Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 70-NQ/TW Loại văn bản: Nghị quyết
Nơi ban hành: Ban Chấp hành Trung ương Người ký: Tô Lâm
Ngày ban hành: 20/08/2025 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

Bộ Chính trị yêu cầu cơ cấu lại ngành điện để người dân được lựa chọn nhà cung cấp phù hợp

Ngày 20/8/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Bộ Chính trị yêu cầu cơ cấu lại ngành điện để người dân được lựa chọn nhà cung cấp phù hợp

Nghị quyết của Bộ Chính trị nêu rõ: Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng đã duy trì tăng trưởng ổn định, cơ bản bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh đất nước và nâng cao đời sống người dân.

Tuy vậy, ngành năng lượng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Một số hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra trong Nghị quyết 55 vẫn chưa được khắc phục triệt để. Nhiều chỉ tiêu của Nghị quyết 55 khó đạt được. Thể chế, chính sách, công tác quản lý phát triển ngành năng lượng còn bất cập. Tiến độ thực hiện nhiều dự án điện còn chậm; tiềm năng về năng lượng chưa được khai thác hiệu quả. Nguồn cung năng lượng còn phụ thuộc vào nhập khẩu, nguy cơ thiếu điện cho giai đoạn tăng trưởng hai con số là hiện hữu. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Hệ thống điện phát triển chưa đồng bộ, thông minh; lưới điện chưa kết nối hiệu quả với các dự án nguồn. Công nghệ trong một số lĩnh vực chậm được đổi mới; tỷ lệ nội địa hoá đối với một số thiết bị quan trọng chưa cao. Chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động trong một số lĩnh vực còn thấp; thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, nhất là thị trường điện còn nhiều hạn chế; chính sách giá năng lượng còn bất cập, chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường; vẫn còn tình trạng bù chéo giá điện đối với một số nhóm khách hàng.

Chính vì vậy, Nghị quyết đưa ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo, thúc đẩy phát triển năng lượng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đáng chú ý, Nghị quyết yêu cầu phát triển thị trường điện theo hướng tăng cường tính cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, đồng bộ với bảo đảm an ninh năng lượng.

Triển khai thực hiện hiệu quả cơ chế mua bán điện trực tiếp, đồng thời tăng cường quyền lựa chọn của khách hàng sử dụng điện trong việc tiếp cận và lựa chọn đơn vị cung cấp điện phù hợp với nhu cầu.
 
Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành điện, tăng cường tính cạnh tranh, minh bạch và bền vững. Phát triển cân đối, hợp lý giữa các nguồn điện, bảo đảm yêu cầu cao nhất là đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, từng bước thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải.

Xem thêm nội dung chi tiết tại Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025.

 

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số 70-NQ/TW

Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2025

 

NGHỊ QUYẾT

CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

VỀ BẢO ĐẢM AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW, ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng đã duy trì tăng trưởng ổn định, cơ bản bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh đất nước và nâng cao đời sống người dân.

Tuy vậy, ngành năng lượng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Một số hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra trong Nghị quyết 55 vẫn chưa được khắc phục triệt để. Nhiều chỉ tiêu của Nghị quyết 55 khó đạt được. Thể chế, chính sách, công tác quản lý phát triển ngành năng lượng còn bất cập. Tiến độ thực hiện nhiều dự án điện còn chậm; tiềm năng về năng lượng chưa được khai thác hiệu quả. Nguồn cung năng lượng còn phụ thuộc vào nhập khẩu, nguy cơ thiếu điện cho giai đoạn tăng trưởng hai con số là hiện hữu. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Hệ thống điện phát triển chưa đồng bộ, thông minh; lưới điện chưa kết nối hiệu quả với các dự án nguồn. Công nghệ trong một số lĩnh vực chậm được đổi mới; tỉ lệ nội địa hoá đối với một số thiết bị quan trọng chưa cao. Chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động trong một số lĩnh vực còn thấp; thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, nhất là thị trường điện còn nhiều hạn chế; chính sách giá năng lượng còn bất cập, chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường; vẫn còn tình trạng bù chéo giá điện đối với một số nhóm khách hàng.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do: Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của ngành năng lượng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, nhất là cơ chế, chính sách huy động nguồn lực cho phát triển năng lượng, khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, quy hoạch điều chỉnh thiếu linh hoạt, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, nhất là quy hoạch điện. Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp. Chiến lược phát triển năng lượng, đặc biệt trong ngành điện chưa ổn định, đồng bộ; chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và một số ngành liên quan. Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về năng lượng chưa quyết liệt, toàn diện, đồng bộ; chưa chú trọng các biện pháp quản trị và ứng phó rủi ro; công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chưa hiệu quả. Chưa tạo được đột phá về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành năng lượng.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, nhất là thực hiện 2 mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045, công tác bảo đảm an ninh năng lượng có vai trò rất quan trọng, năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Bộ Chính trị yêu cầu tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1. Đảng lãnh đạo toàn diện; Nhà nước kiến tạo thể chế, chính sách đột phá và kiểm soát hạ tầng năng lượng chiến lược; người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể phát triển năng lượng quốc gia, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia phải được lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện tập trung, thống nhất, đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả.

2. Phát triển năng lượng phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và linh hoạt trong thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Xây dựng thị trường năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, minh bạch, đa dạng hóa hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh; áp dụng giá thị trường đối với mọi loại hình năng lượng, không bù chéo giữa các nhóm khách hàng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, nhất là khu vực tư nhân tham gia phát triển năng lượng; bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong phát triển các dự án năng lượng.

3. Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước, chú trọng bình ổn, điều tiết và bảo đảm dự trữ năng lượng quốc gia; phát triển điện hạt nhân, điện khí; có lộ trình giảm tỉ trọng điện than một cách hợp lý. Cơ cấu tối ưu hệ thống năng lượng quốc gia, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng và địa phương.

4. Khuyến khích đầu tư và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tăng năng suất lao động và đổi mới mô hình tăng trưởng, coi đây vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của toàn xã hội; khuyến khích đầu tư và sử dụng công nghệ, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường.

5. Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ngành năng lượng; từng bước làm chủ công nghệ hiện đại, công nghệ năng lượng nguyên tử, tiến tới tự chủ sản xuất được phần lớn các thiết bị năng lượng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu cả về công nghệ và thiết bị.

II- MỤC TIÊU, TẦM NHÌN

1. Mục tiêu tổng quát đến năm 2030

Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định, chất lượng cao, giảm phát thải cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước chuyển đổi năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và cam kết quốc tế. Ngành năng lượng phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác nhanh và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước kết hợp với xuất nhập khẩu năng lượng hợp lý; năng lượng được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn. Nhiều vật tư thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng được sản xuất trong nước; lưới truyền tải, phân phối điện được xây dựng hiện đại, thông minh.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

- Tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 150 - 170 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất các nguồn điện khoảng 183 - 236 GW hoặc có thể cao hơn tùy thuộc vào nhu cầu hệ thống và tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo thời kỳ; tổng sản lượng điện khoảng 560 - 624 tỉ KWh. Tỉ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25 - 30%.

- Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng khoảng 120 - 130 triệu tấn dầu quy đổi.

- Hệ thống điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối an toàn với lưới điện khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Độ tin cậy cung cấp điện năng và chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN.

- Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước; mức dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng. Phát triển cơ sở đầy đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) theo nhu cầu cấp cho các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác; hình thành các trung tâm năng lượng tập trung khí LNG hài hòa các vùng miền.

- Tỉ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 8 - 10%.

- Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 15 - 35%.

