Chính thức tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN toàn bộ từ ngày 01/7/2026 hay 01/01/2026?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 25,564 lượt xem
07:24 | 01/07/2026
Chính thức tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN toàn bộ từ ngày 01/7/2026 hay 01/01/2026?
Nội dung chính
  1. Chính thức tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN toàn bộ từ ngày 01/7/2026 hay 01/01/2026?
  2. Tổng hợp những phản hồi về việc miễn thuế TNCN tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm của Bộ Tài chính?
  3. Thử việc có được miễn thuế TNCN tiền ăn ca và tiền lương làm thêm giờ không?

Chính thức tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN toàn bộ từ ngày 01/7/2026 hay 01/01/2026?

Mới:

>> Hướng dẫn gửi và theo dõi phản hồi nghĩa vụ thuế trên eTax Mobile mới nhất nhất hiện nay?

Đầu tiên, tại Điều 29 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về điều khoản thi hành như sau:

Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
3. Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 48/2024/QH15, Luật số 56/2025/QH15, Luật số 71/2025/QH15, Luật số 93/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành; riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú hết hiệu lực thi hành từ kỳ tính thuế năm 2026.
4. Trường hợp có quy định khác nhau về ưu đãi thuế giữa Luật này với Luật Thủ đô, nghị quyết của Quốc hội và giải pháp quy định tại điểm h khoản 8 Điều 10 của Luật Tổ chức Chính phủ thì áp dụng theo Luật Thủ đô, nghị quyết của Quốc hội và giải pháp quy định tại điểm h khoản 8 Điều 10 của Luật Tổ chức Chính phủ. Trường hợp quy định tại Luật này ưu đãi hơn thì người nộp thuế được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi có lợi nhất.

Có thể thấy, hiệu lực thi hành chung của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 bắt đầu từ ngày 01/7/2026. Tuy nhiên, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ được áp dụng từ kỳ tính thuế 2026.

Mà tại Điều 3 Luật Quản lý thuế 2019 quy định về kỳ tính thuế là khoảng thời gian để xác định số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế.

Năm tính thuế được xác định theo năm dương lịch từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12; trường hợp năm tài chính khác năm dương lịch thì năm tính thuế áp dụng theo năm tài chính.

Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2026, khi mà Luật Quản lý thuế 2025 chính thức có hiệu lực thi hành thì tại Điều 4 Luật Quản lý thuế 2025 về cơ bản cũng đã kế thừa và bổ sung thêm quy định từ Luật cũ, cụ thể:

Kỳ tính thuế, kỳ tính khoản thu khác (sau đây gọi là kỳ tính thuế) là khoảng thời gian để xác định số tiền thuế, khoản thu khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan bao gồm kỳ theo từng lần phát sinh, tháng, quý, năm hoặc kỳ quyết toán.

Nhưng khi Luật Quản lý thuế 2025 chính thức có hiệu lực thì tại Luật này không còn quy định về năm tính thuế nữa.

Nhưng tại các văn bản Luật điều chỉnh cụ thể cho từng sắc thuế thì vẫn còn quy định, cụ thể:

Về kỳ tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ quy định tại Điều 6 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về kỳ tính thuế theo năm đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập khác của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú; thời điểm xác định thu nhập tính thuế; quyết toán thuế; hoàn thuế đối với trường hợp cá nhân có số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp hoặc chưa đến mức phải nộp; trách nhiệm khấu trừ, khai thay, nộp thay cho người nộp thuế phù hợp với quy định của Luật Quản lý thuế 2025.

Về kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp: Căn cứ quy định tại Điều 5 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 thì kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp cụ thể như sau:

- Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính do doanh nghiệp lựa chọn. Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn năm tài chính khác với năm dương lịch thì thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thực hiện.

- Kỳ tính thuế đối với doanh nghiệp sau đây thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế:

+ Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;

+ Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số, nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

Từ những căn cứ trên, có thế thấy dù Luật Quản lý thuế 2019 có hiệu lực đến 30/6/2026 và Luật Quản lý thuế 2025 tiếp tục hiệu lực từ ngày 01/7/2026 trở đi thì việc doanh nghiệp được phép chọn kỳ tính thuế theo năm dương lịch hay năm tài chính vẫn đều không ảnh hưởng bởi vẫn còn những luật điều chỉnh riêng.

