Không đóng BHXH từ năm 2026, chi phí tiền lương có bị loại khi tính thuế TNDN?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 5,719 lượt xem
18:40 | 18/08/2026
Chi phí tiền lương có bị loại khi tính thuế TNDN nếu không đóng BHXH từ năm 2026?
Nội dung chính
  1. Không đóng BHXH từ năm 2026, chi phí tiền lương có bị loại khi tính thuế TNDN?
  2. Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không?
  3. Quy định đi làm dưới 14 ngày không phải đóng BHXH được hiểu như thế nào?

Không đóng BHXH từ năm 2026, chi phí tiền lương có bị loại khi tính thuế TNDN?

Từ năm 2026, nếu doanh nghiệp không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì chi phí tiền lương, tiền công có bị loại khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp hay không?

Đầu tiên, tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 và Điều 9, khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trong đó, đối với các khoản chi tiền lương, tiền công, doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ nếu đáp ứng các điều kiện sau:

- Có hợp đồng lao động, thỏa thuận hoặc giao kết khác theo đúng quy định pháp luật và phù hợp với thực tế làm việc;

- Có đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan đến khoản chi tiền lương, tiền công;

- Khoản chi thực tế phát sinh và liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

- Đối với khoản tiền lương, tiền công thanh toán từng lần từ 05 triệu đồng trở lên thì phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định;

- Không thuộc các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 và khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP.

Như vậy, có thể thấy pháp luật thuế TNDN hiện hành không quy định theo hướng doanh nghiệp phải đóng BHXH thì chi phí tiền lương, tiền công mới được tính vào chi phí được trừ.

Do đó, việc doanh nghiệp chưa đóng BHXH không phải là căn cứ để tự động loại chi phí tiền lương, tiền công khi tính thuế TNDN. Việc một khoản chi tiền lương có được tính vào chi phí được trừ hay không sẽ được xem xét dựa trên các điều kiện của pháp luật thuế TNDN và việc khoản chi đó có thuộc trường hợp không được trừ hay không.

Mặt khác, về bản chất, việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN và nghĩa vụ đóng BHXH là hai vấn đề pháp lý khác nhau.

Việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN thuộc phạm vi quản lý của cơ quan thuế và được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế TNDN.

Trong khi đó, nghĩa vụ tham gia và đóng BHXH bắt buộc được điều chỉnh bởi pháp luật về BHXH. Trường hợp người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định.

Theo đó, không thể hiểu rằng chi phí tiền lương được chấp nhận khi tính thuế TNDN đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được phép không đóng BHXH. Ngược lại, cũng không nên hiểu rằng chỉ vì doanh nghiệp chưa đóng BHXH thì chi phí tiền lương đương nhiên bị loại khi tính thuế TNDN.

Hai vấn đề này cần được xem xét độc lập theo quy định của từng hệ thống pháp luật. Do đó, việc doanh nghiệp không đóng BHXH không đồng nghĩa với việc chi phí tiền lương sẽ bị loại khi tính thuế TNDN.

Như vậy, từ năm 2026, việc doanh nghiệp không đóng BHXH không phải là căn cứ tự động để loại chi phí tiền lương, tiền công khi tính thuế TNDN. Doanh nghiệp vẫn cần bảo đảm khoản chi tiền lương đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chi phí được trừ theo pháp luật thuế TNDN.

Đồng thời, nếu người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ BHXH theo quy định. Việc không đóng, chậm đóng hoặc trốn đóng BHXH có thể dẫn đến các nghĩa vụ và biện pháp xử lý riêng theo pháp luật về BHXH.

Không đóng BHXH từ năm 2026, chi phí tiền lương có bị loại khi tính thuế TNDN?

Không đóng BHXH từ năm 2026, chi phí tiền lương có bị loại khi tính thuế TNDN? (Hình từ Internet)

Khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng có phải đóng BHXH không?

Căn cứ theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về căn cứ đóng BHXH như sau:

Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
...
b) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
...

Tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định xác định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc như sau:

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội và được quy định chi tiết như sau:
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:
a) Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;
c) Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại điểm a khoản này, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.
...

Theo đó, trường hợp người lao động được trả các khoản hỗ trợ xác định được mức tiền cụ thể, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương thì mức tiền lương tháng đó được xác định mức tiền lương đóng BHXH bắt buộc.

Đồng thời, theo Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH năm 2025 của Cục tiền lương và bảo hiểm xã hội đã trả lời về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc như sau: Đối với các chế độ và phúc lợi khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH không phải là tiền lương làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, BHXH TP Hồ Chí Minh đã có Công văn 6101/BHXH-QLT năm 2026 Tải về hướng dẫn xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đối với khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng như sau:

1. Các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở nếu ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 10/2020/TTBLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) không phải là tiền lương thì không làm căn cứ tính đóng BHXH bắt buộc (kể cả trường hợp các khoản này được cố định và được chi trả ổn định hằng tháng).
Căn cứ để xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là nội dung được thỏa thuận trên hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật.

