Công ty có thể chậm trả lương cho người lao động tối đa bao nhiêu ngày?

Lê Bửu Yến 902 lượt xem
09:59 | 14/02/2025
Theo quy định hiện hành thì công ty có thể chậm trả lương cho người lao động tối đa bao nhiêu ngày?
Nội dung chính
  1. Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thông qua các hình thức nào?
  2. Công ty có thể chậm trả lương cho người lao động tối đa bao nhiêu ngày?
  3. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương là bao lâu?

Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thông qua các hình thức nào?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 có quy định như sau:

Hình thức trả lương
1. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
2. Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.
Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo đó, người sử dụng lao động có thể trả lương cho người lao động bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản ngân hàng cá nhân của người lao động.

Công ty có thể chậm trả lương cho người lao động tối đa bao nhiêu ngày?

Công ty có thể chậm trả lương cho người lao động tối đa bao nhiêu ngày?

Công ty có thể chậm trả lương cho người lao động tối đa bao nhiêu ngày?

Căn cứ theo Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định về nguyên tắc trả lương như sau:

Nguyên tắc trả lương
1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
...

Đồng thời tại khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định về kỳ hạn trả lương như sau:

Kỳ hạn trả lương
...
4. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Theo đó, về nguyên tắc công ty phải trả lương đúng hạn theo như đã thỏa thuận với người lao động trong hợp đồng lao động.

Tuy nhiên trong trường hợp bất khả kháng mà công ty đã dùng mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể trả lương đúng hạn cho người lao động thì có thể trả lương chậm nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày đến kỳ trả lương theo thỏa thuận.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương là bao lâu?

Căn cứ theo Điều 190 Bộ luật Lao động 2019 quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như sau:

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
4. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Theo đó, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động được quy định cụ thể là:

- Đối với thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải viên lao động: 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi người lao động cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm;

- Đối với thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động: 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi người lao động cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm;

- Đối với thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án: 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi người lao động cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Bửu Yến Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hợp đồng lao động Xem thêm

Lao Động Tiền Lương
Ký hợp đồng ngày 16 thì báo tăng vào tháng nào?

Ký hợp đồng lao động ngày 16 thì có phải báo tăng BHXH ngay trong tháng đó không? Trường hợp người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì việc đóng và báo tăng BHXH được xác định như thế nào?

Lao Động Tiền Lương
Công ty cho nghỉ việc vì lý do nghỉ ốm quá lâu, có đúng luật?

Người lao động nghỉ ốm trong thời gian dài có bị công ty cho nghỉ việc hay không? Pháp luật quy định thế nào về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi người lao động điều trị bệnh, nghỉ hưởng chế độ ốm đau?

Bài viết mới nhất