Tuy nhiên, đối với tiền lương làm thêm giờ thì không xác định theo năm tài chính mà bắt buộc phải xác định theo năm dương lịch. Cụ thể, tại Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đã quy định thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Mà thu nhập từ tiền lương, tiền công được áp dụng từ kỳ tính thuế 2026 (bắt đầu theo năm dương lịch từ ngày 01/01/2026 - 31/12/2026). Do đó mà tiền lương làm thêm giờ cũng bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 chứ không phải là ngày 01/7/2026.

Tuy nhiên, không phải đối tượng người nộp thuế nào cũng được miễn thuế TNCN toàn bộ đối với tiền lương làm thêm giờ ở cùng một thời điểm mà sẽ chia ra hai mốc thời gian cụ thể như sau:

[1] Đối với người nộp thuế là cá nhân cư trú thì tiền lương làm thêm giờ chính thức được miễn toàn bộ thuế TNCN từ ngày 01/01/2026.

[2] Đối với người nộp thuế là cá nhân không cư trú thì tiền lương làm thêm giờ chính thức được miễn toàn bộ thuế TNCN từ ngày 01/07/2026.

Trước ngày 01/7/2026 thì tiền lương làm thêm giờ của cá nhân không cư trú chỉ được miễn thuế TNCN đối với phần tiền lương làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm trong giờ theo quy định của pháp luật (theo Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007).

Chính thức tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN toàn bộ từ ngày 01/7/2026 hay 01/01/2026?

Chính thức tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN toàn bộ từ ngày 01/7/2026 hay 01/01/2026? (Hình từ Internet)

Tổng hợp những phản hồi về việc miễn thuế TNCN tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm của Bộ Tài chính?

Ngày 29/05/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn 7257/BTC-CST năm 2026 Tải về về Bản giải trình, tiếp thu dự án Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.

Theo đó, Bộ Tài chính đã tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, tham vấn chính sách của dự án Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, trong đó, nội dung về miễn thuế TNCN đối với khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ như sau:

ĐIỀU, KHOẢN

CHỦ THỂ GÓP Ý/ THAM VÁN/ PHẢN BIỆN

NỘI DUNG GÓP Ý/ THAM VÁN/ PHẢN BIỆN

NỘI DUNG TIẾP THU, GIẢI TRÌNH

Điều 26. Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép





Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (công văn số 5018/DONNVDTPC ngày 07/4/2026)

Dự thảo Nghị định quy định nội dung về Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép được miễn thuế.

Tại khoản 9 Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định thu nhập được miễn thuế: “9. Phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.”. Hiện nay, tại khoản 9 Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định thu nhập được miễn thuế TNCN chỉ bao gồm phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, Dự thảo Nghị định đang mở rộng phạm vi miễn thuế, theo đó toàn bộ khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ và tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép (trong phạm vi phù hợp quy định pháp luật về lao động) đều được miễn thuế; chỉ tính thuế đối với phần vượt mức quy định.

Về bản chất chính sách, quy định tại Dự thảo là có lợi cho người lao động, góp phần tăng thu nhập thực nhận. Tuy nhiên, xét về nguyên tắc điều tiết thu nhập và đảm bảo công bằng thuế, quy định này là chưa thực sự hợp lý, do: Chưa phân biệt rõ giữa thu nhập mang tính bù đắp điều kiện lao động đặc thù (phần trả cao hơn) và thu nhập mang tính tiền lương thông thường; Có thể dẫn đến giảm nguồn thu ngân sách và tạo chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các nhóm lao động

Kiến nghị:

- Giữ nguyên nguyên tắc như quy định hiện hành tại Nghị định 65/2013/NĐ-CP, theo đó: Chỉ miễn thuế TNCN đối với phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc trong giờ theo quy định của pháp luật.

- Đề xuất định hướng chính sách bổ sung: Mặc dù việc mở rộng miễn thuế đối với thu nhập từ làm thêm giờ là có lợi cho người lao động và doanh nghiệp, tuy nhiên để đảm bảo đúng mục tiêu an sinh và công bằng, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét: Nới lỏng và mở rộng các khoản giảm trừ đối với Chi phí y tế; Chi phí giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ. Đây là các khoản chi mang tính thiết yếu, trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và năng lực của người lao động và người phụ thuộc, phù hợp định hướng chính sách dài hạn hơn so với việc ưu đãi theo hình thức làm thêm giờ.

Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nguyên nội dung như tại dự thảo Nghị định. Nội dung này đã được quy định tại Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.


Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (công văn số 1897/DAN-NVDTPC ngày 08/4/2026)

Đề xuất chỉnh sửa khoản 1 thành: “1. Miễn thuế TNCN đối với phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ và các khoản hỗ trợ thêm cho người lao động (đã được quy định cụ thể trong quy chế làm việc của đơn vị khi làm việc vào ban đêm) phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.”

Lý do: Để đảm bảo công bằng đối với người lao động làm việc ở ca ban ngày, ca hành chính nhưng cũng nhằm động viên, hỗ trợ cho người lao động làm việc vào ban đêm do tính chất đặc thù của công việc.

Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nguyên nội dung như tại dự thảo Nghị định. Nội dung này đã được quy định tại Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15


Công ty TNHH Thuế và Tư vấn KPMG

“Điều 26. Tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép

1. Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.”

- Dự thảo quy định: “Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ phù hợp với quy định về điều kiện thời gian theo pháp luật về lao động” nhưng không nêu rõ chỉ miễn phần trả cao hơn so với làm việc trong điều kiện bình thường hay miễn toàn bộ khoản tiền lương, tiền công cho thời gian làm đêm, làm thêm giờ.

- Về yêu cầu “lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động” có thể bị hiểu là:

+ Nếu không lập bảng kê theo đúng quy định thì không được áp dụng miễn thuế;

+ Bảng kê chỉ là một loại chứng từ phục vụ việc kiểm tra, thanh tra; tổ chức trả thu nhập vẫn có thể chứng minh bằng các tài liệu hợp pháp khác (bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động…)

Đề xuất:

- Đề nghị làm rõ phạm vi miễn thuế, ưu tiên theo pháp luật quy định tại Bộ luật Lao Động 2019

- Đối với chứng từ chứng minh, đề nghị bổ sung: “Trường hợp không lập bảng kê riêng, tổ chức, cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm chứng minh khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ thông qua bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và các tài liệu hợp pháp khác.” Ngoài ra, về mức độ chi tiết của bảng kê, đề nghị soạn thảo hướng dẫn theo hướng linh hoạt, chỉ yêu cầu thể hiện rõ tổng số giờ làm đêm, làm thêm giờ và tổng số tiền tương ứng theo từng kỳ trả lương, tránh yêu cầu quá chi tiết đến từng ca/từng giờ nếu không thật sự cần thiết, để giảm bớt gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp.

Tiếp thu và hoàn thiện tại dự thảo Nghị định theo hướng: Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.

Tổ chức trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc, khoản tiền lương làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại tổ chức trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế. Trường hợp không lập bảng kê riêng, tổ chức trả thu nhập có trách nhiệm chứng minh khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc thông qua bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và các tài liệu hợp pháp khác.

2. Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, khoản 1 Điều 11 Luật Cán bộ công chức 2025, khoản 1 Điều 14 Luật Viên chức 2025.




Về khoản 2 Điều 26:

“2. Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.”

Cụm từ “tiền lương, tiền công trả cho những ngày nghỉ phép theo quy định của pháp luật” có thể có các cách hiểu khác nhau:

+ Cách thứ nhất: Là tiền lương trả cho những ngày nghỉ hàng năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết của NLĐ khi NLĐ thôi việc hoặc mất việc theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ Luật Lao động 2019.

+ Cách thứ hai: Là tiền lương trả cho những ngày nghỉ hàng năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết của NLĐ, không phân biệt NLĐ có thuộc trường hợp thôi việc/mất việc hay vẫn tiếp tục làm việc (Công ty chi trả theo hướng có lợi cho NLĐ).

+ Cách thứ ba: NLĐ đã có kế hoạch nghỉ phép (lý do chính đáng theo yêu cầu công việc hoặc thỏa thuận với công ty…) thì toàn bộ tiền lương đi làm vào ngày nghỉ phép này (lẽ ra phải được nghỉ nhưng không nghỉ) được miễn thuế.

Đề xuất:

Đề nghị làm rõ các trường hợp tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép thuộc diện được miễn thuế và bổ sung chi tiết vào Khoản 2, Điều 26 của dự thảo Nghị định.

Nội dung này đã được cơ quan soạn thảo giải trình ở trên


Công ty TNHH Tư vấn Thuế Deloitte Việt Nam

Đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 26:

“1. Miễn thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động.

