17:16 | 13/09/2016
Loading...

Xin nghỉ 1 tháng để chuẩn bị đám cưới

Công ty tôi ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) 1 năm từ tháng 8-2013 đến tháng 8-2014 với một nhân viên. Nhân viên này sắp kết hôn nên muốn xin nghỉ việc từ tháng 7. Anh này còn muốn nghỉ thêm 1 tháng trước khi nghỉ hẳn để chuẩn bị đám cưới. Việc nghỉ việc của nhân viên này ảnh hưởng đến công việc của công ty nên chúng tôi muốn giải quyết theo 2 hướng sau: Có thể cho nhân viên này nghỉ 1 tháng như nguyện vọng nhưng yêu cầu làm đến hết tháng 9; hoặc không cho nhân viên này nghỉ khoảng thời gian 1 tháng kia có được không? Nếu nhân viên này vẫn tự ý nghỉ thì sẽ xử lý thế nào?

Trước tiên, tôi đề cập tới khoảng thời gian 1 tháng xin nghỉ việc riêng để chuẩn bị đám cưới. Theo Điều 116, Bộ luật Lao động về nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương, người lao động được nghỉ 3 ngày hưởng nguyên lương trong trường hợp kết hôn. Ngoài ra, người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương. Do đó, nếu người lao động đề nghị và công ty đồng ý, người lao động được phép nghỉ không hưởng lương 1 tháng để chuẩn bị đám cưới. Nếu công ty không đồng ý, người lao động sẽ không được phép nghỉ. Trong trường hợp này, nếu người lao động vẫn cố tình nghỉ thì được xem là tự ý nghỉ việc không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại Khoản 3, Điều 126, Bộ luật Lao động về áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải, hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 1 năm mà không có lý do chính đáng. Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động. 
Để xử lý kỷ luật sa thải, căn cứ Khoản 1, Điều 123, Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động; phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật; và việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.
Đối với việc xin nghỉ việc từ tháng 7: Theo Điểm d, Khoản 1, Điều 37, Bộ luật Lao động, người lao động làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn trong trường hợp sau: Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động. Theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 37, Bộ luật Lao động, khi người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 37, Bộ luật Lao động, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn.
Chiếu theo quy định nêu trên, nhân viên đó muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn với lý do là sắp kết hôn, theo quan điểm của chúng tôi, đây không phải là trường hợp bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ, nên người lao động không thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn mà chỉ có thể thỏa thuận với công ty về việc chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Khoản 3, Điều 36, Bộ luật Lao động.
Trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, theo quy định tại Điều 43, Bộ luật Lao động, nhân viên đó không được trợ cấp thôi việc, phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty, nếu có.
Đối với yêu cầu làm đến hết tháng 9, tôi cho rằng, yêu cầu này có liên quan đến thời hạn của hợp đồng lao động. Vì hai bên đã ký HĐLĐ với thời hạn đến tháng 8-2014, nên nếu buộc người lao động làm việc đến hết tháng 9, hai bên cần phải ký phụ lục hợp đồng nhằm sửa đổi, bổ sung HĐLĐ. Bạn lưu ý rằng, nếu không thực hiện việc giao kết phụ lục hợp đồng lao động, công ty có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý về loại hợp đồng lao động, BHXH, xử phạt hành chính…
 

Thư Viện Pháp Luật

TRA CỨU HỎI ĐÁP
Hỏi đáp mới nhất về
Đặt câu hỏi

Quý khách cần hỏi thêm thông tin về có thể đặt câu hỏi tại đây.

Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Giấy phép số: 27/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP. HCM cấp ngày 09/05/2019.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: 028 3930 3279
Địa chỉ: P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;
Địa điểm Kinh Doanh: Số 17 Nguyễn Gia Thiều, P. Võ Thị Sáu, Q3, TP. HCM;
Chứng nhận bản quyền tác giả số 416/2021/QTG ngày 18/01/2021, cấp bởi Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch
Thông báo
Bạn không có thông báo nào