Đề xuất quy định mới về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết như thế nào?
Hiện tại, Bộ Tài chính đang xây dựng Dự thảo Nghị định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết của những doanh nghiệp có quan hệ liên kết (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định).
>> Tải về Dự thảo Nghị định về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết của doanh nghiệp có quan hệ liên kết
Theo đó, dự thảo Nghị định nêu về nguyên tắc, phương pháp, trình tự xác định yếu tố hình thành giá giao dịch liên kết; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong xác định giá giao dịch liên kết, thủ tục kê khai; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết.
Kế thừa những quy định còn phù hợp tại 13 điều của Nghị định 132/2020/NĐ-CP gồm các nội dung: Điều 1 (phạm vi điều chỉnh); Điều 6 đến Điều 15 (phân tích, so sánh, lựa chọn đối tượng, so sánh độc lập và các phương pháp xác định giá giao dịch liên kết); Điều 16 (xác định chi phí tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết); Điều 23 (Trách nhiệm thi hành).
Sửa đổi, bổ sung những nội dung bất cập phát sinh trong thực tế (sửa đổi, bổ sung tại 10 điều gồm: Điều 2, Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 17, Điều 18, Điều 20, Điều 21, Điều 22 Nghị định 132/2020/NĐ-CP).
Một số đề xuất quy định mới về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết như sau:
Về cơ sở dữ liệu sử dụng trong kê khai, xác định, quản lý giá giao dịch liên kết Dự thảo sửa đổi, bổ sung các nội dung sau: Sửa đổi, bổ sung cơ sở dữ liệu thương mại (cơ sở dữ liệu của người nộp thuế) theo hướng dẫn chiếu thực hiện quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật Quản lý thuế 2025 và các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế. Bổ sung cơ sở dữ liệu quản lý thuế (cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế) theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Quản lý thuế 2025 và các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế để cơ quan thuế có thêm thông tin, dữ liệu khi xác định giá giao dịch liên kết. Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết Sửa đổi, bổ sung quy định về quyền của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết theo hướng dẫn chiếu thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế 2025 Nội dung cụ thể được thể hiện tại khoản 1 Điều 18 dự thảo Nghị định như sau: Quyền của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết thực hiện theo quy định tài khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế 2025 Sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết theo hướng dẫn chiếu thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Quản lý thuế 2025 Sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ của người nộp thuế liên quan đến Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) Nội dung cụ thể được thể hiện tại điểm a khoản 3 Điều 18 dự thảo Nghị định như sau: Trường hợp người nộp thuế là Công ty mẹ tối cao tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong năm tài chính liền kề trước năm báo cáo tương đương từ 750 triệu Euro trở lên, có trách nhiệm lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này và nộp cho cơ quan thuế qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Hệ thống thông tin quản lý thuế hoặc qua tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN theo định dạng XML đã được mã hóa. Tỷ giá áp dụng là tỷ giá trung tâm hoặc trung bình tỷ giá tính chéo của tháng 12 năm liền kề trước năm báo cáo được tham chiếu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. |
>> Xem chi tiết Dự thảo Nghị định về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết của doanh nghiệp có quan hệ liên kết Tải về

Đề xuất quy định mới về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết như thế nào? (Hình từ Internet)
Chi trả lãi vay giao dịch liên kết của doanh nghiệp có được trừ khi tính thuế TNDN?
Căn cứ theo điểm d khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:
Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
...
2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:
a) Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Khoản tiền phạt do vi phạm hành chính;
c) Khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác;
d) Phần chi vượt mức do Chính phủ quy định đối với: chi phí quản lý kinh doanh do doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam; chi phí thuê quản lý hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh casino; chi trả lãi tiền vay của doanh nghiệp có giao dịch liên kết; chi có tính chất phúc lợi trực tiếp cho người lao động; khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hoặc quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động;
đ) Phần trích lập không đúng hoặc vượt mức theo quy định của pháp luật về trích lập dự phòng;
e) Khoản trích khấu hao tài sản cố định không đúng hoặc vượt mức quy định của pháp luật;
g) Khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định của pháp luật;
...
Như vậy, phần chi trả lãi vay của doanh nghiệp có giao dịch liên kết vượt mức do Chính phủ quy định thì không được trừ khi tính thuế TNDN.
Khi nào thì xem các bên có quan hệ liên kết theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP?
Tại Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 20/2025/NĐ-CP quy định các bên có quan hệ liên kết là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp:
- Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia;
- Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.
Các bên liên kết tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
- Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia;
- Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện tổng dư nợ các khoản vốn vay của doanh nghiệp đi vay với doanh nghiệp cho vay hoặc bảo lãnh ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng dư nợ tất cả các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.
Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP không áp dụng với các trường hợp sau:
+ Bên bảo lãnh hoặc cho vay là các tổ chức kinh tế hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp đi vay hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định tại các điểm a, c, đ, e, g, h, k, l và m khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP
+ Bên bảo lãnh hoặc cho vay là các tổ chức kinh tế hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đi vay hoặc được bảo lãnh không trực tiếp, gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư của một bên khác theo quy định tại các điểm b, e và i khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP
- Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;
- Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;
- Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
- Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;
- Các doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của cá nhân này vào doanh nghiệp đó hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp;
- Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp (bao gồm cả chi nhánh hạch toán độc lập thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp) chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia.
- Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP.
- Tổ chức tín dụng với Công ty con hoặc với Công ty kiểm soát hoặc với Công ty liên kết của tổ chức tín dụng theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có)
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];