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập xác định thu nhập được miễn thuế đối với làm việc ban đêm, làm thêm giờ căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả tương ứng với thời gian làm việc ban đêm, làm thêm giờ.

Đối với các trường hợp làm việc theo nhiều khung giờ, thu nhập được miễn thuế xác định tương ứng với thời gian thực tế làm việc ban đêm, làm thêm giờ, trên cơ sở phương pháp hợp lý và nhất quán.

Việc xác định thu nhập được miễn thuế căn cứ vào hồ sơ, tài liệu do đơn vị trả thu nhập quản lý theo quy định và xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu.

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.”

Chúng tôi ghi nhận và đánh giá cao định hướng của Bộ Tài chính trong việc mở rộng phạm vi miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ làm việc ban đêm theo Luật Thuế TNCN 109/2025/QH15 và Dự thảo Nghị định hướng dẫn. Đây là một bước điều chỉnh tích cực, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc hỗ trợ người lao động làm việc trong điều kiện đặc thù, đặc biệt tại các ngành nghề có yêu cầu vận hành ngoài giờ hành chính.

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, làm việc ban đêm được xác định trong khung thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, và người lao động được hưởng mức trả cao hơn so với làm việc ban ngày. Trước đây, chính sách thuế chỉ miễn đối với phần thu nhập tăng thêm do làm đêm; trong khi đó, quy định mới đã mở rộng phạm vi miễn thuế đối với toàn bộ tiền lương, tiền công phát sinh từ thời gian làm việc ban đêm.

Từ góc độ thực tiễn triển khai, chúng tôi cho rằng cách tiếp cận mới mang ý nghĩa hỗ trợ tích cực. Tuy nhiên, để đảm bảo tính nhất quán và khả thi trong áp dụng, một số nội dung có thể cần được làm rõ thêm, cụ thể:

- Về phạm vi áp dụng, cần có hướng dẫn rõ hơn đối với các trường hợp làm việc theo ca linh hoạt hoặc kết hợp nhiều khung giờ, nhằm đảm bảo việc xác định thu nhập được miễn thuế được thực hiện thống nhất giữa các doanh nghiệp.

- Về phương pháp xác định thu nhập, trong trường hợp thiếu hướng dẫn cụ thể, có thể phát sinh cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa người nộp thuế và cơ quan quản lý, đặc biệt đối với các mô hình lao động có tính chất vận hành liên tục.

Với tinh thần hỗ trợ hoàn thiện chính sách theo hướng đơn giản, minh bạch và dễ thực thi, chúng tôi đề xuất cơ quan soạn thảo cân nhắc một số nội dung sau.

Thứ nhất, về phạm vi và cách xác định thu nhập được miễn thuế: Chúng tôi hiểu rằng Dự thảo đã quy định nguyên tắc miễn thuế đối với thu nhập từ làm việc ban đêm và làm thêm giờ phù hợp với điều kiện và thời gian theo pháp luật lao động. Để hỗ trợ việc triển khai thống nhất trong thực tế, đối với các trường hợp làm việc theo nhiều khung giờ hoặc theo hình thức tổ chức lao động đặc thù, có thể cân nhắc cho phép doanh nghiệp xác định phần thu nhập được miễn thuế tương ứng với thời gian thực tế làm việc ban đêm, làm thêm giờ, trên cơ sở tiền lương thực trả, thay vì yêu cầu tách riêng từng cấu phần thu nhập.

Thứ hai, về hồ sơ và chứng từ: Để đảm bảo tính khả thi và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, có thể cho phép doanh nghiệp sử dụng các tài liệu hiện hành làm căn cứ xác định, bao gồm:

- Hợp đồng lao động / phụ lục hợp đồng (nếu có quy định về ca làm việc)

- Quy chế nội bộ hoặc chính sách nhân sự

- Bảng chấm công

- Bảng lương mà không cần bổ sung thêm các loại hồ sơ hoặc biểu mẫu riêng.

Thứ ba, về hướng dẫn áp dụng: Có thể cân nhắc bổ sung hướng dẫn mang tính nguyên tắc đối với các trường hợp làm việc theo nhiều khung giờ trong cùng một ngày hoặc theo lịch làm việc linh hoạt, nhằm đảm bảo cách hiểu và áp dụng thống nhất giữa các doanh nghiệp và cơ quan thuế, đồng thời hạn chế nhu cầu giải trình trong quá trình thanh tra, kiểm tra.