3. Tầm nhìn đến năm 2045

Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; thị trường năng lượng cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; ngành năng lượng phát triển đồng bộ, bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; hệ thống hạ tầng năng lượng thông minh, hiện đại, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế; chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học - công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ ngang với các nước công nghiệp phát triển hiện đại.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong bảo đảm an ninh năng lượng

Cấp ủy đảng và chính quyền các cấp xác định rõ phát triển năng lượng quốc gia là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, cần nghiêm túc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong ngành năng lượng; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương và địa phương, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tập trung, đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nhất là đối với các quy hoạch năng lượng; bảo đảm chất lượng, tiến độ các dự án phát triển năng lượng.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và Nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của an ninh năng lượng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Chú trọng tuyên truyền, nâng cao ý thức, thay đổi hành vi sử dụng năng lượng; phát động, triển khai hiệu quả các phong trào trong cộng đồng doanh nghiệp và người dân về chuyển đổi năng lượng, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả gắn với bảo vệ môi trường. Phổ biến, nhân rộng các mô hình, giải pháp sản xuất và sử dụng năng lượng tái tạo hiệu quả, phù hợp với điều kiện của từng vùng, địa phương, nhất là các mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ tại doanh nghiệp, hộ gia đình, mô hình cộng đồng năng lượng; thúc đẩy phát triển mua bán điện trực tiếp cả nguồn và tải điện.

2. Hoàn thiện thể chế, chính sách để trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển năng lượng

Quyết tâm, quyết liệt hoàn thiện và tổ chức triển khai hiệu quả pháp luật về điện lực, dầu khí, địa chất và khoáng sản, năng lượng nguyên tử, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế trong quy hoạch, cấp phép, huy động vốn,... cho các dự án về năng lượng; có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội để thu hút và triển khai các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách của quốc gia.

Hoàn thiện chính sách tài chính theo hướng huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào các dự án trong lĩnh vực năng lượng theo hình thức nhà đầu tư độc lập hoặc đối tác công tư (PPP). Đổi mới chính sách tín dụng theo hướng linh hoạt, hiệu quả, ưu tiên bố trí vốn tín dụng cho lĩnh vực năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp năng lượng tiếp cận các nguồn vốn; có nguồn vốn, gói tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp có dự án năng lượng xanh, sạch, công nghệ mới, doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống dự trữ năng lượng, nghiên cứu, phát triển và sản xuất thiết bị năng lượng trong nước. Hoàn thiện chính sách thuế để khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các trang thiết bị sản xuất trong nước. Nhà nước có cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện các dự án năng lượng phi lợi nhuận, thân thiện môi trường.

Xây dựng khung chính sách đủ mạnh để khuyến khích các hộ sử dụng điện lớn xây dựng hệ thống thu hồi năng lượng để sản xuất điện; có cơ chế, chính sách ưu đãi hợp lý để phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ năng lượng; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phát triển mạnh các hệ thống xử lý rác có thu hồi năng lượng; thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ carbon thấp, trung hoà carbon. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả.

Khẩn trương ban hành, công khai danh mục các dự án năng lượng; thực hiện có chọn lọc cơ chế đấu thầu cạnh tranh kết hợp với giao thực hiện các dự án năng lượng có quy mô lớn, đầu tư tại khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng. Kiểm soát hiệu quả việc ký kết hợp đồng mua bán điện trực tiếp (PPA). Hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, nhất là trong đầu tư, mua sắm, đấu thầu, triển khai các dự án năng lượng, nhất là các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển năng lượng, đặc biệt trong ngành điện, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, gắn kết với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các ngành khác; quy hoạch năng lượng có tính mở, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm phục vụ phát triển, phân phối hài hòa cho các ngành, lĩnh vực, vùng miền (công nghiệp, nông nghiệp, chuyển đổi số, quốc phòng, an ninh, đô thị, nông thôn, vùng sâu, vùng xa...). Giao trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong tổ chức triển khai thực hiện các quy hoạch phát triển năng lượng, đặc biệt là Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; trong trường hợp cần thiết, kịp thời rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế. Trường hợp việc lập, thẩm định các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách của quốc gia có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch; sau khi dự án được phê duyệt, các quy hoạch có liên quan phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh, cập nhật và công bố.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, thống nhất, liên thông giữa các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái tạo, kết nối với thị trường khu vực và thế giới. Xây dựng giá năng lượng minh bạch do thị trường quyết định, có sự quản lý của Nhà nước, không thực hiện bù chéo; Nhà nước điều tiết hợp lý thông qua các công cụ thị trường và thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội. Cải cách triệt để các thủ tục hành chính, cắt giảm 30 - 50% thời gian thực hiện, chi phí tuân thủ và điều kiện kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi trong đầu tư, kinh doanh, xây dựng, vận hành các dự án năng lượng. Trong năm 2025, phải hoàn thành việc tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế cản trở sự phát triển của ngành năng lượng.

3. Phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng

Xây dựng kịch bản, lộ trình thực hiện cụ thể bảo đảm năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, bao gồm cả nguồn trong nước và nhập khẩu. Có cơ chế ưu tiên cho việc chủ động phát triển năng lượng trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu, ưu tiên tăng cường khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng trong nước. Có giải pháp tổng thể, đồng bộ, khả thi, nâng định mức năng lượng sơ cấp trên đầu người lên thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN. Triển khai xây dựng và hình thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, khí hóa lỏng, điện, lọc, hóa dầu, năng lượng tái tạo tại các địa phương có lợi thế, đồng bộ với chính sách về khai thác, bao tiêu sản lượng, giá khí tự nhiên trong nước. Khẩn trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án năng lượng trọng điểm, đặc biệt là các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải; có chế tài nghiêm khắc đối với các nhà đầu tư đăng ký phát triển các dự án năng lượng nhưng chậm hoặc không triển khai làm ảnh hưởng đến an ninh năng lượng quốc gia. Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng.

- Về dầu khí: Đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; nâng cao hệ số thu hồi, tận thu các mỏ nhỏ, khối sót cận biên. Có chiến lược chủ động, hiệu quả trong hợp tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài. Đẩy nhanh khai thác các mỏ khí trong nước gắn với các chuỗi dự án khí điện, bảo đảm lợi ích tổng thể quốc gia. Phát triển công nghiệp khí; ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhập khẩu, dự trữ và tiêu thụ LNG. Xây dựng chính sách giá khí hợp lý bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên liên quan; phát triển thị trường khí đạt khoảng 30 - 35 tỉ m3/năm. Tiếp tục thu hút đầu tư trong lĩnh vực lọc hóa dầu theo hướng chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm xăng dầu, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng đến xuất khẩu phù hợp nhu cầu thị trường và phù hợp lộ trình dịch chuyển năng lượng. Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng dầu khí đá phiến, khí hydrate; sớm triển khai đánh giá tổng thể, đẩy nhanh khai thác thử nghiệm.

- Về than: Triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển ngành than trong bối cảnh mới. Đẩy mạnh khai thác than trong nước bảo đảm an toàn, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên; có cơ chế hợp lý và linh hoạt trong việc khai thác và nhập khẩu than để phục vụ nhu cầu trong nước. Thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài để thăm dò, khai thác loại than mà Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu. Tăng cường năng lực nhập khẩu và chế biến than quốc gia, bảo đảm có dự trữ đủ lớn để hạn chế bị động khi thị trường thế giới có biến động. Mở rộng tìm kiếm, thăm dò, nâng cao chất lượng công tác đánh giá trữ lượng và tài nguyên; khẩn trương nghiên cứu công nghệ, phương pháp thích hợp để thăm dò bể than Sông Hồng. Tăng cường cơ giới hóa, hiện đại hóa thiết bị sàng, tuyển và khai thác than. Rà soát, đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tối ưu hóa các giải pháp cung cấp than ổn định cho sản xuất điện phù hợp với cơ chế thị trường. Dự trữ than đáp ứng yêu cầu sản xuất, nhất là sản xuất điện.

