Tiền lương thử việc tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần khi nào?
Đầu tiên, tại Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:
- Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
- Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
- Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
- Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.
Đồng thời, tại Điều 6 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 Chính phủ quy định về kỳ tính thuế theo năm đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập khác của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú;
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Cuối cùng, tại Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về việc khấu trừ thuế TNCN như sau:
Khấu trừ thuế
1. Trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, khi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế phải thực hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân căn cứ vào:
a) Thu nhập tính thuế tháng (đối với các khoản thu nhập do tổ chức, cá nhân chi trả, chi trả thay cho cá nhân);
b) Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...
Từ những căn cứ trên, trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng thử việc thời hạn 01 tháng với người lao động, sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, doanh nghiệp ký hợp đồng lao động chính thức với thời hạn 01 năm thì doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến từng phần trước khi chi trả cho người lao động gồm cả thời gian thử việc.
Tuy nhiên, trường hợp sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động chính thức thì doanh nghiệp phải khấu trừ 10% thuế TNCN (trước khi trả thu nhập cho lao động thử việc) nếu khoản thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên.
Nếu trường hợp người lao động chỉ có một khoản thu nhập nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì có thể làm bản cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.
Lưu ý: Người lao động làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Xem thêm
>>> Người lao động nghỉ việc có được nhận lại 10% thuế TNCN đã bị khấu trừ không?
>>> Các khoản được trừ trước khi khấu trừ 10% đối với lao động nghỉ việc có những gì?
>>> Có khấu trừ thuế đối với tiền lương của Giám đốc công ty TNHH một thành viên không?
>>> Lao động thử việc có được trừ tiền ăn trưa, điện thoại trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN không?
>>> Có tính thuế TNCN đối với khoản tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp không?

Tiền lương thử việc tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần khi nào? (Hình từ Internet)
Thử việc có được miễn thuế TNCN đối với tiền lương làm thêm giờ không?
Căn cứ tại khoản 8 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thu nhập miễn thuế TNCN như sau:
Thu nhập được miễn thuế
...
8. Tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật.
9. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chỉ trả; thu nhập do quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, quỹ hưu trí tự nguyện chi trả.
...
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công như sau:
Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
...
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Theo đó, khoản tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền trả công cho những ngày không nghỉ phép phát sinh trong kỳ tính thuế TNCN năm 2026 trở đi thuộc diện được miễn thuế TNCN.
Tuy nhiên, không phải đối tượng người nộp thuế nào cũng được miễn toàn bộ thuế TNCN đối với tiền lương làm thêm giờ ở cùng một thời điểm mà sẽ chia ra hai mốc thời gian cụ thể như sau:
[1] Người nộp thuế là cá nhân cư trú thì tiền lương làm thêm giờ chính thức được miễn toàn bộ thuế TNCN từ ngày 01/01/2026 đáp ứng 1 trong các điều kiện sau đây:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong 01 năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
[2] Đối với người nộp thuế là cá nhân không cư trú (là người không đáp ứng các điều kiện của cá nhân cư trú) thì tiền lương làm thêm giờ chính thức được miễn toàn bộ thuế TNCN từ ngày 01/07/2026.
Do đó, trong thời gian thử việc phát sinh tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm theo đúng quy định của pháp luật lao động thì toàn bộ khoản thu nhập này thuộc diện miễn thuế TNCN.
Hợp đồng thử việc 2 tháng có cần tham gia BHXH bắt buộc hay không?
Đầu tiền, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Bộ luật lao động 2019 quy định về người lao động thử việc như sau:
Thử việc
1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.
2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.
...
Theo đó, người lao động và người sử dụng lao động có thể giao kết nội dung thử việc thông qua 2 hình thức là:
- Giao kết bằng hợp đồng thử việc
- Giao kết bằng hợp đồng lao động có bao gồm nội dung thử việc.
Tiếp theo, căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
...
Đồng thời, tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP hướng dẫn thêm như sau:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
...
5. Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng tính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
...
Theo đó, người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, nếu trường hợp người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên và giao kết bằng hợp đồng lao động có bao gồm nội dung thử việc sẽ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Do đó, đối với thời gian thử việc 02 tháng có thể hiểu theo 2 trường hợp sau:
- Nếu các bên giao kết hợp đồng thử việc riêng thì không phải đóng BHXH bắt buộc.
- Nếu giao kết hợp đồng lao động có thỏa thuận thử việc thì người lao động vẫn thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];