Chính thức tiền bản quyền âm nhạc của tác giả phần lời nhận 30%, phần nhạc nhận 70% từ 01/09/2026 ra sao?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 287/2026/NĐ-CP (Có hiệu lực từ 01/09/2026) quy định khác về tiền bản quyền âm nhạc, tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác như sau:
Điều 12. Quy định khác về tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác
1. Trường hợp tác phẩm âm nhạc có cả nhạc và lời thì tác giả phần nhạc hưởng 70% và tác giả phần lời hưởng 30% mức tiền bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc đó.
2. Trường hợp chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu thì biên kịch chuyển thể hưởng bằng 70% mức tiền bản quyền đối với biên kịch của tác phẩm cùng thể loại và quy mô quy định tại Điều 10 của Nghị định này, phần còn lại được trả cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm chuyển thể.
[...]
Như vậy, từ 01/09/2026, tác phẩm âm nhạc có cả nhạc và lời thì tác giả phần nhạc hưởng 70% và tác giả phần lời hưởng 30% mức tiền bản quyền âm nhạc đó.
Trên đây là thông tin: Chính thức tiền bản quyền âm nhạc của tác giả phần lời nhận 30%, phần nhạc nhận 70% từ 01/09/2026 ra sao?

Chính thức tiền bản quyền âm nhạc của tác giả phần lời nhận 30%, phần nhạc nhận 70% từ 01/09/2026 ra sao? (Hình từ Internet)
Chưa đạt trình độ đại học âm nhạc có được gia nhập Hội Nhạc sĩ Việt Nam không?
Căn cứ Điều 9 Điều lệ (sửa đổi) Hội Nhạc sĩ Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định 124/2005/QĐ-BNV quy định điều kiện gia nhập Hội Nhạc sĩ Việt Nam như sau:
- Các nhạc sĩ sáng tác, lý luận, biểu diễn và đào tạo là công dân Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng về âm nhạc, tán thành tôn chỉ mục đích Hội, tự nguyện xin vào Hội và chấp hành Điều lệ Hội đều có thể trở thành hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
- Có quan điểm, lập trường chính trị đúng đắn, lý lịch rõ ràng.
- Có trình độ đại học âm nhạc (hoặc tương đương). Trong một số trường hợp đặc biệt chưa đạt trình độ đại học có thể xét các tiêu chuẩn sau: Có tác phẩm, công trình có giá trị, có thành tích nghệ thuật âm nhạc xứng đáng đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển âm nhạc Việt Nam.
Như vậy, người chưa đạt trình độ đại học âm nhạc được gia nhập Hội Nhạc sĩ Việt Nam khi có tác phẩm, công trình có giá trị, có thành tích nghệ thuật âm nhạc xứng đáng đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển âm nhạc Việt Nam và đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc sáng tác như thế nào?
Căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như sau:
Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
[...]
d) Tác phẩm âm nhạc;
[...]
Căn cứ theo Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về quyền tác giả như sau:
Điều 18. Quyền tác giả
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Theo đó, tác phẩm âm nhạc là một trong các loại hình tác phẩm nghệ thuật được bảo hộ quyền tác giả.
Như vậy, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Thứ nhất, đối với quyền nhân thân: (căn cứ tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022)
- Đặt tên cho tác phẩm.
Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005;
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Thứ hai, đối với quyền tài sản: (Căn cứ theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022)
* Quyền tài sản bao gồm:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 20 Luật sỡ hữu trí tuệ 2005;
- Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình;
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
* Các quyền quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
* Chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
- Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
- Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Lưu ý: Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];