- Về năng lượng tái tạo, năng lượng mới: Ban hành, thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách về tiêu chuẩn, tỉ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu đầu tư và cung cấp năng lượng; triển khai thị trường Chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC). Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa năng lượng hóa thạch. Ưu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời; khuyến khích phát triển tại các vùng, địa phương có lợi thế. Nghiên cứu, đánh giá tổng thể về tiềm năng và xây dựng định hướng phát triển năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thủy triều, hải lưu...; triển khai một số mô hình ứng dụng, tiến hành khai thác thử nghiệm để đánh giá hiệu quả. Thử nghiệm mô hình sản xuất, sử dụng năng lượng hydrogen, các dẫn xuất hydrogen, amoniac; khai thác điện gió ngoài khơi, điện mặt trời gắn với sản xuất hydrogen, amoniac.

- Về điện: Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành điện, tăng cường tính cạnh tranh, minh bạch và bền vững. Phát triển cân đối, hợp lý giữa các nguồn điện, bảo đảm yêu cầu cao nhất là đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, từng bước thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải. Phát triển nguồn điện cân đối hợp lý theo lợi thế vùng, miền, địa phương hướng tới cân bằng cung - cầu nội vùng, giảm tối đa tổn thất truyền tải. Ưu tiên phát triển các dự án nguồn điện có công suất lớn, hiệu quả cao, thân thiện môi trường. Có phương án mở rộng, khai thác hiệu quả công suất các nhà máy điện, dự án nguồn điện hiện có theo hướng chọn lọc, ưu tiên các nhà máy có tiềm năng, hoạt động hiệu quả. Chủ động phương án xuất, nhập nguồn điện tại những địa điểm và thời điểm phù hợp, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và hiệu quả kinh tế.

Thực hiện hiệu quả các Chương trình quản lý nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải; giảm cường độ tiêu thụ và tổn thất điện năng bảo đảm cạnh tranh so với các quốc gia có cùng trình độ phát triển. Hiện đại hóa hệ thống điều độ điện, áp dụng công nghệ giám sát, điều khiển kỹ thuật tự động, thông minh; bên cạnh truyền tải điện xoay chiều, nghiên cứu ứng dụng truyền tải siêu cao áp, một chiều, truyền tải ngầm dưới biển.

Đối với thủy điện: Phát huy, mở rộng tối đa công suất của các nhà máy hiện có. Tiếp tục phát triển có chọn lọc một số thủy điện nhỏ và vừa, đẩy nhanh tiến độ các dự án thủy điện tích năng. Tăng cường hợp tác phát triển thủy điện với các nước gắn với nhập khẩu điện dài hạn từ nước ngoài.

Đối với điện gió và điện mặt trời: Ưu tiên phát triển phù hợp với khả năng bảo đảm an toàn hệ thống với giá thành điện hợp lý, đặc biệt là các nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ, điện mặt trời mái nhà. Khẩn trương xây dựng chính sách tháo gỡ khó khăn, chính sách pháp lý hỗ trợ và cơ chế đột phá cho phát triển điện gió ngoài khơi; nghiên cứu, giao nhiệm vụ cho một số doanh nghiệp lớn nhà nước, tư nhân có uy tín, thương hiệu, có thực lực để thực hiện nhiệm vụ phát triển các dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Xây dựng cơ chế đặc thù xử lý dứt điểm những vướng mắc, khó khăn đối với các dự án điện gió, điện mặt trời để bổ sung nguồn điện quốc gia, tránh lãng phí nguồn lực đầu tư xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà đầu tư trên tinh thần "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ"; xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định pháp luật.

Đối với nhiệt điện: Phát triển nhiệt điện khí, ưu tiên sử dụng nguồn khí trong nước; khẩn trương rà soát, tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy triển khai các dự án điện khí, LNG, nhất là cơ chế về giá mua bán điện. Rà soát, lập kế hoạch triển khai nâng cấp công nghệ, nâng cao hiệu suất để đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường của các nhà máy điện than hiện có. Có cơ chế khuyến khích chuyển đổi nhiên liệu đối với các nhà máy nhiệt điện than.

Đối với điện đồng phát, điện tận dụng nhiệt dư, khí dư, sinh khối, rác thải và chất thải rắn: Khai thác tối đa nguồn điện đồng phát sinh khối; đẩy mạnh phát triển các nguồn điện từ xử lý rác thải đô thị, chất thải rắn và sinh khối; khuyến khích phát điện từ thu hồi khí dư, nhiệt dư, nước dư của các nhà máy; các loại hình nguồn điện này được phát triển không bị giới hạn bởi quy mô quy hoạch.

Đối với điện hạt nhân: Khẩn trương triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 với các đối tác phù hợp, bảo đảm lợi ích cao nhất của Việt Nam có tính đến thỏa thuận trước đây, đưa vào vận hành trong giai đoạn 2030 - 2035. Xây dựng Chương trình phát triển điện hạt nhân theo các quy mô linh hoạt và các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp module nhỏ; đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu, phát triển công nghệ năng lượng nguyên tử, từng bước làm chủ công nghệ điện hạt nhân, bao gồm công nghệ lò phản ứng hạt nhân; lựa chọn công nghệ tiên tiến, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối và tối ưu hóa hiệu quả tổng thể về kinh tế - xã hội; khuyến khích doanh nghiệp khu vực nhà nước và tư nhân tham gia phát triển điện hạt nhân module nhỏ.

- Về tăng cường dự trữ năng lượng chiến lược, lưu trữ năng lượng: Xây dựng và triển khai chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia; chiến lược quản lý, sử dụng, dự trữ và bảo vệ khoáng sản chiến lược phục vụ phát triển năng lượng. Đầu tư xây dựng hệ thống kho dự trữ dầu thô, xăng dầu, khí đốt và than phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng quốc gia cả trên đất liền và trên biển. Phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng phù hợp với tỉ lệ năng lượng tái tạo ngày càng cao hơn để nâng cao độ tin cậy và sự ổn định của hệ thống điện. Đầu tư xây dựng các hệ thống pin lưu trữ quy mô lớn và các loại hình lưu trữ năng lượng tiên tiến khác.

- Về xây dựng ngành năng lượng và phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng: Xây dựng các tập đoàn công nghiệp năng lượng trong nước có đủ khả năng làm tổng thầu EPC các dự án có quy mô lớn hiện đại và triển khai chiến lược phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng trong nước. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh và có thị trường tiêu thụ lớn như sản xuất thiết bị điện, thiết bị năng lượng tái tạo. Có cơ chế, chính sách đột phá thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghiệp năng lượng, tăng nhanh tỉ lệ nội địa hóa và năng lực tự chủ trong toàn ngành năng lượng.

- Về phát triển hạ tầng năng lượng hiện đại, thông minh, bền vững, kết nối khu vực và quốc tế hiệu quả: Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu năng lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển năng lượng bền vững, hiệu quả và an toàn. Thúc đẩy xã hội hóa cơ sở hạ tầng và dịch vụ năng lượng. Có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng năng lượng; xây dựng cơ sở hạ tầng xuất nhập khẩu năng lượng đồng bộ; xác định danh mục hạ tầng năng lượng dùng chung; xác định rõ hạ tầng năng lượng chiến lược phải do Nhà nước kiểm soát. Đầu tư hiện đại hóa ngành điện từ khâu sản xuất, truyền tải đến phân phối, sử dụng có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường điện; nâng cao khả năng bảo đảm an ninh mạng lưới điện và chất lượng dịch vụ điện. Phát triển hệ thống lưới điện truyền tải đồng bộ với phát triển nguồn điện, có khả năng tích hợp quy mô lớn nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới... Tiếp tục đầu tư xây dựng các đường dây 500 kV, 220 kV và các trạm biến áp để bảo đảm khả năng truyền tải điện từ các trung tâm sản xuất điện đến các trung tâm phụ tải và kết nối liên thông với các nước ASEAN, nhất là Campuchia, Lào,... góp phần kết nối 3 nền kinh tế. Huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân tham gia phát triển hạ tầng truyền tải điện theo mô hình hợp tác công tư (PPP).

4. Đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện linh hoạt cam kết quốc tế về giảm phát thải; thiết lập các biện pháp quản trị và ứng phó với rủi ro

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn đến năm 2030 và Chương trình quản lý nhu cầu điện quốc gia. Cơ cấu lại, khuyến khích phát triển các ngành sử dụng hiệu quả năng lượng, đem lại lợi ích cao nhất về kinh tế - xã hội. Quy định cụ thể các chỉ tiêu bắt buộc về tiết kiệm năng lượng cho từng ngành, lĩnh vực và địa phương. Đẩy mạnh cải tiến công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về hiệu suất năng lượng đối với thiết bị, máy móc, phương tiện giao thông và công trình xây dựng; từng bước loại bỏ thiết bị, máy móc, phương tiện hiệu suất sử dụng năng lượng thấp, phát thải môi trường cao; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới, hiệu suất cao. Nghiên cứu, hình thành quỹ về phát triển năng lượng bền vững để thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa. Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tự sản xuất và sử dụng năng lượng sạch.

Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng phù hợp với tình hình phát triển đất nước và sự hỗ trợ quốc tế. Xây dựng Chương trình chuyển đổi năng lượng quốc gia; có lộ trình giảm dần sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất năng lượng phù hợp với cam kết quốc tế. Có phương án cho các nhà máy nhiệt điện than chuyển đổi nhiên liệu sang sử dụng khí tự nhiên, nhiên liệu sinh khối, hydrogen, amoniac,...

Nghiên cứu áp dụng chính sách thuế carbon thích hợp đối với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch; quy định tiêu chuẩn hạn mức phát thải carbon. Xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế. Khẩn trương xây dựng cơ chế trao đổi tín chỉ carbon, phát triển thị trường carbon trong nước, kết nối với thị trường quốc tế. Có chính sách ưu tiên phát triển công nghệ tiên tiến, hiệu quả cao và thân thiện môi trường. Hoàn thiện khung khổ pháp lý, thúc đẩy phát triển công nghệ thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng carbon, nhất là trong sản xuất điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ carbon thấp và trung hòa carbon trong ngành năng lượng.

Triển khai rộng rãi mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng phế thải từ sản xuất công nghiệp làm nhiên liệu sản xuất năng lượng. Đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý khí thải, nước thải đạt chuẩn quốc tế tại các nhà máy điện. Phát triển hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục để giám sát chặt chẽ các thông số môi trường tại các dự án năng lượng. Tăng cường giám sát, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường trong sản xuất và vận hành các nhà máy điện.

Thiết lập hệ thống quản trị và ứng phó với rủi ro; xây dựng và cập nhật thường xuyên kịch bản, thực hiện các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai ngay từ quá trình lựa chọn vị trí dự án, thiết kế, xây dựng công trình đến sản xuất, vận hành, bảo đảm an toàn ngành năng lượng. Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ xanh từ các quốc gia tiên tiến.

Chủ động nghiên cứu, đánh giá tác động của các công trình kênh, hồ, đập ở các quốc gia có chung dòng sông với nước ta đến việc vận hành của các nguồn điện trong nước; xây dựng kịch bản ứng phó, giải quyết các tác động cực đoan về hạn hán, thiếu nước. Chú trọng sửa chữa, nâng cấp, sử dụng lại nguồn nước các đập thủy điện, rà soát quy trình vận hành, hiện đại hóa hệ thống quan trắc, cảnh báo, bảo đảm tuyệt đối an toàn công trình và vùng hạ du.

5. Tập trung huy động mọi nguồn lực xã hội, khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân tham gia phát triển năng lượng

Có cơ chế, chính sách đột phá thu hút mọi nguồn lực xã hội tham gia phát triển năng lượng, bảo đảm nguồn vốn thực hiện các quy hoạch phát triển năng lượng, đặc biệt là quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Có cơ chế dành nguồn tín dụng ưu đãi hoặc bảo lãnh Chính phủ cho các dự án năng lượng quan trọng quốc gia, cần ưu tiên đầu tư, kể cả các dự án BOT điện quy mô lớn, quan trọng, cấp bách. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trong và ngoài nước.

Đẩy mạnh giao quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; rà soát, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm đủ vốn cho các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước triển khai các dự án năng lượng quy mô lớn, quan trọng, cấp bách. Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò dẫn dắt, cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản trị doanh nghiệp.

Đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, tháo gỡ vướng mắc để tận dụng vốn viện trợ phát triển chính thức ODA, vốn hỗ trợ quốc tế, nhất là nguồn vốn trong khuôn khổ Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) cho các dự án năng lượng. Phát triển thị trường trái phiếu xanh, triển khai tín dụng xanh. Khuyến khích doanh nghiệp, người dân tham gia đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo nhỏ và vừa, các dự án vừa sản xuất, vừa tiêu thụ năng lượng. Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật thực thi hợp đồng, giải quyết tranh chấp; có cơ chế đặc thù để xử lý dứt điểm các dự án, hợp đồng phát triển năng lượng tồn đọng kéo dài, gây lãng phí nguồn lực xã hội; chấm dứt tình trạng doanh nghiệp nhà nước chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo các hợp đồng đã ký với doanh nghiệp tư nhân.

Phát triển thị trường điện theo hướng tăng cường tính cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, đồng bộ với bảo đảm an ninh năng lượng; triển khai thực hiện hiệu quả cơ chế mua bán điện trực tiếp, đồng thời tăng cường quyền lựa chọn của khách hàng sử dụng điện trong việc tiếp cận và lựa chọn đơn vị cung cấp điện phù hợp với nhu cầu. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao dịch điện, bao gồm cơ chế hợp đồng mua bán điện (PPA) minh bạch, ổn định, dài hạn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà đầu tư. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các dự án đầu tư hạ tầng lưu trữ năng lượng như pin tích trữ, kho LNG, kho xăng, dầu cả trên đất liền và trên biển. Đổi mới cơ chế giá truyền tải điện để thu hút mạnh mẽ khu vực tư nhân đầu tư phát triển lưới điện truyền tải.

6. Tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng

Triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành năng lượng. Tiếp tục rà soát, sửa đổi Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, ưu tiên chuyển giao và ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường trong lĩnh vực năng lượng. Tập trung đầu tư cho nghiên cứu và phát triển với tỉ lệ tối thiểu 2% GDP ngành năng lượng. Tạo cơ chế thuận lợi, đủ mạnh, tự chủ cao để khuyến khích các doanh nghiệp năng lượng tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thành lập các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, đổi mới sáng tạo và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực năng lượng; thu hút 60 - 80 dự án chuyển giao công nghệ tiên tiến. Có cơ chế cho phép các trung tâm đổi mới sáng tạo được huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân để đầu tư, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, dự án đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng sạch. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số trong khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng năng lượng; nghiên cứu, phát triển công nghệ lưu trữ năng lượng. Phát triển hệ thống lưới điện thông minh, hệ thống quản lý năng lượng thông minh trong công nghiệp, giao thông và xây dựng.

Hình thành cơ chế liên kết giữa các nhà khoa học, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng thông qua các chương trình khoa học và công nghệ; lồng ghép hoạt động nghiên cứu và phát triển trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển năng lượng. Xây dựng đề án đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành năng lượng, đưa vào danh mục ngành đào tạo trọng điểm. Đào tạo tối thiểu 25.000 - 35.000 kỹ sư, chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt ưu tiên cho ngành năng lượng hạt nhân. Có chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao và thu hút chuyên gia là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, năng lượng tái tạo và năng lượng mới.

7. Tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững ngành năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác quốc tế về năng lượng với các đối tác quan trọng trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực. Đẩy mạnh hợp tác trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực cho phát triển điện hạt nhân và năng lượng mới. Tích cực tham gia các sáng kiến, cam kết quốc tế về chuyển dịch năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Triển khai tích cực hiệu quả Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP). Khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách trong triển khai các dự án hợp tác quốc tế liên quan đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, chuyển đổi năng lượng, phát triển năng lượng sạch và ứng phó biến đổi khí hậu, gắn với việc bảo vệ các lợi ích và an ninh quốc gia.

Chủ động kế hoạch nhập khẩu điện từ các quốc gia láng giềng đáp ứng nhu cầu trong nước; có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các dự án năng lượng ở nước ngoài, khai thác tài nguyên năng lượng để nhập khẩu về Việt Nam. Mở rộng quan hệ đối tác với các công ty đầu tư năng lượng, phát triển công nghệ tiên tiến. Chú trọng hợp tác phát triển năng lượng với các nước láng giềng, các quốc gia tiểu vùng Mê Công mở rộng và khu vực Đông Nam Á, các nước là bạn bè truyền thống, đối tác của Việt Nam. Đẩy mạnh triển khai các cơ chế trao đổi, phối hợp với các nước trong khu vực, nhất là các nước ASEAN về an ninh năng lượng; thúc đẩy hợp tác, kết nối lưới điện ASEAN và miền Nam Trung Quốc. Đẩy mạnh phát triển các dự án xuất khẩu điện năng lượng tái tạo sang các nước ASEAN và hợp tác quốc tế về điện hạt nhân với các nước có công nghệ tiên tiến. Chủ động, tích cực tham gia các tổ chức quốc tế về năng lượng hạt nhân, đặc biệt là IAEA. Triển khai các cam kết quốc tế trong việc nghiên cứu ứng dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích hòa bình.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban đảng tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết tới cán bộ, đảng viên; xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết. Các cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư năng lượng trên địa bàn theo quy định.

2. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật để tạo thuận lợi cho phát triển năng lượng quốc gia theo tinh thần của Nghị quyết; tăng cường giám sát việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và các chính sách phát triển năng lượng quốc gia; bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.

3. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và các chiến lược phát triển các phân ngành năng lượng, Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh phù hợp với tinh thần của Nghị quyết; trình Quốc hội sửa đổi, ban hành các luật có liên quan tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; trường hợp cần thiết, trình Quốc hội ban hành Nghị quyết chuyên đề về các cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; ưu tiên bố trí đủ nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết.

4. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

5. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan hướng dẫn việc quán triệt thực hiện Nghị quyết.

6. Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, hướng dẫn kiểm tra, giám sát, đôn đốc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

 

 

Nơi nhận:
- Bộ Chính trị, Ban Bí thư,
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Các ban đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
- Đảng ủy các bộ, ngành ở Trung ương,
- Các đồng chí Ủy viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.

T/M BỘ CHÍNH TRỊ
TỔNG BÍ THƯ




Tô Lâm

 

CENTRAL EXECUTIVE COMMITTEE
*

COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
---------------

No. 70-CT/TW

Hanoi, August 20, 2025

 

RESOLUTION

OF THE POLITBURO

ON ENSURING NATIONAL ENERGY SECURITY TO 2030, WITH A VISION TO 2045

After 5 years of implementing Resolution No. 55-NQ/TW dated February 11, 2020 of the Politburo on orientations for the national energy development strategy of Vietnam to 2030, with a vision to 2045, the energy sector has maintained stable growth, basically ensured national energy security, met increasingly high requirements for rapid and sustainable development, ensured national defense and security, and improved people’s living standards.

However, the energy sector still faces many limitations and weaknesses. Several limitations and weaknesses identified in Resolution No. 55 have not been thoroughly addressed. Many targets set out in Resolution No. 55 are difficult to achieve. Institutions, policies, and state management of energy sector development remain inadequate. The progress of many power projects remains slow; energy potential has not been effectively utilized. Energy supply remains dependent on imports, and the risk of electricity shortages during the double-digit growth period is real. Energy sector infrastructure remains insufficient and unsynchronized. The power system has not developed in a synchronized and smart manner; the grid has not been effectively connected to generation projects. Technology in certain fields has been slow to be innovated; the localization rate of certain important equipment remains low. The quality of human resources and labor productivity in certain fields remain low; the competitive energy market has not developed in a synchronized manner, lacking connectivity among sub-sectors, especially the electricity market which still has many limitations; energy pricing policies remain inadequate and not fully aligned with market mechanisms; cross-subsidization of electricity prices among certain customer groups still exists.

The above-mentioned limitations and weaknesses are mainly attributable to the following: Awareness of the role and importance of the energy sector for socio-economic development, ensuring national defense and security, social welfare, environmental protection, and climate change response remains insufficient. Policies and laws on energy development remain inadequate and have been slow to be amended and improved, particularly mechanisms and policies for mobilizing resources for energy development, encouraging production and use of clean energy and renewable energy; adjustments to planning lack flexibility and have not promptly met practical requirements; implementation remains unsynchronized, especially power planning. Administrative procedures remain cumbersome and complicated. The national energy development strategy, particularly in the electricity sector, lacks stability and synchronization; it has not been closely linked with local socio-economic development planning and plans and certain related sectors. Direction and implementation of policies and laws on energy have not been decisive, comprehensive, and synchronized; risk governance and response measures have not been duly emphasized; inspection and supervision of implementation have not been effective. Breakthroughs in the application of science and technology, innovation, and digital transformation in the energy sector have not yet been achieved.

In order to meet the requirements for rapid and sustainable national development in the coming period, especially the implementation of the two strategic goals to 2030 and 2045, ensuring national energy security plays a particularly important role; energy must take the lead and fully meet the requirements of socio-economic development, national defense and security, and improvement of people’s living standards. The Politburo requests focused and effective implementation of the following contents:

I- GUIDING VIEWPOINTS

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. Energy development must be consistent with the socialist-oriented market economy institution, associated with social progress and equity, ensuring social welfare, national defense and security, environmental protection, and flexible fulfillment of international commitments on greenhouse gas emission reduction. A synchronized, competitive, and transparent energy market shall be developed, with diversification of ownership forms and business models; market-based pricing shall apply to all types of energy, without cross-subsidization among customer groups. All economic sectors, especially the private sector, shall be encouraged and enabled to participate in energy development; the private sector shall be ensured equal competition with other economic sectors in developing energy projects.

3. Energy types shall be developed in a synchronized, rational, and diversified manner; priority shall be given to thorough and efficient exploitation and use of renewable energy, new energy, and clean energy; domestic fossil energy resources shall be reasonably exploited and used, with attention to stabilization, regulation, and ensuring national energy reserves; nuclear power and gas-fired power shall be developed; a roadmap shall be adopted for reasonable reduction of the proportion of coal-fired power. The national energy system structure shall be optimized to ensure synchronization and efficiency, bringing into full play the comparative advantages of each region and locality.

4. Investment in and use of energy in a manner that is economical, efficient, reduces emissions, protects the environment, promotes labor productivity, and innovates the growth model shall be encouraged and regarded as both a right and a responsibility of the whole society; investment in and use of energy-saving and environmentally friendly technologies and equipment shall be encouraged.

5. Application of science and technology, innovation, and digital transformation shall be promoted to foster rapid and sustainable development of the energy sector; mastery of modern technologies, including nuclear energy technology, shall be gradually achieved, moving toward self-reliance in the production of most energy equipment to meet domestic demand and for export of both technology and equipment.

II- OBJECTIVES AND VISION

1. Overall objective to 2030

National energy security shall be firmly ensured; energy shall be supplied sufficiently, stably, and with high quality and reduced emissions for socio-economic development, ensuring national defense and security, improving people’s living standards, and protecting the ecological environment. Energy transition shall be gradually carried out to meet national development requirements and international commitments. The energy sector shall develop harmoniously among sub-sectors with synchronized and smart infrastructure, reaching an advanced level within ASEAN. The energy market shall be competitive, transparent, and efficient, consistent with the socialist-oriented market economy institution. Domestic energy resources shall be rapidly exploited and efficiently used in combination with reasonable energy import and export; energy shall be used more economically and efficiently. Many key materials and equipment in energy sub-sectors shall be domestically manufactured; transmission and distribution grids shall be built in a modern and smart manner.