Như vậy, không phải tất cả khoản hỗ trợ trả cố định hằng tháng đều được xác định mức tiền lương đóng BHXH bắt buộc.đóng BHXH bắt buộc mà căn cứ để xác định mức tiền lương làm đóng BHXH bắt buộc là các khoản tiền được thỏa thuận trên hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật.

Cụ thể, đối với các khoản hỗ trợ điện thoại, đi lại, nhà ở nếu được ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH thì không phải là tiền lương và không làm căn cứ tính đóng BHXH bắt buộc, kể cả trường hợp các khoản hỗ trợ này được trả cố định hằng tháng.

Quy định đi làm dưới 14 ngày không phải đóng BHXH được hiểu như thế nào?

Theo khoản 5 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động như sau:

Mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động
...
5. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d và i khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này mà không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội tháng đó, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận về việc có đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tháng đó với căn cứ đóng bằng căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tháng gần nhất.
Đối tượng quy định tại các điểm đ, e và k khoản 1 Điều 2 của Luật này mà không làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
...

Theo đó, điều kiện để không phải đóng BHXH là người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, chứ không căn cứ vào số ngày đi làm thực tế.

Tuy nhiên, vẫn sẽ có những trường hợp vẫn phải đóng BHXH cụ thể:

Trường hợp 1: Có thỏa thuận tiếp tục đóng BHXH

Người sử dụng lao động và người lao động thống nhất vẫn tham gia BHXH trong tháng nghỉ không hưởng lương với mức đóng theo mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng gần nhất.

Trường hợp 2: Tháng đầu làm việc hoặc tháng đầu quay trở lại làm việc

Theo khoản 6 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định trường hợp trong tháng đầu làm việc hoặc trong tháng đầu trở lại làm việc mà người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên thì vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội của tháng đó.

Theo đó, nếu trong tháng đầu làm việc hoặc tháng đầu quay trở lại làm việc, người lao động nghỉ hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên thì vẫn phải đóng BHXH của tháng đó.

Đồng thời, điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cũng quy định mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động nghỉ ngày trong tháng đầu tham gia hoặc tháng đầu tham gia trở lại được tính trên tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng đó.

Trường hợp 3: Làm việc dưới 14 ngày nhưng hưởng lương 14 ngày trở lên

Đây là trường hợp thường phát sinh trên thực tế và dễ gây nhầm lẫn khi xác định nghĩa vụ đóng BHXH. Khi xác định có phải đóng BHXH hay không, không căn cứ vào số ngày đi làm thực tế mà căn cứ vào việc người lao động có không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng hay không.

Do đó, các ngày được hưởng nguyên lương vẫn được tính là ngày hưởng tiền lương, bao gồm:

- Nghỉ lễ, Tết theo Điều 112 Bộ luật Lao động 2019;

- Nghỉ hằng năm (phép năm) theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019;

- Nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương theo quy định theo Điều 115 Bộ luật Lao động 2019.

Do đó, mặc dù người lao động đi làm thực tế dưới 14 ngày nhưng nếu cộng cả các ngày nghỉ vẫn được hưởng nguyên lương thì tổng số ngày hưởng tiền lương trong tháng vẫn từ 14 ngày làm việc trở lên. Khi đó, người lao động vẫn phải tham gia BHXH bắt buộc.

Ví dụ: Người lao động trong tháng đi làm thực tế 12 ngày; Nghỉ kết hôn 03 ngày hưởng nguyên lương theo Điều 115 Bộ luật Lao động 2019. Do đó:

- Tổng số ngày hưởng tiền lương trong tháng là 15 ngày.

- Người lao động vẫn phải tham gia BHXH bắt buộc trong tháng đó.

Như vậy,

Việc cho rằng người lao động chỉ cần làm việc dưới 14 ngày trong tháng là không phải đóng BHXH là cách hiểu chưa đúng quy định pháp luật.

Cách hiểu đúng quy định pháp luật là chỉ khi không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động mới không phải đóng BHXH (trừ các trường hợp pháp luật quy định vẫn phải đóng hoặc hai bên có thỏa thuận tiếp tục tham gia).

Lưu ý: Khi xác định nghĩa vụ đóng BHXH, doanh nghiệp cần căn cứ vào việc người lao động có thuộc trường hợp không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng hay không, thay vì chỉ căn cứ vào số ngày đi làm thực tế. Đồng thời, cần tính cả các ngày nghỉ vẫn được hưởng nguyên lương theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 để xác định đúng nghĩa vụ tham gia BHXH.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Kế toán - Kiểm toán Xem thêm

Bài viết mới nhất