụng mẫu hóa đơn thay thế hay mẫu hóa đơn điều chỉnh?
![]() |
File Excel so sánh Nghị định 70/2025/NĐ-CP và Nghị định 123/2020/NĐ-CP |

Hoá đơn xuất sai thời điểm sẽ bị xử lý trên từng hoá đơn lập sai
(Ảnh minh hoạ - Nguồn từ Internet)
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 9 Nghị định 123/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 70/2025/NĐ-CP), thời điểm lập hóa đơn đối với bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ là:
- Bán hàng hóa: Khi chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu tiền hay chưa.
- Cung cấp dịch vụ: Khi hoàn thành việc cung cấp dịch vụ, không phân biệt đã thu tiền hay chưa; trường hợp thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ thì xuất hóa đơn tại thời điểm thu tiền (không áp dụng cho các khoản đặt cọc hoặc tạm ứng để đảm bảo thực hiện hợp đồng các dịch vụ đặc thù: kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính – thuế, thẩm định giá, khảo sát, thiết kế kỹ thuật, tư vấn giám sát, lập dự án đầu tư xây dựng).
Xem thêm: >> Những trường hợp nào có thể không xuất hóa đơn ngay thời điểm bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ?
Về mức phạt đối với hành vi xuất hoá đơn sai thời điểm, thì tùy theo tính chất của việc lập hóa đơn điện tử không đúng thời điểm mà sẽ có mức xử phạt khác nhau. Cụ thể:
(i) Phạt cảnh cáo: Lập hóa đơn không đúng thời điểm nhưng không dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế và có tình tiết giảm nhẹ.
(ii) Phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng: Lập hóa đơn không đúng thời điểm nhưng không dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế, trừ trường hợp quy định tại mục (i) nêu trên.
(iii) Phạt tiền từ 4 triệu đồng đến 8 triệu đồng: Lập hóa đơn không đúng thời điểm theo quy định của pháp luật về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trừ trường hợp quy định tại mục (i) và (ii).
Lưu ý: Mức phạt tiền trên áp dụng đối với tổ chức, đối với cá nhân (bao gồm cả hộ gia đình, hộ kinh doanh) có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức tổ chức (Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP)
(Căn cứ Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP)