Nội dung này đã được cơ quan soạn thảo giải trình nêu trên.


Công ty TNHH Canon Việt Nam

Dựa vào nội dung, doanh nghiệp có thể hiểu quy định theo 2 hướng sau:

1. Toàn bộ tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ phù hợp điều kiện, thời gian pháp luật lao động được miễn thuế. Phần chi trả vượt quy định sẽ chịu thuế TNCN.

Ví dụ:

- Lương làm việc ca đêm = 130% lương ngày thì toàn bộ 130% lương này sẽ được miễn thuế

2. Phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm trong giờ, và không vượt giới hạn theo PL về lao động được miễn thuế, phần chi trả vượt quá sẽ chịu thuế TNCN:

Ví dụ:

- Lương làm việc ca đêm = 130% lương ngày trong đó 100% lương ngày chịu thuế, 30% không chịu thuế

- Nếu DN trả cao hơn thì 130% chịu thuế TNCN Chúng tôi hiểu theo tinh thần của ban soạn thảo là miễn toàn bộ thuế cho toàn bộ lương làm đêm, làm thêm giờ, vì vậy, đề nghị sửa quy định rõ hơn để DN có thể dễ dàng áp dụng.

Sửa quy định theo hướng rõ hơn:

“1. Miễn thuế TNCN đối với toàn bộ tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động...”

Nội dung này đã được cơ quan soạn thảo giải trình nêu trên. Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15, tại dự thảo Nghị định quy định: Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, khoản 1 Điều 11 Luật Cán bộ công chức 2025, khoản 1 Điều 14 Luật Viên chức 2025.


Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (công văn số 0685/LĐTM-PC ngày 16/4/2026)

Khoản 2, khoản 3 Điều 26 Dự thảo quy định:

“2. Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

3. Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.”.

Quy định về số ngày phép năm được quy định tại Điều 113 Bộ luật Lao động 2019. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động khuyến khích người sử dụng lao động thỏa thuận các điều khoản về điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động trong đó có nghỉ phép. Thực tế, nhiều doanh nghiệp cung cấp cho người lao động số ngày nghỉ phép năm nhiều hơn so với quy định của luật lao động và sử dụng cho cả năm.

Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, đề nghị trường hợp chi trả tiền lương, tiền công cho những ngày không nghỉ phép thuộc phần phép năm doanh nghiệp tăng thêm cho người lao động (tăng thêm so với quy định tại Điều 113 Bộ luật lao động 2019) đã được quy định trong hợp đồng lao động/thỏa ước lao động tập thể/quy chế nội bộ sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế. Đồng thời, bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về cách xác định phần vượt với trường hợp vẫn áp dụng việc tính thuế đối với phần vượt mức để tránh khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động khi thực hiện.

Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15, tại dự thảo Nghị định quy định: Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, khoản 1 Điều 11 Luật Cán bộ công chức 2025, khoản 1 Điều 14 Luật Viên chức 2025.


Hiệp hội thương mại Mỹ tại Việt Nam (công văn ngày 18/05/2026)

Về khoản 2 và khoản 3 Điều 26:

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đang áp dụng chính sách nghỉ phép năm cho người lao động với số ngày nghỉ phép năm cao hơn quy định tại Điều 113 Bộ luật lao động 2019. Tuy nhiên, Dự thảo Nghị định hiện chưa làm rõ việc trong trường hợp doanh nghiệp quy định số ngày nghỉ phép cao hơn mức nêu trên, thì tiền lương chi trả cho các ngày nghỉ phép chưa sử dụng có bị coi là “vượt mức” hay không.

Trong khi đó, Bộ luật Lao động khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng các chế độ có lợi hơn so cho người lao động so với mức tối thiểu theo luật định. Do đó tiền lương chi trả cho số ngày nghỉ phép năm cao hơn mức quy định tại pháp luật lao động không nên bị xem là “vượt mức”, miễn là việc xác định và chỉ trả các khoản này được thực hiện phù hợp, minh bạch và theo chính sách của doanh nghiệp.

