Giấy xác nhận độc thân không dùng để đăng ký kết hôn thì dùng để làm gì?

Đoàn Tú Uyên 171 lượt xem
15:10 | 06/04/2025
Hiện nay, giấy xác nhận độc thân không dùng để đăng ký kết hôn thì dùng để làm gì?
Nội dung chính
  1. Đăng ký kết hôn có cần giấy xác nhận độc thân không?
  2. Giấy xác nhận tình độc thân không dùng để đăng ký kết hôn thì dùng để làm gì?
  3. Con chung có được giảm trừ người phụ thuộc cho cả hai vợ chồng?

Đăng ký kết hôn có cần giấy xác nhận độc thân không?

Giấy xác nhận độc thân thực chất là tên gọi thông thường của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Đây là loại giấy tờ do cơ quan hộ tịch cấp, dùng để xác định tình trạng hôn nhân của một cá nhân, bao gồm việc xác nhận người đó đang độc thân, đã kết hôn nhưng đã ly hôn, hoặc đã có vợ/chồng nhưng người đó đã qua đời. Giấy xác nhận này thường được yêu cầu trong các trường hợp kết hôn hoặc các giao dịch pháp lý khác liên quan đến tình trạng hôn nhân.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, Chính Phủ ban hành Nghị định 07/2025/NĐ-CP quy định thay đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực.

Căn cứ tại Điều 1 của Nghị định 07/2025/NĐ-CP có quy định như sau:

Bộ Tư pháp đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm triển khai các nội dung sau:
1. Chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với các Sở, ngành liên quan phổ biến, quán triệt nội dung của Nghị định số 07/2025/NĐ-CP tới cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trong đó tập trung lưu ý một số nội dung:
- Khi tiếp nhận yêu cầu đăng ký khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch không yêu cầu xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ trẻ đã đăng ký kết hôn, trừ trường hợp cha, mẹ trẻ là người nước ngoài); khi tiếp nhận yêu cầu đăng ký kết hôn, cơ quan đăng ký hộ tịch không yêu cầu nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Trích lục ghi chú ly hôn (đối với công dân Việt Nam) mà thực hiện tra cứu thông tin về tình trạng hôn nhân của cha, mẹ trẻ, tra cứu thông tin về tình trạng hôn nhân của người yêu cầu đăng ký kết hôn trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp không tra cứu được tình trạng hôn nhân do chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiến hành xác minh theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP.

Theo quy định trên, hiện nay công dân Việt Nam đăng ký kết hôn thì không cần sử dụng giấy xác nhận độc thân nữa. Đây là một điểm mới quan trọng trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch.

Giấy xác nhận độc thân không dùng để đăng ký kết hôn thì dùng để làm gì?

Giấy xác nhận độc thân không dùng để đăng ký kết hôn thì dùng để làm gì? (Hình từ Internet)

Giấy xác nhận tình độc thân không dùng để đăng ký kết hôn thì dùng để làm gì?

Căn cứ tại khoản 3 Điều 23 Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sẽ ghi mục đích sử dụng. Vậy nên, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.

Trước đây, giấy xác nhận độc thân hay còn gọi là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thường được dùng để đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, ngoài để đăng ký kết hôn thì giấy xác nhận tình trạng hôn nhân còn được sử dụng để thực hiện một số giao dịch.

Căn cứ tại Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Trong các giao dịch liên quan đến tài sản, dù pháp luật không quy định cụ thể việc phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, nhưng theo khoản 1 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải dựa trên sự thỏa thuận giữa hai bên.

Vì vậy, nếu tài sản đó là tài sản chung mà chỉ một bên vợ, chồng tham gia giao dịch, điều này có thể dẫn đến rủi ro pháp lý.

Do đó, trên thực tế, việc yêu cầu Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi thực hiện các giao dịch về tài sản là cần thiết để giảm thiểu các rủi ro phát sinh từ những tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

Con chung có được giảm trừ người phụ thuộc cho cả hai vợ chồng?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC như sau:

Các khoản giảm trừ
1. Giảm trừ gia cảnh
...
c.2) Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc
...
c.2.4) Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế.
...

Theo quy định trên thì mỗi người phụ thuộc chỉ được giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong một năm tính thuế.

Vậy nên trong trường hợp hai vợ chồng có chung một người phụ thuộc thì phải thỏa thuận để người phụ thuộc đó chỉ giảm trừ vào thu nhập tính thuế của người vợ hoặc người chồng chứ không được giảm trừ cho cả hai.

Logo Thư viện Pháp luật
Đoàn Tú Uyên Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất