Công văn 14425/HYE-QLDN1 2026 xử lý hóa đơn khi bên thuê lại đất chấm dứt dự án được hướng dẫn thế nào?
Ngày 18/8/2026, Thuế tỉnh Hưng Yên ban hành Công văn 14425/HYE-QLDN1 năm 2026 về chính sách thuế.
Xem toàn bộ Công văn 14425 HYE QLDN1 2026 về xử lý hoá đơn và nghĩa vụ thuế khi bên thuê lại đất chấm dứt dự án dưới đây:
Căn cứ quy định và theo nội dung nêu tại Công văn của đơn vị, trường hợp Công ty S thuê hạ tầng khu công nghiệp của Công ty V. Công ty S đã nhận bàn giao đất, thanh toán đầy đủ tiền thuê hạ tầng khu công nghiệp cho Công ty V và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khi trả lại đất thuê cho Công ty V, đề nghị Công ty V căn cứ tình hình thực tế và Hợp đồng giữa 2 bên để xác định việc lập hoá đơn giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghi định 254/2026/NĐ-CP, điểm c khoản 5 Điều 10 Thông tư 91/2026/TT-BTC. Trường hợp phát sinh hoạt động chuyển nhượng bất động sản, Công ty S thực hiện kê khai thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản theo quy định tại Chương IV Nghị định 320/2025/NĐ-CP. Đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, khi Công ty V nhận hoàn trả quyền sử dụng đất từ Công ty S thì thực hiện kê khai nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định tiết c.1 điểm c khoản 1 Điều 25 Thông tư 89/2026/TT-BTC. |
Về việc xử lý hoá đơn và nghĩa vụ thuế khi bên thuê lại đất chấm dứt dự án, Thuế tỉnh Hưng Yên có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghi định 254/2026/NĐ-CP quy định:
[...]
Trên đây là thông tin: Công văn 14425 HYE QLDN1 2026 xử lý hóa đơn khi bên thuê lại đất chấm dứt dự án được hướng dẫn thế nào?

Công văn 14425/HYE-QLDN1 2026 xử lý hóa đơn khi bên thuê lại đất chấm dứt dự án được hướng dẫn thế nào? (Hình từ Internet)
Hóa đơn điện tử của cơ quan thuế cấp theo từng lần phát sinh không bắt buộc có chữ ký số của người bán và người mua đúng không?
Tại khoản 9 Phụ lục Nội dung hoá đơn ban hành kèm theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP có quy định như sau:
9. Một số trường hợp hóa đơn điện tử không nhất thiết có đầy đủ các nội dung
a) Trên hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký số của người mua (bao gồm cả trường hợp lập hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng ở nước ngoài). Trường hợp người mua là cơ sở kinh doanh và người mua, người bán có thỏa thuận về việc người mua đáp ứng các điều kiện kỹ thuật để ký số, ký điện tử trên hóa đơn điện tử do người bán lập thì hóa đơn điện tử có chữ ký số, ký điện tử của người bán và người mua theo thỏa thuận giữa hai bên;
b) Đối với hóa đơn điện tử của cơ quan thuế cấp theo từng lần phát sinh không nhất thiết phải có chữ ký số của người bán, người mua;
c) Đối với hóa đơn điện tử bán hàng tại siêu thị, trung tâm thương mại, rạp chiếu phim mà người mua là cá nhân không cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người mua thì trên hóa đơn không nhất thiết phải có tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người mua, chữ ký số của người mua.
Đối với hóa đơn điện tử bán xăng dầu cho khách hàng là cá nhân không cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người mua thì không nhất thiết phải có các chỉ tiêu: Tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người mua, chữ ký số của người mua;
Theo đó đối với hóa đơn điện tử của cơ quan thuế cấp theo từng lần phát sinh không nhất thiết phải có chữ ký số của người bán, người mua.
Xử lý sự cố hóa đơn điện tử như thế nào?
Theo Điều 14 Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định xử lý sự cố hóa đơn điện tử như sau:
(1). Trường hợp người bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế nhưng gặp sự cố dẫn đến không sử dụng được hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế thì liên hệ với cơ quan thuế hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ để hỗ trợ xử lý sự cố. Trong thời gian xử lý sự cố, người bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có yêu cầu sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế thì đến cơ quan thuế để sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.
(2). Trường hợp sự cố từ hệ thống cấp mã của cơ quan thuế
Trường hợp hệ thống cấp mã hóa đơn điện tử của cơ quan thuế gặp sự cố kỹ thuật dẫn đến gián đoạn việc cấp mã, Cục Thuế có trách nhiệm: kích hoạt hệ thống dự phòng để bảo đảm hoạt động cấp mã; thông báo công khai trên Trang thông tin điện tử của Cục Thuế về phạm vi ảnh hưởng, thời điểm bắt đầu và dự kiến thời gian khắc phục; trường hợp cần thiết, ủy quyền cho tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử đủ điều kiện thực hiện cấp mã theo quy định.
(3). Trường hợp do lỗi hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử thì tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử có trách nhiệm thông báo cho người bán được biết, phối hợp với Cục Thuế để được hỗ trợ kịp thời. Tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử phải khắc phục nhanh nhất sự cố, có biện pháp hỗ trợ người bán lập hóa đơn điện tử để gửi cơ quan thuế cấp mã trong thời gian ngắn nhất.
(4). Trường hợp Hệ thống thông tin quản lý thuế gặp lỗi kỹ thuật chưa tiếp nhận được dữ liệu hóa đơn điện tử không có mã, Cục Thuế có trách nhiệm thông báo trên Trang thông tin điện tử của Cục Thuế. Trong thời gian này tổ chức kinh tế, tổ chức khác, tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử tạm thời chưa chuyển dữ liệu hóa đơn không có mã đến cơ quan thuế.
Trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày Cục Thuế có thông báo Hệ thống thông tin quản lý thuế hoạt động trở lại bình thường, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử chuyển dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế.
(5). Trong trường hợp bất khả kháng theo quy định tại khoản 21 Điều 4 Luật Quản lý thuế 2025 gồm chiến tranh, bạo loạn, đình công phải ngừng, nghỉ sản xuất, kinh doanh hoặc rủi ro không thuộc nguyên nhân, trách nhiệm chủ quan của người bán mà người bán hoặc cơ quan thuế không thể thực hiện việc lập, cấp mã hoặc truyền dữ liệu hóa đơn điện tử đúng thời hạn:
- Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày sự cố được khắc phục, người bán được thực hiện việc lập và gửi hóa đơn điện tử tới cơ quan thuế;
- Người bán có trách nhiệm ghi chép sổ sách kế toán về giao dịch mua bán, lưu giữ tài liệu chứng minh trường hợp bất khả kháng theo quy định.
(6). Việc lập, gửi hóa đơn, chuyển dữ liệu hóa đơn quá thời hạn do các nguyên nhân trên được xác định là trường hợp bất khả kháng theo quy định pháp luật về quản lý thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];