Hướng dẫn khai bổ sung chỉ tiêu 37 hoặc 38 theo quy định mới về thuế GTGT và hóa đơn?
>> Loạt chính sách mới từ ngày 1/11/2025 chính thức sẽ được áp dụng?
Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, người nộp thuế thực hiện khai bổ sung vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào bị sai, sot nếu việc khai thuế vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng phải nộp tăng thêm hoặc bị thu hồi số tiền thuế đã được hoàn tương ứng và nộp tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước (nếu có).
Người nộp thuế thực hiện khai vào tháng, quý phát hiện sai, sót nếu việc khai thuế vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng vào bị sai, sót làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chỉ làm tăng hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ chuyển sang tháng, quý sau.
Còn theo Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP thì ghi hóa đơn điều chỉnh, hóa đơn thay thế đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP thì người bán, người mua khai bổ sung vào kỳ phát sinh hóa đơn bị điều chỉnh, bị thay thế.
Như vậy, ví dụ đối với trường hợp viết sai hóa đơn, người bán lập hóa đơn điều chỉnh dẫn tới tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của người mua thì người mua sẽ kê bổ sung vào kỳ hóa đơn bị điều chỉnh theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 70/2025/NĐ-CP hay kê vào kỳ điều chỉnh theo Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.
Dưới đây là trường hợp cụ thể hướng dẫn khai bổ sung chỉ tiêu 37 hoặc 38 theo quy định mới về thuế GTGT và hóa đơn dễ hình dung:
Hiện hành, theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 liên quan đến khai sái, sót thuế GTGT đầu vào, không phải là khai thuế GTGT đầu vào của hóa đơn điều chỉnh, thay thế.
Ngoài ra, căn cứ theo khoản 5 Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP áp dụng về hóa đơn điều chỉnh, thay thế thì:
- Hóa đơn điều chỉnh, hóa đơn thay thế đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP thì người bán, người mua khai bổ sung vào kỳ phát sinh hóa đơn bị điều chỉnh, bị thay thế;
- Hóa đơn điều chỉnh đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP thì người bán kê khai vào kỳ phát sinh hóa đơn điều chỉnh, người mua kê khai vào kỳ nhận được hóa đơn điều chỉnh.
[1] Đối với người bán
- Trường hợp người bán viết sai hóa đơn, sau đó điều chỉnh hóa đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP, việc điều chỉnh làm tăng số thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ bán ra trên hóa đơn thì người bán khai bổ sung vào kỳ phát sinh hóa đơn bị điều chỉnh, bị thay thế (kỳ gốc) => theo quy định Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 70/2025/NĐ-CP
- Nếu việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp thì người bán phải nộp số chênh lệch tăng thêm và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước. Nếu khai bổ sung chỉ làm giảm số tiền thuế được khấu trừ thì người bán phải đồng thời khai giảm số khấu trừ đó vào chỉ tiêu 37 của kỳ phát sinh hóa đơn điều chỉnh (kỳ hiện tại) => theo Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024
[2] Đối với người mua
- Người mua khai bổ sung tăng số thuế GTGT được khấu trừ và kỳ phát sinh hóa đơn bị điều chỉnh, bị thay thế (kỳ gốc) theo quy định Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 70/2025/NĐ-CP
- Nếu việc khai bổ sung kỳ gốc làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế đầu vào được khấu trừ thì người mua khai vào chỉ tiêu 38 kỳ hiện tại theo Luật Thuế giá trị gia tăng 2024
- Hóa đơn đầu vào đã lập, không sai sót, không điều chỉnh, thay thế hóa đơn nhưng chưa kê khai dẫn đến hóa đơn bỏ sót thì chỉ thực hiện khai bổ sung theo Luật Thuế giá trị gia tăng 2024. Khai bổ sung vào chỉ tiêu 38 kỳ hiện tại do làm tăng số thuế được khấu trừ hoặc làm giảm số thuế phải nộp kỳ gốc
Ví dụ: Nghị định 181/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định về điều chỉnh thuế giá trị gia tăng trường hợp "người nộp thuế thực hiện khai vào tháng, quý phát hiện sai, sót nếu việc khai thuế vào tháng, quý phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào bị sai, sót làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chỉ làm tăng hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ chuyển sang tháng, quý sau.
=> Đối với trường hợp này thì người nộp thuế sẽ khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo quy định và khai vào chỉ tiêu 37 hoặc 38 của kỳ hiện tại chứ không kê khai thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trong kỳ.

Hướng dẫn khai bổ sung chỉ tiêu 37 hoặc 38 theo quy định mới về thuế GTGT và hóa đơn? (Hình từ Internet)
Có được khấu trừ thuế GTGT nếu sau thời hạn thanh toán mà có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt không?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
[1] Có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài;
[2] Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ;
[3] Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại Mục [1] và [2] còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có). Chính phủ quy định về điều kiện khấu trừ đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa qua sàn thương mại điện tử ở nước ngoài và một số trường hợp đặc thù khác.
Theo đó, một trong những điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT là phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
Đồng thời, Thuế tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Công văn 434/VLO-QLDN2 (Tải về) hướng dẫn về việc chậm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng.
Theo đó, đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 5 (năm) triệu đồng trở lên, mà đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng.
Nếu là hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng Công ty không có chứng từ thanh toán và Công ty đã kê khai điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ nhưng sau đó (sau thời hạn thỏa thuận trả chậm theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng) Công ty có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì trường hợp này cũng không được kê khai khấu trừ thuề GTGT đầu vào.
Dó đó, nếu sau thời hạn thanh toán mà chứng có từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cũng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Hóa đơn bán hàng có kê khai thuế GTGT không?
Đầu tiên, tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm b khoản 5 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP quy định về loại hóa đơn như sau:
Loại hóa đơn
Hóa đơn quy định tại Nghị định này gồm các loại sau:
...
2. Hóa đơn bán hàng là hóa đơn dành cho các tổ chức, cá nhân như sau:
a) Tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp sử dụng cho các hoạt động:
- Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nội địa;
- Hoạt động vận tải quốc tế;
- Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu;
- Xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài
b) Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ vào nội địa và khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với nhau, xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan”.
Doanh nghiệp chế xuất có hoạt động kinh doanh khác (ngoài hoạt động chế xuất theo quy định pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất) khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thì sử dụng hóa đơn theo điểm a khoản này. Doanh nghiệp chế xuất khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì sử dụng hóa đơn theo quy định tại khoản 1 Điều này.
...
Theo đó, có thể thấy hóa đơn bán hàng là hóa đơn dành cho các tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp.
Ngoài ra, căn cứ tại Điều 25 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ nộp thuế thuộc điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào cụ thể như sau:
Hóa đơn, chứng từ nộp thuế
Cơ sở kinh doanh phải có hóa đơn giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng (bao gồm cả chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng theo tỷ lệ % nhân với doanh thu thay cho phía nước ngoài).
Theo đó, để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì phải có hóa đơn giá trị gia tăng.
Như vậy, đối với trường hợp hóa đơn bán hàng không VAT để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì phải có hóa đơn giá trị gia tăng.
Đồng thời, đối với hóa đơn bán hàng (hóa đơn trực tiếp) không phải là hóa đơn GTGT, cho nên không kê khai vào tờ khai thuế GTGT và không được khấu trừ thuế GTGT đối với hóa đơn đầu vào.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];