2. Specific objectives to 2030

- Total primary energy supply shall reach approximately 150 - 170 million tons of oil equivalent; total installed capacity of power sources shall reach approximately 183 - 236 GW or may be higher depending on system demand and the socio-economic development situation in each period; total electricity output shall reach approximately 560 - 624 billion kWh. The share of renewable energy in total primary energy supply shall reach approximately 25 - 30%.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- The power system shall be smart and efficient, capable of safe interconnection with regional grids; electricity supply shall be ensured safely, meeting the N-1 criterion for important load areas and N-2 for especially important load areas. Reliability of electricity supply and the electricity access index shall rank among the top 3 ASEAN countries.

- Oil refineries shall meet at least 70% of domestic petroleum demand; petroleum reserves shall reach approximately 90 days of net imports. Infrastructure shall be developed with sufficient capacity for importing liquefied natural gas (LNG) to meet demand for LNG-fired power sources and other needs; centralized LNG energy hubs shall be formed in a manner harmonized across regions.

- The energy-saving rate relative to total final energy consumption compared with the normal development scenario shall reach approximately 8 - 10%.

- Greenhouse gas emissions from energy activities compared with the normal development scenario shall be reduced by approximately 15 - 35%.

3. Vision to 2045

National energy security shall be firmly ensured; the energy market shall be healthy, competitive, equal, transparent, and efficient, consistent with the socialist-oriented market economy institution; the energy sector shall develop in a synchronized and sustainable manner, efficiently utilizing resources, protecting the environment, reducing greenhouse gas emissions, and adapting to climate change; energy infrastructure shall be smart and modern, effectively connected with the region and internationally; the quality of human resources, scientific-technological level, and governance capacity of the energy sector shall reach the level of modern developed industrialized countries.

III- MAJOR TASKS AND SOLUTIONS

1. Strengthen Party leadership, State management, and participation of the entire political system and the People in ensuring national energy security

Party committees and authorities at all levels shall clearly identify national energy development as an important and continuous task requiring serious leadership, direction, and effective implementation.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Propagation work shall be intensified to raise awareness among all levels, sectors, and the People of the role and importance of energy security, the Party’s guidelines and policies, and the State’s policies and laws on energy development and ensuring national energy security. Attention shall be given to propagation aimed at raising awareness and changing energy use behavior; effective movements within the business community and among the People on energy transition and economical and efficient energy use associated with environmental protection shall be launched and implemented. Effective models and solutions for production and use of renewable energy suitable to conditions of each region and locality, especially self-production and self-consumption models at enterprises and households, and community energy models, shall be disseminated and replicated; development of direct power purchase agreements (PPA) covering both generation and load shall be promoted.

2. Improve institutions and policies to become a competitive advantage, a solid foundation, and a strong driving force for energy development

Strong determination shall be demonstrated in completing and effectively implementing laws on electricity, oil and gas, geology and minerals, atomic energy, and economical and efficient use of energy. Institutional bottlenecks in planning, licensing, and capital mobilization for energy projects shall be reviewed and removed; outstanding and specific mechanisms and policies shall be adopted to attract and implement important and urgent national energy projects.

Financial policies shall be improved toward maximizing mobilized capital from private and foreign investment into energy projects in the form of independent investors or public-private partnerships (PPP). Credit policies shall be innovated in a flexible and effective manner, prioritizing credit allocation for the energy sector and enabling energy enterprises to access capital sources; preferential capital sources and credit packages shall be provided for enterprises with green and clean energy projects, new technologies, enterprises investing in energy storage systems, and research, development, and domestic production of energy equipment. Tax policies shall be improved to encourage production and use of clean energy, renewable energy, and domestically manufactured equipment. The State shall establish mechanisms to support investors in carrying out non-profit and environmentally friendly energy projects.

A sufficiently strong policy framework shall be developed to encourage large electricity users to build energy recovery systems for power generation; appropriate preferential mechanisms and policies shall be adopted to develop rooftop solar power for self-production and self-consumption and energy storage systems; specific mechanisms and policies shall be established to strongly develop waste treatment systems with energy recovery; enterprises shall be encouraged to invest in low-carbon and carbon-neutral technologies. Mechanisms and policies promoting economical and efficient energy use shall be improved.

The list of energy projects shall be urgently promulgated and publicly disclosed; a selective competitive bidding mechanism combined with assignment for implementation shall be applied to large-scale energy projects invested in areas sensitive to national defense and security. Signing of direct power purchase agreements (PPA) shall be effectively controlled. Mechanisms for prevention and combat of corruption, wastefulness, negativity, and group interests, especially in investment, procurement, bidding, and deployment of energy projects, particularly power generation and transmission grid projects, shall be improved.

Quality of development of strategies and planning for energy development, particularly in the electricity sector, shall be enhanced, ensuring stability, synchronization, and linkage with local and sectoral socio-economic development strategies and plans; energy planning shall be open and focused, ensuring service of development and harmonious allocation across sectors and regions (industry, agriculture, digital transformation, national defense, security, urban areas, rural areas, remote and mountainous areas).  Responsibilities of ministries, sectors, localities, and enterprises in implementation of energy development planning, particularly the adjusted Power Development Plan VIII, shall be assigned; where necessary, timely review and adjustment shall be carried out in accordance with the actual situation. Where formulation and appraisal of important and urgent national energy projects contain contents inconsistent with relevant planning, planning adjustment procedures shall not be required; after project approval, relevant planning shall be promptly reviewed, adjusted, updated, and published.
Regulations on development of a synchronized, unified energy market interconnected among electricity, coal, oil and gas, and renewable energy sub-sectors and connected with regional and global markets shall continue to be reviewed and improved. Transparent energy pricing determined by the market with State management shall be established, without cross-subsidization; the State shall reasonably regulate through market instruments and effectively implement social welfare policies. Administrative procedures shall be comprehensively reformed, reducing 30 - 50% of implementation time, compliance costs, and business conditions, creating a favorable environment for investment, business, construction, and operation of energy projects. Institutional bottlenecks hindering development of the energy sector must be fully removed in 2025.

3. Develop energy supply and infrastructure, firmly ensure national energy security, and meet growth requirements

Specific scenarios and roadmaps shall be developed and implemented to ensure energy supply meets economic growth requirements to 2030, with a vision to 2045. Energy supply sources shall be diversified, including both domestic sources and imports. Priority mechanisms shall be established to proactively develop domestic energy, reduce import dependence, and prioritize strengthening exploitation and efficient use of domestic energy resources. Comprehensive, synchronized, and feasible solutions shall be adopted to raise primary energy consumption per capita to rank among the top 4 ASEAN countries. Construction and formation of an integrated national energy industrial center combining gas, liquefied gas, electricity, refining, petrochemicals, and renewable energy shall be implemented in localities with advantages, synchronized with policies on exploitation, offtake, and pricing of domestic natural gas. Obstacles and difficulties shall be urgently resolved to accelerate progress of key energy projects, particularly power generation and transmission grid projects; strict sanctions shall be imposed on investors that register energy projects but delay or fail to implement them, affecting national energy security. Direction, urging, inspection, examination, and supervision of implementation of energy investment projects shall be strengthened.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- Regarding coal: The coal sector development strategy in the new context shall be effectively implemented. Domestic coal exploitation shall be promoted to ensure safety, efficiency, and resource conservation; reasonable and flexible mechanisms shall be applied for coal exploitation and import to meet domestic demand. Overseas investment in exploration and exploitation of coal types needed for import shall be promoted. National coal import and processing capacity shall be strengthened, ensuring sufficiently large reserves to limit vulnerability to global market fluctuations. Prospecting and exploration activities shall be expanded, and quality of reserve and resource assessment shall be improved; research on appropriate technologies and methods for exploration of the Red River coal basin shall be urgently conducted. Mechanization and modernization of screening, processing, and coal exploitation equipment shall be strengthened. Demand shall be reviewed and assessed, and plans shall be developed to optimize stable coal supply solutions for electricity production in line with market mechanisms. Coal reserves shall be maintained to meet production requirements, especially electricity generation.

- Regarding renewable energy and new energy: Mechanisms and policies on standards and renewable energy share in investment structure and energy supply shall be promulgated and effectively implemented; the Renewable Energy Certificate (REC) market shall be deployed. Strong development of renewable energy sources shall be promoted to maximize replacement of fossil fuels. Priority shall be given to wind power and solar power; development shall be encouraged in regions and localities with advantages. Comprehensive studies and assessments of potential and development orientations for geothermal energy, wave energy, tidal energy, ocean current energy, etc. shall be conducted; pilot application models shall be implemented, and trial exploitation shall be carried out to assess effectiveness. Models for production and use of hydrogen energy, hydrogen derivatives, and ammonia shall be piloted; offshore wind power and solar power combined with hydrogen and ammonia production shall be developed.

- Regarding electricity: Restructuring of the electricity sector shall be accelerated, enhancing competitiveness, transparency, and sustainability. Balanced and reasonable development among power sources shall be ensured, with the highest requirement being sufficient electricity for socio-economic development and gradual fulfillment of international commitments on emission reduction. Power sources shall be developed in a balanced manner based on regional and local advantages, aiming at intra-regional supply-demand balance and minimizing transmission losses. Priority shall be given to development of large-scale, high-efficiency, and environmentally friendly power generation projects. Selective expansion and efficient utilization of existing power plant capacity shall be implemented, prioritizing plants with potential and effective operation. Proactive plans for electricity export and import at appropriate locations and times shall be adopted to ensure national energy security and economic efficiency.

Demand-side management and load adjustment programs shall be effectively implemented; electricity consumption intensity and losses shall be reduced to ensure competitiveness compared with countries of similar development level. Power dispatch systems shall be modernized; automatic and smart monitoring and control technologies shall be applied; in addition to alternating current transmission, application of ultra-high voltage, direct current, and submarine transmission technologies shall be studied.

Regarding hydropower: Capacity of existing plants shall be maximized and expanded. Selective development of small and medium-sized hydropower shall continue; progress of pumped-storage hydropower projects shall be accelerated. Cooperation in hydropower development with other countries shall be strengthened in association with long-term electricity imports.

Regarding wind power and solar power: Development shall be prioritized in line with system safety capability and reasonable electricity prices, especially self-production and self-consumption sources and rooftop solar power. Policies to remove difficulties, legal support mechanisms, and breakthrough mechanisms for offshore wind power development shall be urgently formulated; major state-owned and reputable private enterprises with strong capacity shall be assigned to implement large-scale offshore wind projects in association with ensuring national defense, security, and protection of maritime sovereignty. Specific mechanisms shall be developed to comprehensively resolve obstacles of wind and solar power projects to supplement national power supply, avoid waste of social investment resources, and ensure lawful and legitimate rights and interests of investors in the spirit of harmonized benefits and shared risks; violations shall be strictly handled in accordance with law.

Regarding thermal power: Gas-fired thermal power shall be developed, prioritizing use of domestic gas sources; urgent review and removal of obstacles shall be conducted to promote gas and LNG power projects, especially mechanisms on power purchase prices. Plans shall be developed to upgrade technologies and improve efficiency of existing coal-fired power plants to meet environmental standards and regulations. Mechanisms encouraging fuel conversion for coal-fired thermal power plants shall be adopted.

Regarding cogeneration, electricity from waste heat, excess gas, biomass, waste and solid waste: Biomass cogeneration potential shall be maximized; development of electricity from urban waste treatment, solid waste, and biomass shall be promoted; power generation from recovery of excess gas, heat, and water from plants shall be encouraged; these types of power sources shall not be limited by planning scale.

Regarding nuclear power: Ninh Thuan 1 and Ninh Thuan 2 nuclear power projects shall be urgently implemented with appropriate partners, ensuring highest benefits for Vietnam while taking into account previous agreements, and brought into operation in the period 2030 - 2035. A nuclear power development program with flexible scales and small modular reactors shall be developed; investment in research and development of atomic energy technology shall be strengthened, gradually mastering nuclear power technology including reactor technology; advanced technologies suitable to Vietnam’s conditions shall be selected, ensuring absolute security and safety and optimizing overall socio-economic efficiency; state-owned and private enterprises shall be encouraged to participate in development of small modular nuclear power.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- Regarding development of the energy sector and manufacturing of energy equipment: Domestic energy industrial groups capable of acting as EPC general contractors for large-scale modern projects shall be developed, and a strategy for domestic energy equipment manufacturing industry development shall be implemented. Priority shall be given to development of industries with competitive advantages and large markets such as electrical equipment and renewable energy equipment manufacturing. Breakthrough mechanisms and policies shall be adopted to promote research and development in the energy industry, rapidly increase localization rate and self-reliance capacity across the entire energy sector.

- Regarding development of modern, smart, sustainable energy infrastructure effectively connected regionally and internationally: The national energy information system and database shall be developed to meet requirements for sustainable, efficient, and safe energy development. Private sector involvement in energy infrastructure and services shall be promoted. Priority policies shall be adopted for investment in energy infrastructure development; energy import and export infrastructure shall be developed in a synchronized manner; a list of shared energy infrastructure shall be identified; strategic energy infrastructure subject to State control shall be clearly determined. Investment shall be made to modernize the electricity sector from generation, transmission, and distribution to efficient use, meeting requirements of the electricity market; cyber security of the power grid and quality of electricity services shall be enhanced. The transmission grid system shall be developed in synchronization with power source development, capable of integrating large-scale renewable energy and new energy sources. Investment shall continue in construction of 500 kV and 220 kV transmission lines and substations to ensure transmission capacity from generation centers to load centers and interconnection with ASEAN countries, especially Cambodia and Laos, contributing to linkage of three economies. Private capital shall be mobilized to participate in development of power transmission infrastructure under the public-private partnership (PPP) model.

4. Promote energy saving, environmental protection, climate change response, flexible fulfillment of international commitments on emission reduction; establish governance and risk response measures

The National Program on economical and efficient use of energy to 2030 and the National Electricity Demand Management Program shall be strongly implemented. The economic structure shall be adjusted to encourage development of energy-efficient industries that bring maximum socio-economic benefits. Mandatory energy-saving targets shall be specifically prescribed for each sector and locality. Technological innovation shall be accelerated; standards and technical regulations on energy efficiency shall be applied to equipment, machinery, vehicles, and construction works; low-efficiency and high-emission equipment and vehicles shall be gradually eliminated; enterprises shall be encouraged to invest in new and high-efficiency technologies. A sustainable energy development fund shall be studied and established to promote economical and efficient energy use and environmental protection; private sector involvement shall be promoted. Policies shall be adopted to support enterprises in self-producing and using clean energy.

Synchronized and flexible solutions to reduce greenhouse gas emissions in the energy sector shall be implemented in line with national development conditions and international support. A national energy transition program shall be developed; a roadmap shall be established to gradually reduce use of fossil fuels in energy production consistent with international commitments. Fuel conversion plans shall be developed for coal-fired power plants to shift to natural gas, biomass, hydrogen, ammonia, etc.

Appropriate carbon taxation policies for fossil fuel use shall be studied; carbon emission standards and caps shall be prescribed. A greenhouse gas measurement, reporting, and verification system shall be developed in accordance with international standards. A carbon credit exchange mechanism shall be urgently established; the domestic carbon market shall be developed and connected with international markets. Priority policies shall be adopted for development of advanced, high-efficiency, and environmentally friendly technologies. The legal framework shall be improved to promote development of carbon capture, storage, and reuse technologies, especially in fossil fuel power generation. Research and application of low-carbon and carbon-neutral technologies in the energy sector shall be strengthened.

Circular economy models shall be widely deployed, utilizing industrial waste as fuel for energy production. Emission and wastewater treatment systems at power plants shall be upgraded to meet international standards. Automatic and continuous environmental monitoring systems shall be developed to closely supervise environmental parameters at energy projects. Monitoring, inspection, and strict handling of environmental violations in production and operation of power plants shall be strengthened.

A governance and risk response system shall be established; scenarios shall be developed and regularly updated, and solutions to respond to climate change and prevent and combat natural disasters shall be implemented from project site selection, design, and construction to production and operation, ensuring safety of the energy sector. International cooperation in climate change response shall be promoted, enhancing experience sharing and transfer of green technologies from advanced countries.

Impacts of canals, reservoirs, and dams in countries sharing rivers with Vietnam on operation of domestic power sources shall be proactively studied and assessed; response scenarios shall be developed to address extreme impacts of drought and water shortages. Repair, upgrading, and reuse of water sources of hydropower dams shall be emphasized; operation procedures shall be reviewed; monitoring and warning systems shall be modernized, ensuring absolute safety of works and downstream areas.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Breakthrough mechanisms and policies shall be adopted to attract all social resources for energy development, ensuring capital for implementation of energy development planning, especially the national power development planning for the period 2021 - 2030, with a vision to 2050. Mechanisms for provision of preferential credit or Government guarantees shall be established for projects and works of national importance in the energy sector requiring priority investment, including large-scale and urgent BOT power projects. Enterprises shall be encouraged and enabled to mobilize capital through issuance of domestic and international bonds.

Autonomy, self-decision, and accountability of enterprises shall be promoted; specific and appropriate mechanisms and policies shall be reviewed and supplemented to enable and ensure sufficient capital for state-owned groups and enterprises to implement large-scale, important, and urgent energy projects. Restructuring, innovation, improvement of operational efficiency, and enhancement of leading and competitive roles of state-owned enterprises in the energy sector shall continue; science, technology, and digital transformation shall be strongly applied in corporate governance.

Private and foreign investment attraction shall be strengthened; obstacles shall be removed to effectively utilize official development assistance (ODA) and international support capital, especially capital under the Just Energy Transition Partnership (JETP) framework for energy projects. The green bond market shall be developed; green credit shall be implemented. Enterprises and citizens shall be encouraged to invest in development of small and medium-scale renewable energy projects and projects combining production and consumption of energy. The legal system on contract enforcement and dispute resolution shall be urgently improved; specific mechanisms shall be adopted to comprehensively resolve prolonged and outstanding energy development projects and contracts causing waste of social resources; delays by state-owned enterprises in fulfilling payment obligations under signed contracts with private enterprises shall be terminated.

The electricity market shall be developed toward enhanced competitiveness, transparency, efficiency, and synchronization with ensuring national energy security; the direct power purchase mechanism shall be effectively implemented, while enhancing customers’ rights to access and choose electricity suppliers appropriate to their needs. The electricity trading system shall be developed and improved, including transparent, stable, and long-term power purchase agreement (PPA) mechanisms ensuring lawful and legitimate rights and interests of investors. Private enterprises shall be encouraged to participate in investment in energy storage infrastructure such as battery storage systems, LNG storage facilities, and petroleum storage facilities both onshore and offshore. The electricity transmission pricing mechanism shall be innovated to strongly attract private sector investment in transmission grid development.

6. Create breakthroughs in development of science, technology, innovation, digital transformation, and human resource training in the energy sector

Resolution No. 57 of the Politburo on breakthroughs in development of science, technology, innovation, and digital transformation in the energy sector shall be decisively and effectively implemented. The Law on Science and Technology, the Law on Technology Transfer, and the Law on Standards and Technical Regulations shall continue to be reviewed and amended to promote scientific and technological research and development, prioritizing transfer and application of advanced, high-tech, and environmentally friendly technologies in the energy sector. Investment in research and development shall be focused, with a minimum allocation equivalent to 2% of GDP of the energy sector. Favorable, sufficiently strong, and highly autonomous mechanisms shall be established to encourage energy enterprises to increase investment in research and development; research centers, testing centers, innovation centers, and national key laboratories in the energy sector shall be established; 60 - 80 advanced technology transfer projects shall be attracted. Mechanisms shall be adopted allowing innovation centers to mobilize resources from the private sector to invest in and support enterprises and innovative projects in new energy and clean energy. Research, application, and transfer of advanced technologies and digital transformation in exploitation, production, transmission, distribution, and use of energy shall be promoted; research and development of energy storage technologies shall be strengthened. Smart grid systems and smart energy management systems in industry, transportation, and construction shall be developed.

Linkage mechanisms between scientists, training institutions, and enterprises in the energy sector shall be established through science and technology programs; research and development activities shall be integrated into energy development strategies, planning, and plans. A scheme for accelerated development of high-quality human resources for the energy sector shall be formulated and included in the list of key training disciplines. At least 25,000 - 35,000 engineers and experts in the energy sector shall be trained, with particular priority given to nuclear energy. Priority policies shall be adopted for training high-quality human resources and attracting foreign experts and overseas Vietnamese to work in nuclear energy, renewable energy, and new energy sectors.

7. Strengthen international cooperation to contribute to rapid and sustainable development of the energy sector and ensure national energy security

International cooperation in energy with important partners in all sub-sectors and fields shall be expanded and deepened. Cooperation in research, development, technology transfer, and human resource training shall be promoted, especially for nuclear power and new energy development. Active participation in international initiatives and commitments on energy transition and greenhouse gas emission reduction shall be undertaken in a flexible manner suitable to national conditions. The Just Energy Transition Partnership (JETP) shall be effectively implemented. Institutional and policy bottlenecks in implementation of international cooperation projects related to exploitation of natural resources, energy transition, clean energy development, and climate change response shall be urgently removed in association with protection of national interests and security.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



IV- IMPLEMENTATION ORGANIZATION

1. Provincial Party Committees, municipal Party Committees, Party Committees directly under the Central Government, and Party agencies shall organize study and dissemination of the Resolution to officials and Party members; programs and plans for implementation of the Resolution shall be formulated. Local Party committees and authorities shall direct, urge, inspect, and supervise energy investment projects in their localities in accordance with regulations.

2. The National Assembly Party Committee shall lead and direct research, amendment, supplementation, and improvement of laws to facilitate national energy development in accordance with the spirit of the Resolution; supervision of formulation and implementation of strategies, planning, and policies on national energy development shall be strengthened; national energy security shall be firmly ensured to meet socio-economic development requirements in the new context.

3. The Government Party Committee shall lead and direct implementation of the national energy development strategy and development strategies of energy sub-sectors, the national master energy planning, and the adjusted Power Development Plan VIII in line with the spirit of the Resolution; relevant laws shall be submitted to the National Assembly for amendment and promulgation to create a favorable environment for development and ensure national energy security; where necessary, submission shall be made to the National Assembly for promulgation of a thematic Resolution on mechanisms and policies to remove difficulties in national energy development for the period 2026 - 2030; sufficient resources shall be prioritized for implementation of tasks set out in the Resolution.

4. The Party Committee of the Vietnam Fatherland Front and central mass organizations shall lead and direct supervision, social criticism, and participation in formulation of laws, mechanisms, and policies on ensuring national energy security.

5. The Central Propaganda and Mass Mobilization Commission shall take charge and cooperate with the Central Policy and Strategy Commission and relevant agencies in guiding dissemination and implementation of the Resolution.

6. The Central Policy and Strategy Commission shall take charge and cooperate with relevant agencies in regularly monitoring, guiding inspection, supervision, and urging implementation of the Resolution; periodic review and summarization shall be conducted and reported to the Politburo and the Secretariat.

 

 

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



ON BEHALF OF THE POLITBURO
GENERAL SECRETARY




To Lam

 

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/08/2025 bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Ban Chấp hành Trung ương ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 19/06/2017

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 08/07/2017

Ban hành: 18/06/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 02/07/2013

Ban hành: 29/06/2006

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 19/07/2006

10.618

DMCA.com Protection Status

IP: 2001:ee0:4001:1fb5:5002:dfea:c0c7:6d86