Đề nghị sửa đổi dự thảo theo hướng làm rõ rằng trong trường hợp doanh nghiệp quy định số ngày nghỉ phép năm cao hơn mức quy định tại pháp luật lao động, và nội dung này được ghi nhận hợp lệ trong quy chế nội bộ của doanh nghiệp hoặc thỏa ước lao động tập thể, hoặc hợp đồng lao động, hoặc phụ lục hợp đồng lao động, thì tiền lương chỉ trả tương ứng với số ngày nghỉ phép tăng thêm nhưng không được sử dụng không nên bị coi là khoản chi “vượt mức” để làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.

Việc xác định thời gian nghỉ phép theo quy định của pháp luật về lao động. Tại dự thảo Nghị định hoàn thiện như sau: Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, khoản 1 Điều 11 Luật Cán bộ công chức 2025, khoản 1 Điều 14 Luật Viên chức 2025.

Thử việc có được miễn thuế TNCN tiền ăn ca và tiền lương làm thêm giờ không?

*Tiền ăn ca:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC quy định như sau:

Các khoản thu nhập chịu thuế
Theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
...
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:
...
g) Không tính vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản sau:
...
g.5) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn.
Trường hợp người sử dụng lao động không tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa mà chi tiền cho người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Trường hợp mức chi cao hơn mức hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
...

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 34 Nghị định 44/2025/NĐ-CP về quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước quy định:

Tổ chức thực hiện
...
19. Chế độ ăn giữa ca hoặc ăn định lượng đối với người lao động. Ban điều hành, Thành viên Hội đồng. Kiểm soát viên được thực hiện theo thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy, quy chế của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động.
...

Theo Công văn 1811/VLO-QLDN3 năm 2025 Tải về hướng dẫn chi tiền ăn ca cho người lao động như sau:

Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty chi trả cho bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động theo khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Như vậy, Công ty chi trả cho bữa ăn sáng, ăn tối cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không thuộc trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.

Theo đó, tiền ăn ca cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính thuế TNCN.

Đồng thời, trường hợp tiền ăn ca được quy định cụ thể về điều kiện hưởng, mức hưởng trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy, quy chế của công ty thì không tính thuế TNCN. Nếu mức chi tiền vượt quá quy định thì phần vượt sẽ tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

Như vậy, tiền ăn ca cho người lao động đang trong thời gian thử việc là khoản tiền không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Tuy nhiên, mức tiền ăn ca vượt quá quy định tại hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy, quy chế của công ty thì phần vượt sẽ tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

*Tiền lương làm thêm giờ:

Căn cứ tại khoản 8 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thu nhập miễn thuế TNCN như sau:

Thu nhập được miễn thuế
...
8. Tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật.
9. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chỉ trả; thu nhập do quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, quỹ hưu trí tự nguyện chi trả.
...

Đồng thời, tại Điều 29 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời gian áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương tiền công như sau:

Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
...

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
...
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Theo đó, khoản tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền trả công cho những ngày không nghỉ phép phát sinh trong kỳ tính thuế TNCN năm 2026 (từ ngày 01/01/2026 đến 31/12/2026) thuộc diện được miễn thuế TNCN.

Tuy nhiên, không phải đối tượng người nộp thuế nào cũng được miễn toàn bộ thuế TNCN đối với tiền lương làm thêm giờ ở cùng một thời điểm mà sẽ chia ra hai mốc thời gian cụ thể như sau:

[1] Người nộp thuế là cá nhân cư trú thì tiền lương làm thêm giờ chính thức được miễn toàn bộ thuế TNCN từ ngày 01/01/2026 đáp ứng 1 trong các điều kiện sau đây

- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong 01 năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;

- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.

[2] Đối với người nộp thuế là cá nhân không cư trú (là người không đáp ứng các điều kiện của cá nhân cư trú) thì tiền lương làm thêm giờ chính thức được miễn toàn bộ thuế TNCN từ ngày 01/07/2026.

Do đó, trong thời gian thử việc phát sinh tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm theo đúng quy định của pháp luật lao động thì toàn bộ khoản thu nhập này thuộc diện miễn thuế TNCN.

Lưu ý: Hiện hành, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thay thế Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, có hiệu lực từ 1/7/2026 (riêng một số quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, tiền lương tiền công của cá nhân cư trú có hiệu lực từ 1/1/2026). Tuy nhiên, Bộ Tài chính chưa ban hành Thông tư hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thay thế Thông tư 111/2013/TT-BTC nên người nộp thuế tạm thời tham khảo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC để thực hiện.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất