|
BỘ TÀI CHÍNH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2497/QĐ-BTC
|
Hà Nội, ngày 4
tháng 12 năm 2017
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ PHỐI HỢP PHÒNG, CHỐNG TỘI
PHẠM TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH, CHỨNG KHOÁN, XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA; HÀNH
VI CHUYỂN GIÁ, TRỐN THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ ngày 19/6/2016;
Căn cứ Nghị định số 87/2017/NĐ-CP
ngày 26/7/2017 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định
hướng đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 199/QĐ-TTg ngày 14/2/2017 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chương trình thực hiện Kết luận số 05-KT/TW
ngày 15/7/2016 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và
Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm đến năm 2020;
Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải
quan,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án Phòng, chống vi phạm pháp luật và phối hợp
phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp (sau đây gọi tắt
là Đề án), bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
1. Mục tiêu
1.1. Mục tiêu chung
1.1.1. Thực thi Chiến lược quốc gia phòng,
chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030 (ban hành theo
Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của
Thủ tướng Chính phủ) trong ngành Tài chính.
1.1.2. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức,
ý thức, trách nhiệm của lãnh đạo các cấp và toàn thể cán bộ, công chức, doanh
nghiệp và người dân về việc tôn trọng, chấp hành pháp luật, nhằm góp phần xây dựng
xã hội an ninh, an toàn, trật tự, văn minh, nề nếp và thân thiện.
1.1.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tài
chính về phòng, chống vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong
lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển
giá, trốn thuế của các doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản
lý; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả và tiếp thu có chọn lọc
các thông lệ quốc tế vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
1.1.4. Làm rõ nguyên nhân và điều kiện phát
sinh tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp; khắc phục
những tồn tại, hạn chế, khó khăn, bất cập.
1.1.5. Xử lý kịp thời, dứt điểm các vụ việc
vi phạm, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần nâng cao hơn nữa uy
tín, niềm tin của Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân với ngành Tài chính.
1.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
1.2.1. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống
vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp. Trong đó, trọng tâm là kiểm soát chặt chẽ tội phạm liên quan
đến an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, an toàn cộng đồng; tội phạm có tổ chức,
xuyên quốc gia...
1.2.2. Đẩy lùi tội phạm trong lĩnh vực tài
chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế
của các doanh nghiệp; phấn đấu đến sau năm 2020 giảm từ 3 - 5% tổng số vụ vi phạm
hành chính, so vụ vi phạm hình sự so với giai đoạn 2016 - 2020.
1.2.3. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao năng lực, trình độ, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ, công
chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng cơ bản yêu cầu về số
lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu
cầu của công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm
trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi
chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp.
1.2.4. Đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa toàn
ngành Tài chính. Phấn đấu đến năm 2020, bảo đảm mức độ hài lòng của cá nhân, tổ
chức về thủ tục hành chính đạt trên 80%. Giữ vững và cải thiện chỉ số đánh giá
cải cách hành chính của Bộ Tài chính trong nhóm các Bộ, ngành dẫn đầu.
1.2.5. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý của
ngành đảm bảo thống nhất, phân định rõ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn giữa các
cơ quan tài chính. Xây dựng bộ máy hiện đại, hiệu quả và hiệu lực, đáp ứng yêu
cầu là bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống
vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp.
1.3. Mục tiêu định hướng đến năm 2030
1.3.1. Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của
toàn ngành trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tội phạm, vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi
chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp; giảm vi phạm ở các địa bàn trọng điểm,
góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tăng thu cho NSNN,
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
1.3.2. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng,
lành mạnh, văn minh, để mọi doanh nghiệp, công dân đều có ý thức tôn trọng, tự
giác tuân thủ pháp luật về tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hóa...
1.3.3. Chủ động, tích cực phối hợp với các lực
lượng chức năng trong và ngoài ngành trong công tác phòng, chống tội phạm liên
quan đến lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành
vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp.
1.3.4. Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,
phát hiện, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng
khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của các
doanh nghiệp; đảm bảo xử lý “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”.
2. Nội dung thực hiện
2.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách
2.1.1. Hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý
liên quan đến công tác hải quan theo từng giai đoạn, đảm bảo nội luật hóa đầy đủ,
kịp thời, phù hợp, hài hòa với các Điều ước quốc tế và Hiệp định thương tự do
đa phương mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.
2.1.2. Tổng kết, đánh giá thực hiện Luật Quản lý thuế, nghiên cứu đề xuất sửa đổi
quy định Luật Quản lý thuế đảm bảo thống nhất,
đồng bộ.
2.1.3. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan
nghiên cứu, xây dựng Luật trò chơi có thưởng trình Quốc hội ban hành.
2.1.4. Nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển
thị trường kinh doanh trò chơi có thưởng.
2.1.5. Sửa đổi, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
về phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo hình thức riêng lẻ.
2.1.6. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ
chế, chính sách về chế độ quản lý tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước, các tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
2.1.7. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ
chế, chính sách liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân
hàng Chính sách xã hội, tín dụng đầu tư của Nhà nước và tín dụng chính sách cho
người nghèo và các đối tượng chính sách.
2.1.8. Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn đối
với lĩnh vực kinh doanh mới như casino, đặt cược.
2.1.9. Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp
luật chung về chứng khoán, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển
lành mạnh, ổn định, an toàn, hỗ trợ công tác quản lý giám sát hiệu quả đối với
thị trường.
2.1.10. Hoàn thiện khung pháp lý về thanh
tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về chứng khoán.
2.1.11. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính đảm bảo chặt chẽ, công khai, minh
bạch đáp ứng yêu cầu phòng chống tham nhũng, lãng phí.
2.2. Cải cách hành chính, hiện đại hóa
2.2.1. Cải cách hành chính
a) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
trong ngành Tài chính, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích
khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh:
a1) Tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về chương trình cải cách
tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; xây dựng và triển khai các
chương trình, kế hoạch nhiệm vụ năm 2017 về cải cách hành chính, kiểm soát thủ
tục hành chính.
a2) Tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã
đề ra về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP,
Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chính phủ điện tử
theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ,
góp phần thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN-4.
a3) Mở rộng triển khai hoàn thuế điện tử trên phạm
vi toàn quốc; tăng cường phối hợp thu với ngân hàng; phấn đấu thực hiện các dịch
vụ công trực tuyến với mức độ cao hơn. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát để những cải cách thủ tục hành chính đi vào thực tế, tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp, người nộp thuế.
a4) Thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp cải
cách hành chính trong ngành thuế mà trọng tâm là: tiếp tục hỗ trợ, tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, rút
ngắn quy trình xử lý, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
quản lý nhà nước; giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm công
khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp
với thông lệ quốc tế.
a5) Sửa đổi chế độ về in, phát hành, sử dụng hóa
đơn để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, chống gian lận thuế.
b) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính,
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng:
b1) Các cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm kỷ luật
tài chính - Ngân sách Nhà nước, đảm bảo các khoản thu, chi ngân sách phải được
dự toán và do luật định.
b2) Thực hiện triệt để tiết kiệm, chống thất thoát,
lãng phí, tham nhũng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra và việc xử
lý sau thanh, kiểm tra, kiểm toán đối với những trường hợp vi phạm, gây lãng
phí tiền, tài sản nhà nước, tài nguyên thiên nhiên.
b3) Yêu cầu hệ thống Kho bạc Nhà nước tăng cường kiểm
tra, kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu, đảm bảo đúng chính sách, chế độ quy định,
nhất là các khoản chi xây dựng trụ sở, mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt
tiền.
2.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyên nghiệp
minh bạch trong triển khai hoạt động nghiệp vụ
a) Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong các hoạt động của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính:
a1) Xây dựng và hoàn thành cơ bản hệ thống hạ tầng
công nghệ thông tin của ngành bao gồm hệ thống mạng thông tin, trang thiết bị
máy tính, hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, hệ thống
cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính.
a2) Triển khai hệ thống thông tin GFMIS góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả công quản lý tài chính công.
a3) Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công
trên mạng thông tin điện tử của Bộ và các cơ quan, đơn vị.
a4) Thực hiện các dịch vụ hành chính công trực tuyến
mức độ 3 và 4 (100% khai, nộp và hoàn thuế điện tử), vận hành ổn định hệ thống
VINACCS/VCIS, để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người dân. Đến năm 2020,
thực hiện mô hình hải quan một cửa quốc gia (NWS) trên toàn hệ thống các đơn vị
ngành hải quan và hoàn thành đề án hiện đại hóa công tác quản lý thuế, hệ thống
TABMIS của Kho bạc Nhà nước.
b) Ứng dụng, khai thác triệt để công nghệ
thông tin, các trang thiết bị hiện đại vào hoạt động nghiệp vụ kiểm soát hải
quan, trọng tâm là vận hành, đầu tư nâng cấp hệ thống trang thiết bị kỹ thuật của
Phòng Giám sát hải quan trực tuyến và đưa vào vận hành hệ thống seal định vị
GPS container; hệ thống theo dõi hoạt động tàu biển vận chuyển xăng, dầu; hệ thống
xe chỉ huy giám sát.
c) Áp dụng sâu rộng kỹ thuật quản lý rủi ro
trong tất cả các hoạt động nghiệp vụ hải quan, gồm kiểm tra, giám sát hải quan,
thanh tra chuyên ngành; triển khai hiệu quả quản lý tuân thủ thông qua các
chương trình, kế hoạch hành động phù hợp đối tượng, mục tiêu quản lý; áp dụng
các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích tuân thủ tự nguyện, hướng đến môi trường tự
nguyện tuân thủ pháp luật trong cộng đồng doanh nghiệp xuất, nhập khẩu.
d) Quản lý và tổ chức thực hiện công tác kiểm
tra về tiêu chuẩn, chất lượng, kiểm dịch, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
e) Đẩy mạnh triển khai hoạt động kiểm tra
sau thông quan cả về số lượng, chất lượng trên cơ sở áp dụng đầy đủ mô hình quản
lý tuân thủ, kỹ thuật quản lý rủi ro, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin, tăng
cường trao đổi thông tin với các cơ quan, đơn vị có liên quan.
f) Nắm vững diễn biến tình hình tại các địa
bàn trọng điểm; tăng cường công tác tham mưu, chỉ đạo; tổ chức lực lượng đấu
tranh quyết liệt, có hiệu quả với hoạt động buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, mua
bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận
thương mại và hàng giả.
g) Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời
các hành vi thủ đoạn gian lận và chiếm đoạt tiền thuế. Thường xuyên nghiên cứu,
đổi mới phương pháp kiểm tra, nâng cao chất lượng phân tích hồ sơ khai thuế tại
trụ sở cơ quan Thuế. Chú trọng sửa đổi, bổ sung quy trình thanh tra, kiểm tra
thuế gắn với xây dựng các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác thanh
tra, kiểm tra. Triển khai việc áp dụng kỹ năng thanh tra, kiểm tra phù hợp với
từng đối tượng thanh tra, kiểm tra, đảm bảo đạt hiệu quả cao trong công tác
thanh tra, kiểm tra.
h) Giám sát chặt chẽ việc thí điểm cho phép
người Việt Nam vào chơi tại các casino và đặt cược bóng đá quốc tế; thực hiện
hiệu quả các văn bản, chính sách đối với các lĩnh vực mới như đặt cược, casino.
2.3. Chính quy lực lượng
2.3.1. Nâng cao chất lượng, năng lực, phẩm
chất của cán bộ, công chức ngành Tài chính:
a) Thực hiện nghiêm quy định trong công tác
cán bộ, cụ thể: về quản lý công chức, viên chức, về đánh giá cán bộ; về trình tự,
thủ tục bổ nhiệm cán bộ, về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị,
cấp ủy trong công tác cán bộ, về tiêu chuẩn chức danh cán bộ theo Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng.
b) Phân cấp thẩm quyền quản lý công chức,
viên chức gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm tuân thủ
quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý công chức, viên chức và hiệu quả
hoạt động của đơn vị.
c) Rà soát và có biện pháp khắc phục tình trạng
quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý còn khép kín, chưa bảo đảm cơ cấu về tuổi,
giới tính như hiện nay; xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn
2016 - 2020.
d) Thực hiện nghiêm việc luân chuyển, chuyển
đổi vị trí công tác của công chức, viên chức trong từng đơn vị và toàn ngành
theo chủ trương của Đảng, Nhà nước và Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính.
e) Đẩy mạnh triển khai công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
chuyên gia, cán bộ cấp cơ sở và thực hiện đúng lộ trình phát triển các cơ sở
đào tạo thuộc Bộ theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tài chính giai đoạn
2012 - 2020.
f) Tiếp tục triển khai “Đề án Đẩy mạnh cải
cách chế độ công vụ, công chức” theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ và Đề án vị trí việc làm và xây dựng cơ cấu ngạch công
chức, viên chức hợp lý gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị thuộc
Bộ.
g) Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương
hành chính và đạo đức công vụ của công chức, viên chức; xây dựng và tổ chức thực
hiện chuẩn mực đạo đức của công chức, viên chức ngành Tài chính.
h) Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực công
nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong ngành tài chính.
i) Tiếp tục thực hiện áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2008 vào hoạt động của các đơn vị thuộc Bộ.
j) Từng bước hiện đại hóa công sở cơ quan Bộ
Tài chính và các đơn vị theo tiêu chuẩn của Chính phủ về hiện đại hóa nền hành
chính và điều kiện thực tế của Bộ.
2.3.2. Tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy và biên chế của các đơn vị. Trên cơ sở kết quả rà soát xây dựng
phương án sắp xếp, tổ chức theo hướng tập trung đầu mối theo lĩnh vực, thực hiện
chuyên môn hóa, tránh chồng chéo đảm bảo sự thống nhất về đầu mối quản lý, đáp ứng
yêu cầu trong tình hình hội nhập trong hiện tại.
2.3.3. Tiếp tục triển khai Đề án Nâng cao
năng lực cho lực lượng hải quan chuyên trách chống buôn lậu đến năm 2020; Đề án
đầu tư trang bị và quản lý tàu, thuyền của ngành Hải quan giai đoạn 2011 -
2020, hướng tới đầu tư, mua sắm, sửa chữa đội tàu đủ mạnh phục vụ kịp thời nhiệm
vụ phòng, chống buôn lậu trên tuyến đường biển.
2.3.4. Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý
thuế hiện đại, hiệu lực, hiệu quả phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ của cơ
quan Thuế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu
quản lý thuế hiện đại theo nguyên tắc tập trung thống nhất.
2.3.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm
tra trong sạch, vững mạnh có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
2.4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát đảm bảo hoạt
động nghiệp vụ được triển khai đồng bộ, hiệu quả, có chất lượng
2.4.1. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm
tra theo chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành Tài chính. Trong đó, tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra chuyên đề về chuyển giá, lĩnh vực ngân hàng, gian lận
thương mại, trốn thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng; kiên quyết xử lý, cưỡng chế,
thu hồi nợ thuế theo quy định của pháp luật, giảm nợ đọng thuế... Tăng cường kiểm
tra, giám sát chặt chẽ việc chi tiêu từ NSNN, đảm bảo đúng chính sách, chế độ.
2.4.2. Tiếp tục chú trọng, tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành nhằm phát hiện, ngăn chặn và phòng ngừa
các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi quản lý của từng đơn vị, xử lý
nghiêm những hành vi tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật được phát hiện.
2.5. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao
nhận thức của người dân và doanh nghiệp
2.5.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên
truyền, giáo dục pháp luật về thuế; nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế
kết hợp với hỗ trợ người nộp thuế trong tuân thủ pháp luật thuế. Đa dạng hóa
các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ giáo dục phổ biến pháp luật thuế phù hợp với
từng nhóm người nộp thuế; Triển khai các chương trình tuyên truyền giáo dục cho
cộng đồng.
2.5.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cộng
đồng doanh nghiệp, người dân biết về chính sách, pháp luật trong xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hóa; đồng thời nhận thức rõ tác hại của hành vi buôn lậu, sản xuất, vận
chuyển, mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới,
gian lận thương mại và hàng giả; từ đó không tham gia, không tiếp tay cho buôn
lậu, không tiêu thụ, sử dụng hàng lậu, hàng giả.
2.5.3. Chủ động phối hợp với cơ quan thông tấn
báo chí, truyền thông nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định
pháp luật đối với lĩnh vực mới của hoạt động tài chính ngân hàng và dịch vụ tài
chính, bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác, đa dạng và nhiều
chiều đến người dân và doanh nghiệp.
2.6. Phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế
2.6.1. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng
chức năng và các cơ quan có liên quan như cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh
sát biển, Quản lý thị trường, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước,
Ngân hàng Nhà nước... trong các công tác:
a) Tham mưu, đề xuất, kiến nghị cho Đảng,
Nhà nước các biện pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách, không để các đối tượng lợi
dụng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng
khoán, ngân hàng, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
b) Xây dựng để ký kết các quy chế phối hợp,
tạo cơ sở và hành lang pháp lý cần thiết để tổ chức thực hiện có hiệu quả công
tác phối hợp giữa các đơn vị, lực lượng chức năng.
c) Xây dựng văn bản chung để chỉ đạo, hướng
dẫn phối hợp thực hiện công tác nghiệp vụ; Thành lập đoàn liên ngành để kiểm
tra công tác phối hợp tại các đơn vị, địa bàn.
d) Cập nhật tình hình vi phạm, phương thức,
thủ đoạn mới của các đối tượng; Thu thập, trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu;
Trên cơ sở đó đề ra kế hoạch, biện pháp cụ thể để phối hợp thực hiện nhiệm vụ đấu
tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi
đơn vị.
e) Tuần tra kiểm soát, hiệp đồng tác chiến,
đấu tranh, phát hiện, bắt giữ và xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm; Tiếp nhận,
chuyển giao hồ sơ, đối tượng phạm tội theo quy định.
f) Đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng,
chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật; Quản lý cán bộ,
bảo vệ nội bộ, thông báo kịp thời cho nhau về dấu hiệu tiêu cực hoặc hành vi vi
phạm pháp luật của cán bộ, công chức, chiến sỹ của mỗi bên để có biện pháp giáo
dục, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời.
g) Tư vấn trang bị, huấn luyện sử dụng những
phương tiện nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị mới cho cán bộ, chiến sỹ
của mỗi lực lượng để góp phần nâng cao chất lượng công tác chuyên môn.
h) Tuyên truyền, vận động quần chúng và phổ
biến pháp luật liên quan đến công tác quản lý Nhà nước của mỗi bên.
2.6.2. Tăng cường và chủ động hội nhập tài
chính quốc tế:
a) Tích cực tham gia các hoạt động hợp tác
tài chính khu vực ASEAN, APEC... Thực hiện đồng bộ các giải pháp hội nhập và hợp
tác tài chính quốc tế.
b) Tiếp tục điều chỉnh thuế nhập khẩu ưu đãi
đặc biệt theo các cam kết thuế quan trong các FTAs đã ký kết; đàm phán thuế
quan và dịch vụ tài chính trong các Hiệp định FTAs đang đàm phán; đồng thời đàm
phán gói cam kết Vòng VIII về dịch vụ tại chính ASEAN.
c) Chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, nhất là
các nước có chung đường biên giới, các tổ chức quốc tế, hải quan các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới.
3. Kinh phí và nguồn kinh phí thực hiện
3.1. Kinh phí thực hiện Đề án này được bố
trí từ nguồn ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định
của pháp luật.
3.2. Đối với các nhiệm vụ trọng tâm thuộc Đề
án có Quyết định phê duyệt riêng, kinh phí đảm bảo thực hiện theo Quyết định
phê duyệt riêng.
4. Lộ trình thực hiện: 2017-2030 (Chi tiết
theo Phụ lục Nhiệm vụ trọng tâm và lộ trình thực hiện của Đề án).
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Giao Tổng cục Hải quan là đơn vị chủ trì
tham mưu cho Lãnh đạo Bộ:
1.1. Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị
có liên quan thuộc Bộ thực hiện các nội dung của Đề án và các nhiệm vụ được
giao tại Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày
14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Trình Bộ Tài chính điều chỉnh mục tiêu, nội
dung Đề án trong trường hợp cần thiết.
1.2. Tổng hợp báo cáo thực hiện Đề án định kỳ:
06 tháng, năm và cuối mỗi giai đoạn thực hiện Đề án.
2. Giao Cục Kế hoạch - Tài chính chủ trì
tham mưu cho lãnh đạo Bộ đảm bảo kinh phí thực hiện Đề án.
3. Các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài
chính căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tại Đề án:
3.1. Chủ trì tổ chức triển khai thực hiện
các nhiệm vụ được phân công tại Đề án và Phụ lục Nhiệm vụ trọng tâm và lộ trình
thực hiện kèm theo Đề án.
3.2. Định kỳ 06 tháng (trước ngày 15/6)
và hàng năm (trước ngày 15/12) báo cáo kết quả thực hiện gửi về Bộ Tài
chính (qua Tổng cục Hải quan) để Tổng cục Hải quan tổng hợp, báo cáo Bộ Tài
chính, Chính phủ (qua Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo 138/CP) (trước ngày
30/6 và 31/12 hàng năm).
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Chánh Văn
phòng Bộ, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Vụ
trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính, Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước, Chánh Thanh tra Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối
ngoại, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Vụ trưởng Vụ Đầu tư, Vụ trưởng
Vụ Ngân sách Nhà nước, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm
toán, Vụ trưởng Vụ Hành chính sự nghiệp, Cục trưởng Cục Kế hoạch - Tài chính, Cục
trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Cục trưởng
Cục Tài chính doanh nghiệp, Vụ trưởng Vụ Tài chính, quốc phòng, an ninh, đặc biệt,
Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
- Văn phòng Chính phủ (để b/c);
- Ban Chỉ đạo 138/CP (để b/c);
- Đ/c Đinh Tiến Dũng - Bộ trưởng (để b/c);
- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính (VP, TCT, Vụ TCNH, UBCKNN, TTr, Cục
QLN&TCĐN, Cục QLGSBH, Vụ ĐT, Vụ NSNN, Vụ PC, Vụ CĐKT&KT, Vụ HCSN, Cục
KHTC, KBNN, Cục TH&TKTC, Vụ TCCB, Cục TCDN; Vụ I);
- Lưu: VT, TCHQ (47b).
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Vũ Thị Mai
|
ĐỀ ÁN
PHÒNG,
CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ PHỐI HỢP PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC TÀI
CHÍNH, CHỨNG KHOÁN, XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA; HÀNH VI CHUYỂN GIÁ, TRỐN THUẾ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
(Kèm theo Quyết định
số: 2497/QĐ-BTC ngày 04/12/2017 của Bộ Tài chính)
Những năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới,
khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, thách
thức; tình hình vi phạm pháp luật đã được kiềm chế nhưng vẫn còn xảy ra ở nhiều
lĩnh vực.
Phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu, cấp bách, thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn
thi hành, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo
trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, chỉ đạo điều hành thống nhất của Nhà
nước.
Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự thống
nhất trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành; từng bước ngăn chặn,
đẩy lùi hoạt động tội phạm, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, chứng khoán,
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp;
góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, sức khỏe
cộng đồng và chống thất thu ngân sách.
Thực hiện điểm b, khoản 4, Điều 1,
Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm
giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030 và Quyết định số 1972/QĐ-BTC ngày 14/9/2016 của Bộ Tài chính về
việc phê duyệt Kế hoạch xây dựng Chương trình thực hiện Đề án Phòng, chống vi
phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính, chứng
khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các
doanh nghiệp theo Quyết định số 623/QĐ-TTg
ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tài chính xây dựng “Đề án phòng,
chống vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài
chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế
của các doanh nghiệp” với nội dung cơ bản là:
Phần I. Đánh giá thực trạng công tác phòng, chống
vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp.
Phần II. Mục tiêu và giải pháp.
Phần III. Tổ chức thực hiện.
PHẦN I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ PHỐI HỢP
PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH, CHỨNG KHOÁN, XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
HÀNG HÓA; HÀNH VI CHUYỂN GIÁ, TRỐN THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
I. Đánh giá thực trạng vi phạm
pháp luật, tình hình tội phạm trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp
Với chủ trương mở cửa hội nhập, trong những năm
qua, nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập, thực hiện tốt các cam kết khi gia
nhập WTO. Quan hệ giữa nước ta với các nước láng giềng cũng như thế giới ngày
càng mở rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa... Cùng với sự
chuyển biến tích cực của nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân hàng, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh. Tuy nhiên, mặt trái của sự
phát triển này là hoạt động tội phạm, vi phạm pháp luật đã và đang diễn biến
ngày một phức tạp với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; phạm vi hoạt động rộng, diễn
ra với tính chất, mức độ nghiêm trọng; đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản
lý. Trong đó, nổi lên một số tình hình như sau:
Hoạt động buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, mua bán
hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận thương
mại và hàng giả diễn ra trên cả ba tuyến, đường biển, đường bộ và đường hàng
không. Đối tượng vi phạm rất đa dạng, từ thương nhân đến lái xe, tiếp viên,
thuyền viên, cư dân biên giới và các đối tượng đã có tiền án, tiền sự. Hàng hóa
vi phạm tập trung vào các mặt hàng cấm như ma túy, vũ khí, tài liệu phản động,
động thực vật hoang dã quý hiếm; một số mặt hàng chiến lược như tiền, vàng,
xăng, dầu, khoáng sản; hàng có mức thuế suất cao; hàng bách hóa tiêu dùng... với
phương thức, thủ đoạn tinh vi và đa dạng. Các hành vi vi phạm thường được các đối
tượng thực hiện thông qua lợi dụng việc tạo điều kiện của chính sách quản lý
chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quy trình thủ tục hải
quan. Ngoài ra, các đối tượng vi phạm còn lợi dụng chính sách ưu đãi về thuế để
thực hiện hành vi gian lận thương mại, tập trung vào các lĩnh vực như hoàn thuế
giá trị gia tăng, đầu tư gia công, sản xuất xuất khẩu, nhập đầu tư, tạo tài sản
cố định, nhập kinh doanh... Thủ đoạn chủ yếu là gian lận về số lượng, trọng lượng,
kim ngạch, định mức, danh mục máy móc thiết bị, khấu hao tài sản, chủng loại,
mã số hàng hóa (mã HS), chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O)... để được miễn thuế,
giảm thuế, hoàn thuế và trốn thuế.
Trong lĩnh vực thuế nội địa, vi phạm phổ biến thường
gặp là: Người nộp thuế (NNT) thường sử dụng đồng thời hai hệ thống sổ sách kế
toán, một hệ thống sổ kế toán nội bộ phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế, hệ
thống kế toán còn lại chỉ phản ánh một phần các giao dịch kinh tế để khai thuế.
Hành vi bỏ ngoài sổ sách kế toán này thường xảy ra ở các doanh nghiệp dân doanh
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, ăn uống, khách sạn, xây dựng dân dụng
và sản xuất nhỏ. Đây chính là một kiểu hoạt động kinh tế mà môi trường thuận lợi
của nó là nền kinh tế tiền mặt. Việc xác định được số thuế thất thu do hành vi
trốn thuế này gây ra là rất khó.
Các doanh nghiệp còn có hành vi tạo giao dịch mua
hàng giả mạo. Doanh nghiệp thực tế không có khoản chi này nhưng đã tự tạo ra chứng
từ để hợp pháp hóa khoản chi không có thực, vì thế có thể gọi đây là chi khống.
Chi khống thể hiện qua những bảng kê thanh toán giả mạo với chữ ký giả, hợp đồng
lao động giả mạo (có trường hợp tên người lao động không có thật; có trường hợp
tên người lao động là có thật nhưng thực sự không làm việc cho doanh nghiệp đó)
và thể hiện ở những hóa đơn đi mua của cơ sở kinh doanh khác. Bằng hành vi này,
doanh nghiệp không chỉ trốn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) mà còn trốn cả
thuế giá trị gia tăng (GTGT) thông qua việc khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào.
Một thủ đoạn gian lận nổi cộm khác là việc doanh
nghiệp ghi giá bán thấp hơn giá thực tế, còn được gọi là “down” giá. Đây là
hành vi ghi giá bán trên hóa đơn và kê khai doanh thu tính thuế thấp hơn giá
khách hàng thực tế thanh toán. Hành vi này thường gặp ở các doanh nghiệp kinh
doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng dầu, vật liệu xây dựng, ô tô,
xe máy, hàng trang trí nội thất... Hành vi gian lận này làm giảm thuế GTGT và
thuế TNDN phải nộp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến số thu ngân sách hàng năm.
Tại các doanh nghiệp lỗ, các doanh nghiệp quan hệ
giao dịch liên kết có dấu hiệu chuyển giá đã xuất hiện một số hành vi vi phạm
như: Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông qua việc góp vốn vào
doanh nghiệp Việt Nam bằng máy móc, thiết bị và công nghệ mang tính đặc thù, đã
bị lạc hậu hoặc đã khấu hao hết nhưng lại được đẩy lên rất cao so với giá trị
thực của nó, nâng khống giá trị vốn góp, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước
(NSNN) và bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam; thông qua bán hàng hóa, nguyên vật
liệu thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên không có quan hệ liên kết; thông
qua chuyển giao công nghệ sản xuất kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và
thu tiền bản quyền...
Trong lĩnh vực chứng khoán, các doanh nghiệp chủ yếu
có những vi phạm như: Vi phạm về nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin; vi phạm
trong hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán; vi phạm quy định về cơ cấu nhân sự
tại bộ phận kiểm soát nội bộ và một số hành vi giao dịch thao túng giá chứng
khoán...
Ngoài ra, tình hình tham nhũng chưa được đẩy lùi; số
tiền thiệt hại xảy ra trong các vụ án kinh tế ngày càng lớn; các vi phạm về trốn
tránh nghĩa vụ đóng góp đối với NSNN vẫn còn tồn tại... Nguyên nhân của những
tình hình nêu trên có một phần từ yếu tố khách quan như tác động của những vấn
đề xã hội phức tạp nảy sinh trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, đồng
thời một phần do hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa xã hội chưa phát huy được
tác dụng cần thiết; tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp ở các cơ quan bảo vệ
pháp luật còn bất cập, trùng lắp chưa phát huy được hết vai trò trong phòng, chống
vi phạm pháp luật.
II. Đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán,
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp
Trước diễn biến tình hình tội phạm ngày càng phức tạp,
Bộ Tài chính đã quán triệt triển khai quyết liệt chủ trương, chính sách của Đảng,
Chính phủ về các giải pháp điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Đồng thời, chủ động triển khai
nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đặc
thù của từng lĩnh vực; tích cực đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy; xây dựng lực lượng
chính quy, tinh nhuệ; đẩy mạnh hiện đại hóa trang thiết bị và ứng dụng công nghệ
thông tin; chú trọng tuyên truyền chính sách pháp luật của ngành tài chính tới
người dân, doanh nghiệp; nắm chắc diễn biến, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
của khu vực và thế giới để chủ động xây dựng các kế hoạch, phương án tham mưu,
chỉ đạo đảm bảo điều hành hiệu quả nền kinh tế vĩ mô, phòng chống tội phạm
trong ngành tài chính; đồng thời đảm bảo nguồn thu NSNN và xây dựng môi trường
kinh doanh ổn định, lành mạnh để các doanh nghiệp hoạt động, phát triển.
Nhờ đó, trong giai đoạn 2014-2016, Bộ Tài chính đã
hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong
lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước, góp phần tích cực cải thiện môi trường
đầu tư, kinh doanh; đạt hiệu quả cao trong công tác chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận thương mại và hàng giả.
Một số kết quả, chiến công, thành tích nổi bật trên
mặt trận phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán,
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp
cụ thể như sau:
1. Về xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách
1.1. Xây dựng, ban hành Luật Hải quan số 54/2014/QH13 và các văn bản hướng
dẫn thi hành, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện hoạt động hải quan trên cơ sở nội
luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tạo cơ sở pháp lý để
thực hiện phương pháp quản lý hải quan hiện đại theo nguyên tắc áp dụng quản lý
rủi ro trong toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan; chuyển từ tiền kiểm
sang hậu kiểm, mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại
trong hoạt động nghiệp vụ; triển khai cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa
ASEAN... đảm bảo vừa tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện
pháp luật hải quan, vừa quản lý tuân thủ, kiểm soát hiệu quả hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu, góp phần phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hành vi buôn lậu, sản xuất,
vận chuyển, mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên
giới, gian lận thương mại và hàng giả.
1.2. Ban hành Luật
sửa đổi một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, trong đó có quản
lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách
thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch; tạo thuận lợi,
giảm chi phí, thời gian của NNT; thúc đẩy công tác hiện đại hóa hệ thống thuế,
hải quan theo hướng thực hiện cơ chế quản lý rủi ro, đẩy mạnh quản lý thuế điện
tử, tăng cường vai trò của tổ chức, cá nhân có liên quan; tăng cường các biện
pháp quản lý kiểm tra, giám sát, hậu kiểm để nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của
công tác quản lý hành chính thuế nhằm chống thất thu NSNN, giảm nợ thuế.
1.3. Xây dựng Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu sửa đổi đáp ứng yêu cầu đảm bảo thực thi cam kết quốc tế và điều ước quốc
tế về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; tạo tiền đề pháp lý để hội nhập quốc tế
sâu rộng hơn; khuyến khích và bảo hộ hợp lý sản xuất kinh doanh trong nước phù
hợp với định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước và các cam kết quốc tế đã ký kết;
đơn giản, thuận lợi cho người nộp thuế.
1.4. Hoàn thiện cơ bản, đồng bộ hệ thống cơ
sở pháp lý liên quan đến hoạt động nghiệp vụ kiểm soát hải quan, từng bước
chính quy việc triển khai các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan, đảm bảo
thực thi hoạt động nghiệp vụ ngày càng hiệu quả. Nổi bật đã tham mưu xây dựng,
ban hành: Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày
21/1/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra,
giám sát, kiểm soát hải quan; Nghị định số 01/2015/NĐ-CP
ngày 02/1/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải
quan, trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, sản xuất, vận chuyển,
mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận
thương mại và hàng giả; Thông tư số 442/2017/TT-BTC
ngày 28/4/2017 Quy định về chế độ đảm bảo thực hiện các biện pháp nghiệp vụ kiểm
soát hải quan. Hiện nay đang hoàn thiện dự thảo Thông tư Quy định về các biện
pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan, sổ tay hướng dẫn các biện pháp nghiệp vụ kiểm
soát hải quan, quy trình công tác điều tra hình sự, đảm bảo việc thực hiện các
biện pháp nghiệp vụ được thống nhất, đúng trình tự và đúng quy định của pháp luật.
1.5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát
triển thị trường trái phiếu Chính phủ; hướng dẫn phát hành tín phiếu Kho bạc
qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) để cải tiến về quy trình và thủ tục phát
hành, nâng cao hiệu quả công tác phát hành tín phiếu kho bạc qua NHNN; nghiên cứu
đánh giá sửa đổi cơ chế, chính sách về trái phiếu doanh nghiệp theo hướng tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn qua thị trường trái phiếu,
tăng cường vấn đề minh bạch hóa và công khai thông tin... Bên cạnh đó, nghiên cứu,
xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến dịch vụ tài chính như dịch
vụ xếp hạng tín nhiệm, dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện. Về cơ bản,
cơ chế, chính sách đối với lĩnh vực này đã được ban hành đầy đủ, trong đó quy định
cụ thể về quy trình thủ tục cấp, cấp lại và điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều
kiện kinh doanh dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, dịch vụ quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện
đảm bảo đầy đủ, công khai, minh bạch và rõ ràng trách nhiệm phối hợp giữa Bộ
Tài chính và các Bộ, ngành liên quan.
1.6. Sửa đổi, thay thế các văn bản quy phạm
pháp luật về quản lý tài chính liên quan đến Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức
tín dụng và ngân hàng nước ngoài. Nổi bật, đã trình Chính phủ ban hành các cơ
chế, chính sách về chế độ tài chính của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, kinh doanh dịch vụ kinh doanh đòi nợ, chế độ tài chính Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam, thị trường mua bán nợ nhằm hỗ trợ để hệ thống ngân hàng thực hiện
tốt Đề án tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, thông qua đó mở rộng tín dụng góp phần
vào tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời phòng, chống các vi phạm trong quản
lý tài chính đối với các lĩnh vực nêu trên.
1.7. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các
cơ chế, chính sách liên quan đến tổ chức, hoạt động 02 Ngân hàng Chính sách của
Nhà nước (Ngân hàng Phát triển Việt Nam - NHPTVN và Ngân hàng Chính sách xã hội
- NHCSXH) và các Quỹ tài chính Nhà nước. Hoàn thiện một bước khuôn khổ pháp lý,
cơ chế hoạt động cho các ngân hàng và các Quỹ tài chính Nhà nước, trong đó đã
hoàn thiện một số cơ chế, chính sách nổi bật như: Nâng mức vay vốn đối với học
sinh, sinh viên, bổ sung đối tượng là sinh viên trường Y tốt nghiệp trong thời
gian thực hành được vay vốn từ NHCSXH, hoàn thiện cơ chế vay vốn tín dụng đầu
tư của Nhà nước, cơ chế xử lý nợ xấu của NHPT, cơ chế bảo lãnh và hỗ trợ lãi suất
đối với các hợp tác xã, tiếp tục bổ sung nguồn lực cho nông dân thông qua Quỹ hỗ
trợ phát triển nông dân, hoàn thiện cơ chế cho vay, lãi suất và bảo lãnh tín dụng
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; chính sách về an sinh xã hội nhằm hỗ trợ ngư
dân; hỗ trợ vùng bị ảnh hưởng do hiện tượng hải sản chết bất thường; hỗ trợ bảo
vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững; hỗ trợ
nhà ở xã hội và các chính sách hỗ trợ lãi suất khác góp phần thực hiện tốt các
chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong công tác an sinh xã hội,
hiệu quả, có ý nghĩa giúp ngư dân bám biển, góp phần đảm bảo mục tiêu bảo vệ an
ninh quốc phòng.
1.8. Ban hành đầy đủ hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về lĩnh vực kinh doanh xổ số từ cấp Nghị định của Chính phủ tới các
Thông tư, Quyết định của Bộ Tài chính hướng dẫn về nghiệp vụ phát hành, cơ chế
tài chính, cơ chế giám sát của Hội đồng xổ số các tỉnh, thành phố, cơ chế đánh
giá, xếp loại, xếp hạng doanh nghiệp hàng năm, quy chế hoạt động của Kiểm soát
viên, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm hành chính...
1.9. Tham mưu Chính phủ ban hành các Nghị định
về kinh doanh trò chơi có thưởng dành cho người nước ngoài (năm 2013), Nghị định
về kinh doanh casino và kinh doanh đặt cược đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế
(năm 2017). Các cơ chế, chính sách được ban hành góp phần đảm bảo mục tiêu quản
lý chặt chẽ của Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm này từ việc cấp
phép, tổ chức hoạt động kinh doanh, phòng, chống rửa tiền, điều kiện người được
phép tham gia chơi, trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc quản
lý, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Ngoài ra, đã tham mưu ban hành Nghị định
về kinh doanh casino quy định việc thí điểm cho phép người Việt Nam chơi tại một
số điểm kinh doanh casino đáp ứng đầy đủ điều kiện nhằm đáp ứng nhu cầu vui
chơi giải trí của một bộ phận người dân có thu nhập chính đáng, góp phần đấu
tranh với các hoạt động cờ bạc bất hợp pháp tác động tiêu cực đến trật tự, an
toàn xã hội và tình trạng chuyển ngoại tệ bất hợp pháp ra nước ngoài để tham
gia hoạt động đánh bạc trái phép.
1.10. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đề án làm cơ sở xây dựng, phát triển
và quản lý giám sát đối với thị trường chứng khoán như: Quyết định số 366/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái
sinh Việt Nam; Nghị định số 42/2015/NĐ-CP về
thị trường chứng khoán phái sinh, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP
sửa đổi Nghị định số 58/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật chứng khoán, Nghị định số 86/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 quy định về điều kiện
đầu tư, kinh doanh chứng khoán,... cùng nhiều Thông tư hướng dẫn, sửa đổi, bổ
sung, thay thế. Các văn bản pháp luật đã tạo điều kiện cho hoạt động của thị
trường chứng khoán (TTCK) ngày càng minh bạch, lành mạnh; góp phần tăng cường
hiệu quả công tác quản lý giám sát đối với thị trường. Đặc biệt, để tăng cường
răn đe, xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán, đã xây dựng, trình Chính phủ
ban hành Nghị định 145/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị
định số 108/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, bổ sung, sửa đổi nhiều chế tài
và hành vi vi phạm hành chính mới nhằm đảm bảo thực thi các văn bản pháp luật về
chứng khoán mới được ban hành. Về xử lý hình sự, đã đánh giá và đề xuất sửa đổi,
bổ sung đối với các tội danh về chứng khoán tại Bộ
Luật Hình sự 2015, theo đó sửa đổi 03 tội danh hiện hành theo hướng làm rõ
các yếu tố định lượng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, định khung hình
phạt, làm rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính - hình sự, tạo thuận lợi cho việc
xử lý tội phạm; đề xuất bổ sung 01 tội danh “Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ
chào bán, niêm yết chứng khoán” để tăng cường răn đe, xử lý nghiêm các vi phạm
trong hoạt động chào bán, niêm yết chứng khoán làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
tính công khai minh bạch của thị trường, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư.
2. Về cải cách hành chính
2.1. Tích cực thực hiện công tác cải cách
hành chính, được Chính phủ ghi nhận và đánh giá cao. Chỉ số xếp hạng cải cách
hành chính (Par Index) của Bộ Tài chính tăng từ vị trí thứ 8 năm 2012 lên vị
trí thứ 2 năm 2014, phản ánh sự nỗ lực, quyết tâm cao trong việc thực hiện
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.
2.2. Đến năm 2016, ban hành mới 07 thủ tục
hành chính (TTHC) về thuế, bãi bỏ 92 TTHC. Tính đến 31/12/2016, số TTHC giảm từ
385 xuống còn 300 TTHC, giảm 85 TTHC so với thời điểm 31/12/2015; sửa đổi, bổ
sung 51/70 quy trình, quy chế về quản lý thuế; thực hiện khai thuế qua mạng
Internet đối với 99,7% số doanh nghiệp đang thuộc diện quản lý thuế; Cùng với
đó, đã triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử tại 63/63 tỉnh, thành phố, số lượng
doanh nghiệp đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan Thuế đạt tỷ lệ
96,7%. Số lượng doanh nghiệp thực tế sử dụng dịch vụ NTĐT bình quân đạt trên
93%.
2.3. Công khai các thủ tục hành chính liên
quan đến lĩnh vực tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính lên trang thông
tin điện tử của Bộ Tài chính như: (i) Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh xổ số; (ii) Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử
có thưởng dành cho người nước ngoài... Đồng thời, thường xuyên định kỳ thực hiện
rà soát, thống kê đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng và dịch vụ tài chính để đề xuất các biện pháp đơn giản hóa thủ
tục hành chính theo chương trình công tác của Bộ, Chính phủ.
2.4. Thường xuyên rà soát, điều chỉnh, thay
thế và ban hành mới các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, giảm bớt thủ tục
hành chính, rút ngắn thời gian làm thủ tục kiểm tra chuyên ngành, đồng thời đảm
bảo yêu cầu quản lý nhà nước, tạo thuận lợi tốt nhất cho người dân, tổ chức,
doanh nghiệp khi tiếp cận, giải quyết các dịch vụ công. Chuẩn hóa quy trình thủ
tục đáp ứng yêu cầu mở rộng, nâng cấp Hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS
và các hệ thống liên quan, tiếp tục điện tử hóa hồ sơ hải quan, tiến dần đến mục
tiêu phi giấy tờ trong bộ hồ sơ hải quan.
2.5. Đẩy mạnh triển khai Cơ chế một cửa quốc
gia và Cơ chế một cửa ASEAN. Nâng cấp, phát triển Cổng thông tin một cửa quốc
gia đáp ứng yêu cầu kết nối với các hệ thống thông tin của các Bộ, ngành tham
gia vào Cơ chế một cửa quốc gia để xử lý các thủ tục hành chính, kết nối Cổng
thông tin một cửa quốc gia với Cổng thông tin của các nước thành viên ASEAN để
trao đổi các thông tin được thỏa thuận theo Hiệp
định ASEAN.
3. Về kiện toàn bộ máy, chính quy lực lượng
3.1. Thường xuyên chú trọng tinh nhuệ -
chính quy lực lượng trên cơ sở kiện toàn tổ chức bộ máy theo ngành dọc của lực
lượng kiểm soát hải quan theo hướng tinh gọn, giảm bớt các đầu mối trung gian,
tránh chồng chéo, trùng lặp nhưng không bỏ trống nhiệm vụ, hiệu lực, hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới trong tình hình mới. Nổi bật, đã ban hành Quyết định số 1399/QĐ-BTC ngày 20/6/2016 của Bộ Tài chính quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Điều tra chống
buôn lậu trực thuộc Tổng cục Hải quan và Quyết định số 1919/QĐ-BTC ngày 06/9/2016 của Bộ Tài chính quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh,
liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3.2. Quan tâm, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
đội ngũ làm công tác kiểm soát hải quan. Đảm bảo trang bị đầy đủ kỹ năng, nghiệp
vụ cho lực lượng kiểm soát hải quan trong công tác đấu tranh, phát hiện, bắt giữ,
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan. Từ năm 2014 đến năm 2016, chủ
trì, phối hợp tổ chức hàng chục lớp đào tạo và tập huấn cho cán bộ, công chức
trong toàn ngành; gồm lớp bồi dưỡng tập huấn công tác kiểm soát hải quan, lớp tập
huấn công tác kiểm soát ma túy, lớp tập huấn công tác quản lý, sử dụng chó nghiệp
vụ, lớp tập huấn về công tác chống buôn lậu và thu thập, xử lý thông tin...
Hàng năm, tổ chức 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Điều tra tội phạm cho lực lượng kiểm
soát hải quan tại Học viện Cảnh sát nhân dân. Ngoài ra, đã phối hợp với các đơn
vị liên quan trong việc hiệu chỉnh, hiệu đính 02 bộ giáo trình bồi dưỡng nghiệp
vụ Điều tra tội phạm cho lực lượng kiểm soát hải quan nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ điều tra tội phạm.
3.3. Tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 48/2015/QĐ-TTg ngày 08/10/2015
quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban chứng
khoán nhà nước (UBCKNN) trực thuộc Bộ Tài chính (thay thế Quyết định số 112/2009/QĐ-TTg). Trên cơ sở đó, ban hành các
quyết định quy định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ quyền hạn của các đơn vị thuộc
UBCKNN, góp phần kiện toàn cơ cấu tổ chức của UBCKNN, các đơn vị của UBCKNN.
4. Về các hoạt động nghiệp vụ
4.1. Thường xuyên đẩy mạnh công tác chỉ đạo,
cảnh báo tình hình, xác định trọng điểm, hướng dẫn nghiệp vụ nhằm đảm bảo kiểm
tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu; phát hiện, ngăn chặn,
bắt giữ, xử lý kịp thời, triệt để hành vi buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, mua
bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận
thương mại và hàng giả. Trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016, đã chủ động
xây dựng 22 kế hoạch định kỳ, kế hoạch chống buôn lậu trong các giai đoạn
cao điểm, tại những tuyến địa bàn nổi cộm, tập trung vào những mặt hàng trọng
điểm như Kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu, gian lận hàng giả dịp Tết Nguyên
đán; Kế hoạch đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại
và hàng giả trong tình hình mới; Kế hoạch tăng cường công tác chống buôn lậu
trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận; Kế hoạch chống buôn lậu, vận
chuyển trái phép ma túy và tiền chất tại khu vực biên giới phía Bắc; Kế hoạch đấu
tranh phòng chống mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy và buôn lậu tiền chất;
Kế hoạch triển khai một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi
buôn bán, vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã trái pháp luật... Xây
dựng hơn 90 văn bản cảnh báo trong toàn ngành, giúp cho các đơn vị chủ động
phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới, tập trung vào các mặt hàng: thuốc lá; xăng dầu; xe máy
điện, xe đạp điện, mũ bảo hiểm và các phụ tùng, phụ kiện; dược phẩm, thực phẩm
chức năng và sản phẩm y tế giả; phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y,
thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và chất cấm dùng trong chế biến thực phẩm;
phôi thép; thịt gà nhập lậu; ma túy; động vật hoang dã, sản phẩm từ động vật
hoang dã; gỗ...
4.2. Ứng dụng triệt để công nghệ thông tin,
tăng cường sử dụng các trang thiết bị, kỹ thuật quản lý hiện đại trong hoạt động
nghiệp vụ kiểm soát hải quan, đảm bảo kịp thời phân tích thông tin, xác định trọng
điểm, chủ động phòng ngừa, đấu tranh triệt để với các hoạt động buôn lậu, sản
xuất, vận chuyển, mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua
biên giới, gian lận thương mại và hàng giả. Hệ thống camera giám sát được triển
khai lắp đặt tại các cảng biển, cảng hàng không trọng điểm và kết nối trực tuyến
với Tổng cục Hải quan để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Thực hiện thí điểm
hệ thống ứng dụng công nghệ định vị GPS trong giám sát hải quan đối với hàng
hóa tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu và quá cảnh vận chuyển bằng container,
cho phép cảnh báo khi niêm phong hải quan bị phá hủy, container bị mở và theo
dõi toàn bộ lộ trình của container để có thông tin cảnh báo khi đi sai lộ
trình, dừng đỗ quá thời gian.
4.3. Thành lập địa điểm kiểm tra chuyên
ngành tập trung để thực hiện hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện phải kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu. Đến
nay đã thành lập được 08 địa điểm tại 07 Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Việc kiểm
tra chuyên ngành trực tiếp tại cửa khẩu bước đầu đã tạo ra chuyển biến tích cực
trong công tác kiểm tra chuyên ngành, giảm bớt thủ tục hành chính, rút ngắn thời
gian làm thủ tục kiểm tra chuyên ngành (tại cảng Hải Phòng đã rút ngắn 30% thời
gian làm thủ tục kiểm tra chuyên ngành, giảm từ 10-15 ngày xuống còn 7-10 ngày)
đồng thời bảo đảm quản lý hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành chặt chẽ hơn. Hiện
tại, đã trình Chính phủ ban hành Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo Quyết định
số 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 của Thủ tướng
Chính phủ, để giảm thời gian thông quan hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi khuyến
khích hoạt động xuất khẩu hàng hóa, bảo đảm hàng rào kỹ thuật bảo vệ môi trường,
sức khỏe cộng đồng.
4.4. Hoàn thiện và nâng cao một bước công
tác quản lý rủi ro của ngành Hải quan trở thành nghiệp vụ cơ bản và trọng tâm
trong quản lý hải quan hiện đại với bước đầu được triển khai trong hoạt động
thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu và định hướng sẽ triển khai trong tất cả các
hoạt động nghiệp vụ hải quan. Hiện tại đã triển khai thành công chương trình quản
lý rủi ro phục vụ kiểm tra bằng biện pháp soi chiếu qua máy soi đối với hàng
hóa đang trong quá trình xếp, dỡ, vận chuyển, lưu giữ tại kho, bãi, cảng, khu vực
cửa khẩu tại sân bay và cảng biển tại 03 Cục Hải quan tỉnh, thành phố là Hà Nội,
Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh.
4.5. Chỉ đạo điều hành công tác kiểm tra sau
thông quan đi vào hoạt động một cách chuyên nghiệp, đạt được kết quả nhất định
góp phần quản lý hải quan hiệu quả. Triển khai nhiều chuyên đề đạt kết quả cao
như kiểm tra xuất xứ hàng hóa mặt hàng xăng dầu nhập khẩu được hưởng thuế suất
ưu đãi đặc biệt, kiểm tra trị giá mặt hàng xe ô tô, rà soát các mặt hàng thay đổi
mã số... Kết quả, năm 2014, đã thực hiện kiểm tra 2.006 cuộc, thực thu
vào NSNN 1.110 tỷ đồng. Năm 2015 đã thực hiện kiểm tra 7.561 cuộc (gấp
3,77 lần so với cùng kỳ năm 2014), thực thu vào NSNN 2.160 tỷ đồng (gấp 1,94 lần
so với cùng kỳ năm 2014). Năm 2016 đã thực hiện kiểm tra 10.587 cuộc (gấp
1,4 lần so với cùng kỳ năm 2015), thực thu vào NSNN 2.594 tỷ đồng (gấp 1,2 lần
so với cùng kỳ năm 2015)
4.6. Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải
pháp đấu tranh phòng, chống buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, mua bán hàng cấm, vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận thương mại và hàng
giả. Qua đó góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, thống nhất trong nhận thức
và hành động của cán bộ, công chức; từng bước ngăn chặn, đẩy lùi các hành vi vi
phạm, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi
trường, sức khỏe cộng đồng, chống thất thu NSNN. Kết quả cụ thể, trong giai đoạn
2014-2016, lực lượng kiểm soát hải quan đã chủ trì, phối hợp phát hiện, bắt giữ,
xử lý 53.672 vụ (giảm 19% so với giai đoạn 2011-2013), trị giá hàng hóa
vi phạm ước tính khoảng 1.279 tỷ 945 triệu đồng (giảm 26% so với giai đoạn
2011-2013), thu nộp NSNN 529 tỷ 185 triệu đồng (giảm 3% so với giai đoạn
2011-2013), xác lập 55 chuyên án có hiệu quả. Trong đó có 3.073 vụ
buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép; 709 vụ buôn bán, vận chuyển
trái phép ma túy; 47.515 vụ vi phạm hành chính; 58 vụ liên quan đến
vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng giả và 2.317 vụ vi phạm khác. Nổi bật,
trong giai đoạn này, cơ quan Hải quan đã khởi tố 106 vụ án hình sự (tăng
86% so với giai đoạn 2011-2013), chuyển cơ quan khác khởi tố 256 vụ
(tăng 38% so với giai đoạn 2011-2013).
4.7. Đạt những kết quả toàn diện và căn bản
trong nhiệm vụ công tác thuế giai đoạn 2014-2016 từ việc triển khai quyết liệt
các giải pháp quản lý thu, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, tăng cường chống thất
thu, tích cực thu hồi nợ đọng và khai thác tăng thêm nguồn thu cho NSNN. Cụ thể,
thu nội địa năm 2014 đạt 693.641 tỷ đồng, bằng 111,1% so với dự toán, bằng
100,8% so với cùng kỳ, năm 2015 đạt 817.071 tỷ đồng, bằng 111,7% so với
dự toán, bằng 117,8% so với cùng kỳ, năm 2016 đạt 919.546 tỷ đồng, bằng
109,5% so với dự toán, bằng 112,5% so với cùng kỳ.
4.8. Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cơ quan
thuế các cấp thực hiện đồng bộ các biện pháp tăng cường quản lý thuế đối với
các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, chống gian lận hoàn thuế GTGT, trốn thuế
như: Công văn số 7527/BTC-TCT ngày 12/6/2013;
Công văn số 9345/BTC-TCT ngày 19/7/2013; Công
văn số 9976/BTC-TCT ngày 31/7/2013; Công văn
số 12485/BTC-TCT ngày 18/9/2013 về việc tăng
cường công tác quản lý thuế, hải quan liên quan đến hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất
khẩu qua biên giới đất liền; Công văn số 13706/BTC-TCT
ngày 15/10/2013; Công văn số 875/BTC-TCT ngày
17/01/2014 về việc hướng dẫn hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu phụ,
lối mở biên giới đất liền; Công văn số 1752/BTC-TCT
ngày 10/2/2014 về việc tăng cường quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có rủi
ro cao về thuế; Công văn số 10024/BTC-TCT
ngày 22/7/2014 về một số biện pháp tăng cường công tác quản lý thuế, hải quan đối
với hàng hóa xuất khẩu qua biên giới đất liền; Công văn số 11797/BTC-TCT ngày 22/8/2014 về việc hướng dẫn
và bổ sung nội dung công văn số 1752/BTC-TCT;
Công văn số 14094/BTC-TCT ngày 7/10/2014 hướng
dẫn rủi ro liên quan đến thanh toán hàng hóa từ tài khoản vãng lai trong việc
phân loại, giải quyết hoàn thuế; Công văn số 875/BTC-TCT
ngày 17/01/2015 hướng dẫn hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, lối
mở biên giới đất liền...
4.9. Chỉ đạo các cơ quan chức năng trong
ngành thuế phối hợp với các cơ quan liên quan tích cực, kịp thời xử lý những vụ
việc lợi dụng “kẽ hở” của chính sách thuế để chiếm đoạt tiền thuế. Điển hình là
vụ việc lợi dụng quy định về thuế nhập khẩu theo hình thức quà biếu, quà tặng
thì trong 1 năm, mỗi tổ chức, cá nhân Việt Nam chỉ được nhập 1 xe ô tô và 1 xe
gắn máy do tổ chức, cá nhân nước ngoài biếu, tặng quy định tại Thông tư số 143/2015/TT-BTC ngày 11/9/2015 của Bộ Tài chính.
Cụ thể, đã ban hành các công văn chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu, đôn đốc Cục Thuế
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung nguồn lực thực hiện giải
quyết dứt điểm các trường hợp nhập khẩu xe ô tô theo hình thức quà biếu, tặng
đã phát sinh; đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan hải quan để rà soát, thu
thập dữ liệu, trao đổi thông tin và thực hiện báo cáo định kỳ về Tổng cục Thuế.
Đối với các Cục Thuế có phát sinh trường hợp các tổ chức, cá nhân chuyển nhượng
xe ô tô có nguồn gốc là quà biếu, quà tặng nhưng thông báo giải thể, không thực
hiện quyết toán thuế hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh, đã yêu cầu Cục Thuế
thực hiện rà soát, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế có liên quan và các cơ
quan chức năng để xác định rõ số thuế các đối tượng này không kê khai nộp thuế,
định danh chi tiết các loại xe này, cập nhật kịp thời vào cơ sở dữ liệu Chương
trình Quản lý ân chỉ và Trang thông tin điện tử của ngành thuế để thực hiện
công khai danh sách doanh nghiệp kinh doanh không nộp thuế, trốn thuế cùng toàn
bộ danh sách những chứng từ, hóa đơn đã phát hành của doanh nghiệp này nhưng
chưa hoặc không nộp thuế. Trên cơ sở đó chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an hoặc
phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý theo quy định.
4.10. Thông qua việc áp dụng quản lý rủi ro
trong quản lý thuế, tập trung thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở kinh doanh
có dấu hiệu rủi ro cao về thuế; thanh tra các doanh nghiệp có khả năng có số thu
điều tiết Ngân sách Trung ương lớn (NSTW); tập trung xử lý các khoản thu NSTW
như: Lợi nhuận, cổ tức được chia cho phần vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
về NSNN theo hướng dẫn tại Thông tư số 187/2013/TT-BTC
ngày 05/12/2013 và Thông tư số 61/2016/TT-BTC
ngày 11/4/2016 của Bộ Tài chính; doanh nghiệp có trích lập quỹ phát triển khoa
học và công nghệ, nhưng thực tế 05 năm không sử dụng; chú trọng thanh tra, kiểm
tra 100% hồ sơ sau hoàn có số thuế hoàn lớn; thanh tra các doanh nghiệp có giao
dịch liên kết, có dấu hiệu chuyển giá; thanh tra về công tác xử lý hóa đơn nhằm
ngăn chặn kịp thời hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn nhằm trốn thuế, gian lận
thuế; ưu đãi thuế; công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng đối
với NNT có hành vi trốn thuế, gian lận về thuế và chiếm đoạt tiền hoàn thuế...
Đồng thời tăng cường công tác phối hợp với cơ quan địa phương thực hiện có hiệu
quả công tác chống thất thu NSNN. Kết quả, từ năm 2014 đến năm 2016, đã tiến
hành thanh tra, kiểm tra 230.822 doanh nghiệp; tăng thu 41.739,3 tỷ đồng;
giảm lỗ 61.909,7 tỷ đồng; nộp ngân sách 30.716,5 tỷ đồng. Riêng đối
với công tác thanh tra chống chuyển giá, năm 2015, đã tiến hành thanh tra, kiểm
tra được 545 doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết, truy thu,
truy hoàn và phạt 1.400,2 tỷ đồng; giảm lỗ 7.491,39 đồng; giảm khấu
trừ 79,3 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 3.941,89 tỷ đồng.
Năm 2016, sau khi thành lập bộ phận thanh tra chống chuyển giá (tại Tổng cục
Thuế và 04 Cục Thuế), đã thanh tra chống chuyển giá đối với 329 doanh
nghiệp truy thu, truy hoàn và phạt 607,52 tỷ đồng, giảm lỗ 5.162,21 tỷ
đồng.
4.11. Triển khai thực hiện đồng bộ các biện
pháp quản lý nợ thuế nhằm đôn đốc thu hồi kịp thời cho ngân sách và hạn chế thấp
nhất số nợ mới phát sinh, thông qua việc: (i) Giao chỉ tiêu thu nợ từ cấp Tổng
cục Thuế cho đến từng bộ phận tham gia trực tiếp thực hiện quy trình quản lý nợ,
nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp cũng như các bộ phận trong
cơ quan thuế đối với công tác quản lý nợ; (ii) Đẩy mạnh việc phối hợp giữa bộ
phận quản lý nợ với các bộ phận thực hiện các chức năng khác như kê khai, thanh
tra, kiểm tra thuế. Phối hợp với NNT, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước để điều chỉnh
kịp thời đối với việc hạch toán nhầm các chỉ tiêu trên chứng từ nộp tiền, hạn
chế “nợ sai” phát sinh; (iii) Hàng tháng thông báo danh sách các doanh nghiệp nợ
để các Cục Thuế tổ chức rà soát, đôn đốc và thực hiện cưỡng chế nợ thuế thông
qua các hình thức: phong tỏa tài khoản, thông báo hóa đơn không còn giá trị sử
dụng..., yêu cầu cơ quan thuế các cấp phân công cụ thể việc đôn đốc, cưỡng chế
nợ thuế đến từng bộ phận, cán bộ. Đồng thời, chỉ đạo Tổng cục Thuế tổ chức giám
sát các Cục Thuế trong công tác quản lý nợ, công khai thông tin nợ thuế trên
các phương tiện thông tin đại chúng để tổ chức thu kịp thời các khoản nợ thuế
có khả năng thu hồi; (iv) Thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng về kỹ năng quản lý nợ
thuế cho công chức làm công tác quản lý nợ tại cơ quan thuế các cấp.
4.12. Điều hành lãi suất phát hành trái phiếu
Chính phủ phù hợp, đồng bộ với diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ trên
cơ sở trao đổi thông tin thường xuyên với NHNN và tham vấn các thành viên thị
trường, để vừa tiết kiệm chi phí huy động vốn cho NSNN vừa huy động được vốn trái
phiếu Chính phủ, góp phần vào kết quả thành công của công tác huy động vốn trái
phiếu Chính phủ qua các năm cả về khối lượng phát hành, kỳ hạn phát hành và chi
phí huy động và vừa thực hiện tái cơ cấu danh mục nợ trái phiếu Chính phủ.
4.13. Trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ của
Bộ Tài chính trong Đề án tái cơ cấu và xử lý nợ xấu hệ thống các tổ chức tín dụng
góp phần để thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng, đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu
an toàn vốn, góp phần quản lý vốn Nhà nước an toàn, hiệu quả, đã theo dõi chặt
chẽ tình hình tài chính của NHNN, số thu nộp NSNN của các Ngân hàng thương mại;
tập trung triển khai đoàn kiểm tra đôn đốc thực hiện nghĩa vụ với NSNN tại 4
Ngân hàng thương mại cổ phần phía Nam, tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác
đôn đốc thu NSNN; thanh tra, kiểm tra định kỳ về nghiệp vụ in, đúc và tiêu hủy
tiền tại NHNN; quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước tại NHNN.
4.14. Chủ động theo dõi, đôn đốc, giám sát
và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình tái cơ cấu NHPTVN; thực hiện trách
nhiệm của Bộ Tài chính trong việc theo dõi, đôn đốc, giám sát tài chính, xử lý
kịp thời các vấn đề của NHCSXH; đồng thời tăng cường giám sát hoạt động tài
chính của các quỹ trong phạm vi quản lý thông qua công tác giám sát từ xa và kiểm
tra trực tiếp để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về mặt tài chính đối
với các Quỹ: Quỹ Hỗ trợ nông dân, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ, Quỹ Bảo lãnh
tín dụng, Quỹ Bảo vệ môi trường; kịp thời tham mưu trong triển khai thực hiện
và tháo gỡ các vướng mắc liên quan trong việc triển khai thực hiện chính sách hỗ
trợ ngư dân về một số chính sách phát triển thủy sản...
4.15. Thực hiện quản lý điều hành thị trường
xổ số truyền thống nhằm đảm bảo thị trường phát triển, ổn định và hiệu quả,
đóng góp nguồn thu cho NSNN để đầu tư cho các công trình phúc lợi, xã hội quan
trọng của địa phương. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan chỉ đạo
Công ty XSĐT Việt Nam lựa chọn đối tác hợp tác kinh doanh phù hợp, đáp ứng kinh
nghiệm và năng lực tài chính theo đúng quy định đảm bảo công khai, minh bạch
đúng quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định pháp luật liên quan. Kịp
thời phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố triển khai phát hành sản phẩm xổ số
mới (xổ số tự chọn số điện toán) tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
thông qua công nghệ hiện đại, thiết bị đầu cuối góp phần đa dạng sản phẩm trên
thị trường xổ số, thêm sự lựa chọn vui chơi có thưởng cho khách hàng và hạn chế
tệ nạn số đề, làm giả vé số. Trong thời gian từ năm 2014-2016, đã chỉ đạo các
cơ quan địa phương (Sở Tài chính, Cục Thuế) tổ chức kiểm tra tại 06 Công ty
XSKT miền Bắc và miền Trung. Thực hiện thanh tra chuyên đề tại 04 Công ty XSKT
miền Nam, kịp thời phát hiện và đề xuất xử lý những sai phạm trong quá trình thực
hiện việc chấp hành pháp luật về quản lý sử dụng vốn và tài sản Nhà nước tại
doanh nghiệp, về hoạt động kinh doanh xổ số kiến thiết, chấp hành nghĩa vụ thuế
và các khoản nộp NSNN, về kế toán thống kê và chế độ pháp luật khác đối với
doanh nghiệp kinh doanh xổ số. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa
phương triển khai kiểm tra tại 23 doanh nghiệp để thẩm định hồ sơ xin cấp Giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước
ngoài theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung kiểm tra về đáp ứng đủ
điều kiện về đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phòng, chống rửa tiền.
4.16. Tăng cường công tác giám sát, thanh
tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật trên thị trường chứng
khoán. Trong 03 năm 2014-2016, đã triển khai tổng cộng hơn 200 đoàn
thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch, đột xuất, theo chuyên đề đối với các tổ chức,
cá nhân tham gia thị trường chứng khoán. Ban hành hơn 400 quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân với tổng số tiền xử phạt
hơn 34 tỷ đồng dựa trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra cũng như kết
quả giám sát thường xuyên, giải quyết khiếu nại tố cáo (KNTC). Bên cạnh việc xử
phạt hành chính, cũng yêu cầu các đối tượng vi phạm chấn chỉnh, khắc phục các
vi phạm, thiếu sót, có biện pháp phù hợp để phòng ngừa tái phạm. Qua thanh tra,
kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ,
công ty đại chúng..., đã phát hiện các vi phạm chủ yếu, từ đó có các kiến nghị
chấn chỉnh và ra quyết định xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi
phạm; đồng thời đưa ra những kiến nghị xử lý góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
4.17. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra
tài chính theo đúng kế hoạch và tiến độ được phê duyệt, vừa thực hiện những cuộc
thanh tra toàn diện theo đối tượng để đánh giá việc chấp hành pháp luật về tài
chính - ngân sách, vừa tổ chức các cuộc thanh tra theo chuyên đề, chuyên sâu,
nhằm phục vụ kịp thời công tác điều hành quản lý của Bộ, của ngành Tài chính. Đẩy
mạnh thanh tra theo rủi ro, đồng thời hoạt động thanh tra cũng luôn theo sát
tình hình thực tế, phục vụ kịp thời nhiệm vụ, yêu cầu quản lý tài chính - ngân
sách, đóng góp quan trọng trong bảo đảm kỷ cương, kỷ luật tài chính, kiến nghị,
khắc phục những bất cập về cơ chế chính sách và làm tốt vai trò tham mưu trong
hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng. Giai đoạn 2014-2016, đã triển khai 262.788
cuộc thanh tra, kiểm tra (trong đó: 12.642 cuộc thanh tra, kiểm tra nội bộ gồm:
Cơ quan Thuế 6.281 cuộc, cơ quan Hải quan 835 cuộc, Kho bạc Nhà nước 5.217 cuộc...).
Kết quả thanh tra, kiểm tra đã kiến nghị xử lý về tài chính số tiền trên 65.907
tỷ đồng và 6.241.443 USD; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 1.936
cá nhân có vi phạm (chủ yếu là cán bộ, công chức vi phạm quy trình, nghiệp
vụ, quy chế nội bộ...). Qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, điều tra,
giải quyết khiếu nại tố cáo của các cơ quan, tổ chức của Bộ Tài chính và công
tác phối hợp với các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm
pháp luật về thuế, buôn lậu, gian lận thương mại, tham nhũng. Những vụ việc có
dấu hiệu tội phạm tham nhũng được kịp thời chuyển hồ sơ cho cơ quan pháp luật để
điều tra, xử lý, truy tố theo thẩm quyền.
III. Đánh giá công tác phối hợp
phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp
Công tác phối hợp lực lượng luôn được Bộ Tài chính
chú trọng để đảm bảo nhiệm vụ phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp được triển khai đồng bộ, hiệu quả giữa các cấp, ngành, lực lượng
từ Trung ương đến địa phương, từ khu vực biên giới cửa khẩu tới nội địa. Trong
nhiều năm qua, Bộ Tài chính luôn chỉ đạo sát sao các đơn vị trong ngành trong
việc phối hợp với các cơ quan thanh tra, điều tra, viện kiểm sát, tòa án, các lực
lượng chức năng và các cơ quan, tổ chức hữu quan trong phòng, chống vi phạm
pháp luật; cử những giám định viên có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm
lâu năm về tài chính tham gia công tác giám định tư pháp về tài chính, phục vụ
cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, trong đó có các vụ án lớn, phức tạp. Một
số kết quả nổi bật trong công tác này có thể kể đến như:
1. Tham mưu Thủ tướng Chính phủ thành lập
Ban chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (gọi tắt
là Ban chỉ đạo 389). Trong đó, Bộ Tài chính được giao là cơ quan chủ trì, thường
trực giúp việc Ban chỉ đạo. Từ khi Ban chỉ đạo 389 được thành lập tới nay, Bộ
Tài chính luôn làm tốt vai trò, nhiệm vụ là đơn vị nòng cốt tham mưu, giúp việc
cho Phó Trưởng ban thường trực, Chính phủ chỉ đạo điều hành các lực lượng chức
năng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác phòng chống buôn lậu, gian
lận thương mại và hàng giả.
2. Tích cực, chủ động xây dựng và thực hiện
quy chế phối hợp với các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Quản lý thị trường,
Cảnh sát Biển... trong công tác phòng chống vi phạm pháp luật, phòng chống tội
phạm trong lĩnh vực tài chính. Trên cơ sở các quy chế phối hợp, đã chỉ đạo sát
sao các đơn vị trực thuộc trong việc trao đổi thông tin, tuần tra, kiểm soát,
hiệp đồng tác chiến, phát hiện, bắt giữ, xử lý và chuyển giao vụ việc, đối tượng
vi phạm pháp luật; góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung được Đảng, Nhà nước giao
cho mỗi Bộ, Ngành. 100% các đơn vị trực thuộc đều đã xây dựng kế hoạch, tổ chức
triển khai quy chế phối hợp phù hợp với tình hình thực tế tại địa bàn. Bộ Tài
chính và các Bộ, Ngành cũng đã phối hợp kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng
mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; đảm bảo tạo điều kiện cho nhau hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, tránh chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ của các
bên. Kết quả, theo thống kê sơ bộ, trong giai đoạn 2014 - 2016, Bộ Tài chính đã
chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành phát hiện, bắt giữ, xử lý 1.608 vụ
vi phạm/1.208 đối tượng. Trong đó, có 127 vụ/114 đối tượng liên quan đến
an ninh quốc gia, an ninh trật tự; 1.165 vụ/740 đối tượng liên quan đến buôn
bán, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; 303 vụ/351 đối tượng liên
quan đến buôn bán, vận chuyển trái phép chất ma túy; 13 vụ/3 đối tượng liên
quan đến vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng giả.
3. Thường xuyên phối hợp với các cơ quan, tổ
chức quốc tế trong công tác cung cấp, trao đổi thông tin; đào tạo, tập huấn; tổ
chức các cuộc họp, hội thảo; thực hiện các chiến dịch, dự án nhằm nâng cao hiệu
quả công tác kiểm soát hải quan. Bộ Tài chính cũng chú trọng đẩy mạnh quan hệ đối
tác Hải quan - Doanh nghiệp. Theo đó, tăng cường phối hợp với các hiệp hội,
ngành nghề... với mục đích trao đổi, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, tạo sự tin tưởng của cộng đồng
doanh nghiệp đối với hoạt động quản lý Nhà nước về hải quan. Đồng thời tiếp nhận,
xử lý những thông tin phản ánh, tố giác tội phạm..., qua đó tăng cường công tác
kiểm soát, phát hiện, bắt giữ vụ việc vi phạm.
4. Thực hiện Quy chế phối hợp số 1527/QCPH/TCT-TCCS ngày 31/10/2007 ký kết giữa
Tổng cục Thuế và Tổng cục Cảnh sát, năm 2016, Bộ Tài chính đã chuyển sang cơ
quan Công an 3.261 vụ. Trong đó: 62 vụ có hành vi trốn thuế, vi phạm
pháp luật về thuế; 85 vụ có dấu hiệu trốn thuế; 199 vụ đề nghị phối hợp đôn đốc
nợ đọng thuế; 1 vụ có dấu hiệu chiếm đoạt tiền hoàn thuế; 121 vụ mua bán, sử dụng
hóa đơn bất hợp pháp; 219 vụ vận chuyển hàng hóa không rõ nguồn gốc, hàng nhập
lậu và 2.574 vụ vi phạm khác. Kết quả, năm 2016, cơ quan Công an đã xử lý hình
sự 23 vụ, kiến nghị thu hồi 1.159 tỷ, số tiền đã thu hồi là 4 tỷ; khởi tố điều
tra 20 bị can có dấu hiệu vi phạm về thuế, trốn thuế, mua bán sử dụng hóa đơn bất
hợp pháp; chuyển lại Bộ Tài chính xử lý hành chính 324 vụ; Bộ Tài chính đã xử
lý 95 vụ, số tiền kiến nghị thu hồi là 75 tỷ, số tiền đã thu hồi là 8,9 tỷ; 229
vụ không xử lý do người nộp thuế bỏ địa chỉ kinh doanh.
5. Ban hành Quyết định số 568/QĐ-BTC ngày 26/3/2015 về việc ban hành quy
chế xử lý thông tin tổ chức, cá nhân có giao dịch đáng ngờ tại cơ quan Thuế các
cấp nhằm giám sát cũng như nâng cao hiệu quả trong việc xử lý thông tin do cơ
quan Thanh tra, giám sát ngân hàng chuyển tới; tiếp theo đó ngày 11/5/2015, đã
ký Quy chế phối hợp số 1319/QCPH-CQTTGSNH-TCT
giữa Tổng cục Thuế và cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng để nâng cao công
tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng với
cơ quan Thuế. Trên cơ sở thực hiện quy chế phối hợp, hai cơ quan đã thực hiện
đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định cho từng cơ quan để
phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực thuế, tạo điều kiện cho cơ quan Thuế tiếp nhận thông tin được nhanh
chóng, thuận tiện, rút ngắn được thời gian xử lý thông tin.
6. Xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch số 85/2016/TTLT-BTC-BCA ngày 20/6/2016 giữa Bộ Tài
chính và Bộ Công an quy định về phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo
đảm an toàn xã hội trong lĩnh vực tài chính; Chỉ đạo Công ty XSĐT Việt Nam ký kết
Quy chế phối hợp với Cục An ninh Tài chính tiền tệ và đầu tư (A84) và Cục Cảnh
sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) để phối hợp, đảm bảo tính
minh bạch trong hoạt động kinh doanh xổ số.
7. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan,
trong đó có Bộ Công an, trong việc xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp
luật liên quan đến hoạt động kinh doanh xổ số, casino, đặt cược, trò chơi điện
tử có thưởng dành cho người nước ngoài; thực hiện giám sát nghiệp vụ quay số mở
thưởng đối với sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty XSĐT Việt Nam, đảm
bảo quá trình quay số diễn ra công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp
luật; theo dõi, giám sát chặt chẽ công tác phát hành sản phẩm xổ số tự chọn số
điện toán góp phần phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật đối với lĩnh vực
này nói riêng và ổn định thị trường xổ số nói chung; cung cấp thông tin, điều
tra, thanh tra, kiểm tra, giải quyết KNTC và xử lý vi phạm pháp luật; chuyển
giao các vụ việc có dấu hiệu tội phạm để xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự.
8. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Bộ
Công an, Công an các tỉnh thành trong công tác đấu tranh, phòng ngừa, phát hiện,
điều tra làm rõ và xử lý tội phạm, vi phạm trên TTCK; cung cấp thông tin, tài
liệu, hồ sơ phục vụ điều tra, xác minh dấu hiệu tội phạm theo yêu cầu của cơ
quan Công an (Cục An ninh điều tra, Cục An ninh tài chính tiền tệ đầu tư, Cục Cảnh
sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng, Văn phòng cơ quan cảnh sát điều
tra, Cục Cảnh sát hình sự - Bộ Công an; Công an thành phố Hà Nội, Công an TP. Hồ
Chí Minh...) liên quan đến hoạt động chào bán cổ phiếu, niêm yết, giao dịch cổ
phiếu, hoạt động kinh doanh, quản trị điều hành của một số công ty đại chúng, tổ
chức niêm yết, công ty chứng khoán, cổ đông nội bộ của tổ chức niêm yết, nhà đầu
tư trên TTCK. Điển hình, đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin và lập hồ sơ
chuyển cơ quan điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự đối với 01 vụ việc có dấu
hiệu tội phạm xảy ra tại Công ty cổ phần Mỏ và Xuất nhập khẩu Khoáng sản Miền
Trung (là tổ chức đăng ký giao dịch trên HNX với mã cổ phiếu: MTM); vụ việc đã
được cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Ngoài
ra, đã đề nghị cơ quan Công an phối hợp xác minh làm rõ dấu hiệu vi phạm pháp
luật của tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động phát hành, giao dịch thao
túng giá cổ phiếu... Từ năm 2014-2016, đã chuyển cho cơ quan Công an 07 vụ việc
(cơ quan Công an đã chuyển lại để xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 cá nhân
có hành vi vi phạm về thao túng với tổng số tiền phạt là 1,7 tỷ đồng, tiếp tục
phối hợp làm rõ vi phạm của một số đối tượng khác); phối hợp cung cấp tài liệu,
trao đổi thông tin phục vụ điều tra, xác minh dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp
luật trong hàng chục vụ việc khác liên quan đến các tổ chức niêm yết, tổ chức
kinh doanh chứng khoán, nhà đầu tư, người nội bộ của tổ chức niêm yết...
10. Chỉ đạo sát sao việc thực hiện phối hợp
các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết KNTC. Khi nhận được đơn thư KNTC thuộc
thẩm quyền của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hay của các Bộ,
ngành, đã kịp thời chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết
và thông báo cho công dân biết cơ quan có thẩm quyền giải quyết KNTC của họ. Đối
với các vụ việc KNTC phức tạp do Chính phủ giao hoặc liên quan đến lĩnh vực quản
lý, Bộ Tài chính đã tiếp nhận, phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành
kiểm tra, xác minh, ban hành kết luận (quyết định) giải quyết dứt điểm, đúng
quy định pháp luật, chấm dứt KNTC. Bố trí cử cán bộ có năng lực tham gia các
đoàn giải quyết KNTC liên ngành hoặc cử Giám định viên tư pháp theo các quyết định
trưng cầu của các lực lượng chức năng. Khi tiếp nhận đơn thư KNTC hoặc sau khi
giải quyết KNTC, đối với các trường hợp vi phạm pháp luật, Bộ Tài chính đã chuyển
hồ sơ sang cơ quan Công an theo quy định pháp luật. Để công tác phối hợp giữa
các đơn vị trong ngành hiệu quả, Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế phối hợp
trong công tác tổ chức tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo giữa
các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc Bộ Tài chính (kèm theo Quyết định số 3127/QĐ-BTC ngày 09/12/2014).
III. Hạn chế, khó khăn, vướng mắc
Tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta vẫn đang diễn
biến phức tạp với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, liều lĩnh hơn,
ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và quyền lợi
của doanh nghiệp, người dân. Nguyên nhân của tình hình trên phát sinh từ nhiều
yếu tố như tác động của những vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh trong cơ chế thị
trường; hội nhập quốc tế; đời sống cư dân một số vùng còn gặp nhiều khó khăn;
hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa xã hội chưa phát huy được tác dụng cần
thiết trong phòng, chống vi phạm pháp luật. Trong ngành Tài chính, một số bất cập
còn tồn tại, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ tại một vài lĩnh vực,
cụ thể:
1. Về cơ sở pháp lý, cơ chế, chính sách
1.1. Do có những tác động khách quan nên
trong những giai đoạn nhất định, có một số văn bản quy phạm pháp luật mới ban
hành đã phải sửa đổi, bổ sung, ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống pháp luật,
gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện.
1.2. Thẩm quyền của lực lượng kiểm soát hải
quan chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao, Bộ
Luật Tố tụng hình sự chưa quy định cho cơ quan Hải quan khởi tố, điều tra vụ
án hình sự đối với một số tội danh như ma túy, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế,
sở hữu trí tuệ...
1.3. Văn bản pháp luật về kiểm tra chuyên
ngành của các Bộ, ngành liên quan quá nhiều, thường xuyên thay đổi, còn chồng
chéo, chưa đồng bộ, gây khó khăn cho cơ quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp
trong việc thực thi. Mặt khác, chưa có sự tương thích giữa một số văn bản quy
phạm pháp luật hoặc thực tế công tác kiểm tra chuyên ngành với Luật Hải quan 2014 và các văn bản hướng dẫn
thi hành nên một số quy định chưa phát huy hết vai trò tích cực trong công tác
cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thông quan và phòng, chống tội
phạm trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
1.4. Chế độ, chính sách đối với công chức
làm nhiệm vụ kiểm soát hải quan vẫn chưa được đảm bảo, cụ thể là các thuyền
viên làm nhiệm vụ chống buôn lậu tại các Hải đội kiểm soát hải quan trên biển
và huấn luyện viên chó nghiệp vụ làm nhiệm vụ phòng, chống ma túy vẫn làm việc
theo chế độ hợp đồng lao động nên về lâu dài sẽ không yên tâm công tác, cống hiến
cho ngành.
1.5. Hệ thống chính sách thuế vẫn còn lồng
ghép nhiều chính sách xã hội, còn nhiều mức miễn, giảm thuế tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp lách thuế, dễ phát sinh tiêu cực giữa doanh nghiệp và cơ quan
quản lý; chính sách thuế liên tục thay đổi, giữa các sắc thuế trong hệ thống
chính sách thuế còn thiếu sự kết hợp hài hòa, giữa mục tiêu số thu cho ngân
sách và mục tiêu kích thích sản xuất phát triển và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
thông qua từng sắc thuế. Một số chế độ chính sách pháp luật về thuế có thay đổi;
các doanh nghiệp, cá nhân tự kê khai thuế do chưa nắm rõ quy định pháp luật hoặc
chế độ chính sách còn bất cập, chưa rõ... nên việc tự kê khai thuế của các đơn
vị còn lúng túng, chưa chuẩn xác. Khi cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra
xử lý vi phạm về thuế hoặc truy thu thuế thường phát sinh khiếu nại, kiến nghị.
1.6. Chức năng và quyền hạn của thanh tra
thuế còn bị bó hẹp chưa trở thành công cụ có hiệu lực để thống nhất thu ngân
sách và răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm về thuế. Chức năng điều tra các
hành vi trốn thuế, gian lận tiền thuế chưa được quy định là một chức năng của
cơ quan Thuế.
1.7. Một số lĩnh vực kinh doanh mới như
casino, đặt cược, kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước
ngoài cần được kiểm soát chặt chẽ, tuy nhiên khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động
kinh doanh đối với lĩnh vực kinh doanh này mới được ban hành. Việc quản lý,
giám sát hoạt động kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó thời gian qua
chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương và
địa phương.
1.8. Thao túng, nội gián (giao dịch sử dụng
thông tin nội bộ) trong lĩnh vực chứng khoán là các hành vi có tính chất nghiêm
trọng, xâm hại đến các nguyên tắc hoạt động của TTCK, đi ngược lại với lợi ích chung
của thị trường, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân
tham gia thị trường cần phải được xử lý nghiêm minh. Bản chất của hành vi thao
túng giá và giao dịch nội gián là sự cấu kết, thông đồng giữa các đối tượng mà
chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân nên việc giám sát, phát hiện, kiểm tra và đặc
biệt là chứng minh hành vi vi phạm cần phải làm rõ được sự cấu kết, thông đồng
giữa các đối tượng liên quan, việc chuyển tiền giữa các đối tượng để thực hiện
hành vi vi phạm. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ Tài chính không có quyền yêu cầu, buộc
đối tượng đến làm việc để đối chất; cũng không có thẩm quyền yêu cầu các cơ
quan liên quan như ngân hàng, bưu điện, cơ quần và tổ chức khác phải cung cấp
các thông tin về dòng tiền giữa các tài khoản nghi vấn, về thông tin trao đổi
giữa đối tượng nghi vấn, về danh tính, nhân thân đối tượng để xác minh, làm rõ
mối liên hệ giữa các đối tượng, sự móc nối, thông đồng giữa các đối tượng trong
việc thực hiện hành vi vi phạm. Thực tế, trong thời gian qua, các cơ quan
chuyên trách trực thuộc Bộ Tài chính đã phối hợp hết sức chặt chẽ với cơ quan
Công an để điều tra, xác minh những trường hợp nghi vấn, do vậy cũng đã góp phần
xử lý những vụ việc nổi cộm, tạo tính răn đe trên thị trường.
2. Về hoạt động nghiệp vụ chuyên môn
2.1. Các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải
quan thực tế rất phức tạp, khó thực hiện, do vậy, đòi hỏi người thực hiện phải
có kiến thức chuyên môn sâu, đúng sở trường và phải có kinh nghiệm mới thực hiện
thành thục, hiệu quả. Phương thức, thủ đoạn của các đối tượng thường xuyên thay
đổi, gây khó khăn cho công tác phát hiện, bắt giữ, xử lý các vụ việc buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa của lực lượng kiểm soát hải quan. Áp lực về thời
gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động
thương mại cũng là thách thức đối với cơ quan Hải quan nói chung và lực lượng
kiểm soát hải quan nói riêng.
2.2. Việc ứng dụng, vận hành Hệ thống thông
quan tự động nhằm tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại luôn bị các đối
tượng lợi dụng triệt để để thực hiện hành vi buôn lậu, sản xuất, vận chuyển,
mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận
thương mại và hàng giả.
2.3. Công tác khai thuế qua mạng mặc dù đã đạt
chỉ tiêu nhưng chưa đáp ứng với yêu cầu đề ra. Các phần mềm ứng dụng hỗ trợ
khai thuế đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn lỗi và chậm được điều chỉnh,
nâng cấp mỗi khi có chính sách mới; đường truyền còn chậm và hay bị nghẽn, lỗi
mạng, nhất là vào những ngày cao điểm. Nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế, chính
sách về thuế được sửa đổi, bổ sung nhiều, mặt khác, việc xây dựng chương trình ứng
dụng bị điều chỉnh bởi các quy định đấu thầu nên việc xây dựng ứng dụng công
nghệ thông tin đi theo văn bản chính sách chưa đáp ứng kịp thời.
2.4. Mặc dù đã được nâng lên về mặt số lượng
nhưng chất lượng các Hội nghị đối thoại doanh nghiệp chưa cao, có lúc, có nơi
còn mang tính hình thức, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do số lượng ý kiến đề
nghị giải đáp và trao đổi tại chỗ của NNT còn ít, chưa phản ánh hết các vướng mắc
về chính sách, pháp luật thuế trong quá trình thực hiện. Việc phối hợp với các
cơ quan ngôn luận trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế đôi lúc
chưa thực sự chủ động và kịp thời.
2.5. Công tác cải cách thủ tục hành chính thuế,
bên cạnh những kết quả tích cực, quan trọng đạt được vẫn còn một số hạn chế
trong giải đáp vướng mắc của người nộp thuế về chính sách, thủ tục thuế hoặc giải
đáp vướng mắc của cơ quan thuế cấp trên với cơ quan thuế cấp dưới đôi lúc còn
chưa kịp thời. Thủ tục hành chính tuy được công khai, nhưng số lượng thủ tục
quá lớn, còn phức tạp làm ảnh hưởng đến thời gian của NNT.
2.6. Công tác giám sát, nắm bắt đối tượng
cũng như trong quản lý phân tích rủi ro còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc xây dựng
kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm còn chưa kịp thời, chưa đảm bảo sát đúng
đối tượng; dẫn đến trong năm phải thực hiện điều chỉnh kế hoạch thanh tra, kiểm
tra nhiều lần; chất lượng, hiệu quả một số cuộc thanh tra, kiểm tra chưa cao.
Việc tự rà soát phát hiện tham nhũng trong nội bộ ngành đã được chú ý hơn,
nhưng chưa phát huy được hiệu quả cao. Công tác tự kiểm tra nội bộ, thanh tra,
kiểm tra trách nhiệm thực hiện Luật Phòng chống
tham nhũng gặp nhiều khó khăn trong việc phát hiện hành vi tham nhũng và chứng
minh người có hành vi tham nhũng đã vụ lợi.
3. Về phối hợp lực lượng
3.1. Ở một số đơn vị cơ sở, việc phối hợp
trao đổi thông tin chưa nề nếp, chưa đầy đủ nên công tác phối hợp chưa chặt chẽ,
thống nhất. Trong khi đó, công tác trao đổi thông tin nghiệp vụ cụ thể mới chỉ
thực hiện khi có yêu cầu, dẫn đến việc các lực lượng chưa phối hợp hiệu quả với
nhau trong chủ động xây dựng xác lập các chuyên án đấu tranh, triệt phá những
đường dây, ổ nhóm tội phạm lớn, phức tạp.
3.2. Ở một số lĩnh vực kinh doanh mới được
Chính phủ ban hành khuôn khổ pháp lý như casino và đặt cược, việc phối hợp
trong kiểm tra, giám sát hàng năm và định kỳ về việc chấp hành chế độ quy định
đối với các lĩnh vực này giữa Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương trong
thời gian qua chưa được triển khai hiệu quả. Doanh nghiệp tổ chức hoạt động
kinh doanh chưa thực sự quan tâm, chú trọng trong công tác quản lý nội bộ, xây
dựng và ban hành các quy trình, quy chế về phòng, chống rửa tiền, theo dõi,
giám sát người tham gia chơi...
3.3. Đối với một số lĩnh vực kinh doanh có
điều kiện, cần sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là
Bộ Công an như xổ số, casino, đặt cược, trò chơi điện tử có thưởng dành cho người
nước ngoài. Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước của Bộ Tài chính và Bộ Công an
hiện đang thực hiện độc lập, chưa có sự phối hợp đồng bộ trên mọi mặt, do đó
chưa phát huy được tối đa hiệu quả phối hợp trong việc phòng, chống tội phạm.
4. Về tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức
4.1. Khối lượng, quy mô triển khai hoạt động
nghiệp vụ chuyên ngành ngày một gia tăng. Trong khi đó, nguồn nhân lực của nhiều
đơn vị trong ngành Tài chính còn thiếu, điển hình là các đơn vị thực hiện công
tác kiểm soát hải quan; quản lý thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; thanh tra
chuyên ngành chứng khoán. Cụ thể:
4.1.1. Phạm vi, địa bàn hoạt động hải
quan trải dài trên phạm vi toàn quốc, một số nơi địa hình hiểm trở, ranh giới
quốc gia giữa nước ta và nước có chung đường biên giới liền nhau, trong khi đó,
biên chế của một số đơn vị Hải quan còn ít cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của công
tác kiểm soát hải quan.
4.1.2. Với số lượng doanh nghiệp được
quản lý thuế hàng năm đều tăng cao, trong khi cán bộ làm công tác quản lý thuế
nói chung và công tác thanh tra, kiểm tra thuế gần như là không tăng. Theo đó,
nguồn nhân lực cho ngành thuế còn thiếu nhiều, khối lượng công việc hiện tại được
giao quá lớn, nguồn nhân lực cũng đã được quan tâm bổ sung, tuy nhiên vẫn chưa
đủ để đáp ứng yêu cầu công việc.
4.1.3. Khối lượng công tác thanh tra,
xử lý vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán là rất lớn, tính chất phức
tạp với số lượng tổ chức, cá nhân tham gia thị trường ngày càng đông, các sản
phẩm dịch vụ trên thị trường ngày càng phức tạp, đa dạng. Hàng năm, Bộ Tài
chính phải triển khai nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra, thực hiện giám sát phát
hiện và xử lý vi phạm hành chính, giải quyết đơn thư cũng như nhiều công việc
khác liên quan trên hoạt động chứng khoán của hàng nghìn tổ chức (công ty đại
chúng, tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán, công
ty quản lý quỹ, ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát, công ty kiểm toán...), rất
nhiều cá nhân (1,6 triệu nhà đầu tư có tài khoản giao dịch chứng khoán, hàng
nghìn người hành nghề chứng khoán tại các tổ chức kinh doanh chứng khoán, kiểm
toán viên được chấp thuận, cổ đông lớn, cổ đông nội bộ và người có liên quan tại
các công ty đại chúng...). Tuy nhiên, hiện nay số lượng cán bộ thanh tra chuyên
ngành chứng khoán còn rất mỏng, mới có khoảng 30 người với nhiều chuyên môn
khác nhau, số lượng cán bộ có chuyên ngành luật, kế toán, kiểm toán còn ít.
4.2. Vẫn còn một số ít cán bộ công chức
ngành thuế chưa thật sự nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ;
chưa chấp hành đúng nội quy, kỷ cương, kỷ luật; không thường xuyên cập nhật
thông tin, trau dồi kiến thức, nhất là cập nhật những nội dung về chính sách,
quản lý thuế mới để tự bồi dưỡng bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn
luyện phẩm chất đạo đức nhằm đáp ứng yêu cầu công việc.
4.3. Chế độ, định mức, tiêu chuẩn mặc dù đã
được rà soát, điều chỉnh, bổ sung thường xuyên hơn, nhưng vẫn còn nhiều nội
dung chưa phù hợp với thực tế, nhất là chế độ lương, phụ cấp cho cán bộ, công
chức, viên chức...
4.4. Đối với một số lĩnh vực mới như casino,
đặt cược, trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, cán bộ của các
cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan cần được đào tạo, cập nhật kiến thức
trong việc tổ chức, điều hành thị trường, đặc biệt là thanh tra, kiểm tra và
giám sát.
4.5. Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, còn
sự thiếu theo dõi, chỉ đạo sát sao của các cán bộ quản lý; tâm lý “cấp phát,
xin cho”, đạo đức nghề nghiệp xuống cấp của một số cán bộ tín dụng dẫn đến phát
sinh một số vụ án tại Ngân hàng Phát triển liên quan đến việc cố ý làm trái quy
định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hiệu quả nghiêm trọng.
5. Về tài chính đảm bảo và trang thiết bị,
phương tiện phục vụ hoạt động nghiệp vụ
5.1. Cơ chế, chính sách tài chính phục vụ
cho công tác phòng, chống tội phạm tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng
nhu cầu cải cách hiện đại hóa mạnh mẽ, trong đó, kinh phí hỗ trợ công tác
phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống buôn lậu, sản xuất, vận chuyển,
mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận
thương mại và hàng giả nói riêng vẫn còn hạn chế, việc thanh toán một số nội
dung chi vẫn gặp khó khăn do phải đảm bảo yếu tố bí mật nghiệp vụ.
5.2. Trang thiết bị, phương tiện phục vụ
công tác phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
chưa đảm bảo, thiếu đồng bộ như đội tàu cao tốc đã cũ nên hiệu quả sử dụng
không cao; hệ thống máy soi container chưa được trang bị đầy đủ, kịp thời cho
các địa bàn trọng điểm, chưa đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ trong tình hình mới.
PHẦN II. MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
I. Dự báo tình hình trong nước
và quốc tế tác động đến công tác phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn
thuế của các doanh nghiệp giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến
tích cực, đạt được một số kết quả khởi sắc trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Nền kinh tế Việt Nam được dự kiến tiếp tục
tăng trưởng cao với tốc độ bình quân đạt khoảng 7-8%/năm; cơ cấu kinh tế được
chuyển dịch, theo đó tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ được nâng cao
chiếm khoảng 85% trong GDP; tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 45%; thu nhập thực tế của
dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; khoảng cách thu nhập giữa các vùng
và nhóm dân cư được thu hẹp... Việt Nam cũng đang hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế quốc tế thông qua việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Cộng
đồng kinh tế ASEAN; ký kết Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á-Âu, Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam - EU; hoàn tất đàm phán Hiệp định xuyên Thái Bình
Dương (TTP).
Bên cạnh những thuận lợi do hội nhập quốc tế mang lại,
nước ta cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức. Việt Nam ít nhiều bị ảnh
hưởng bởi những biến động khó lường của tình hình an ninh, chính trị, kinh tế
thế giới và khu vực như khủng bố, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, xung đột vũ
trang, di cư trái phép, thiên tai, dịch bệnh, quan hệ căng thẳng giữa các nước
lớn trên thế giới, sự kiện Brexit quyết định Anh rời khỏi Liên minh Châu Âu,
suy thoái kinh tế toàn cầu... Các thế lực thù địch, phần tử chống đối Nhà nước
luôn lợi dụng sự mở rộng hợp tác quốc tế để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa
bình”, bạo loạn lật đổ, tăng cường các hoạt động chống phá và kích động chia rẽ
đại đoàn kết dân tộc, tìm cách gây mất ổn định chính trị, chống đối chính quyền,
phá hoại cách mạng nước ta.
Các băng nhóm tội phạm, các doanh nghiệp làm ăn bất
chính lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế, sự tạo thuận lợi cho hoạt động thương
mại để thực hiện hành vi buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, mua bán hàng cấm, vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận thương mại và hàng
giả với quy mô lớn, gây mất ổn định an ninh chính trị, an ninh kinh tế, trật tự,
an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nền sản xuất hàng hóa trong nước, gây thất thu
cho NSNN. Đặc biệt, cam kết cắt giảm các dòng thuế từ việc Việt Nam tham gia
các hiệp định song phương, đa phương về tự do thương mại tiềm ẩn nguy cơ phát
sinh tội phạm lợi dụng ưu đãi về thuế quan và các biện pháp phi thuế quan để thực
hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, tham gia cộng đồng kinh tế quốc tế đòi
hỏi Việt Nam mở cửa thị trường cho cả hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và lao động.
Điều này tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp trong nước
có sức cạnh tranh yếu và ở các ngành vốn được bảo hộ cao từ trước đến nay. Cùng
với sự “cạnh tranh về thuế” để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là sự di
chuyển tự do trong nội tại các khối kinh tế quốc tế, có thể ảnh hưởng đến sự
phát triển của các doanh nghiệp trong nước.
Một trong những thách thức hiện nay trong công tác
quản lý thuế là quá nhiều mức thuế và số lượng lớn các khoản miễn giảm, ưu đãi
thuế. Khả năng linh hoạt di chuyển dòng vốn và các hoạt động ngày càng tăng của
các công ty nước ngoài sẽ đòi hỏi loại bỏ gánh nặng về thuế gây ra đối với
doanh nghiệp và cần phải đưa ra những biện pháp quản lý thuế quốc tế tốt hơn để
tránh những hành vi chuyển giá trốn thuế. Những thách thức này sẽ lớn hơn trong
bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại và sự mất ổn định kinh tế.
Việc mở cửa các ngành kinh tế, cho phép tăng tỷ lệ
sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ có khả năng phát sinh hình thức vi phạm,
tội phạm về tài chính, chứng khoán mang tính xuyên biên giới. Tội phạm trong
lĩnh vực tài chính ngân hàng có thể sẽ lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế, những
điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động thương mại, cùng với sự phát
triển của công nghệ thông tin, Internet, cơ sở hạ tầng trong nước và sự ra đời
của các công cụ hỗ trợ (điện thoại thông minh, máy tính bảng...) để thực hiện
các hành vi vi phạm pháp luật, gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu
cực đến nền sản xuất trong nước và thu NSNN, đặc biệt là các loại tội phạm sử dụng
công nghệ cao để tổ chức kinh doanh đánh bạc, cá cược bất hợp pháp qua mạng với
quy mô và phương thức hoạt động ngày càng tinh vi.
Thị trường chứng khoán phát triển về quy mô cũng
như chiều sâu, với nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính mới, cùng với phương thức
giao dịch hiện đại cũng có nguy cơ làm phát sinh loại tội phạm về chứng khoán
và thị trường chứng khoán với phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm gian lận, trục
lợi, thao túng thị trường, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân trên thị trường chứng khoán cũng như sự ổn định, tính minh bạch, công bằng
trên thị trường chứng khoán, đồng thời ảnh hưởng tới niềm tin của thị trường
cũng như hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý giám sát và chính sách vĩ mô của
cơ quan quản lý.
Dự báo trong thời gian tới, tình hình vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành
vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp ở nước ta tiếp tục diễn biến phức
tạp. Đây sẽ là những thách thức không nhỏ đòi hỏi ngành Tài chính phải có những
giải pháp tổng thể, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm
pháp luật và tích cực phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp.
II. Mục tiêu
Để hoàn thành nhiệm vụ phòng, chống vi phạm pháp luật
và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp
giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2030, góp phần bảo đảm an ninh chính
trị, trật tự, an toàn xã hội, chống thất thu cho NSNN theo chỉ đạo của Chính phủ
tại Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm, Bộ Tài chính đề ra các mục tiêu
như sau:
1. Mục tiêu chung
1.1. Thực thi Chiến lược quốc gia phòng, chống
tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định
số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng
Chính phủ) trong ngành Tài chính.
1.2. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý
thức, trách nhiệm của lãnh đạo các cấp và toàn thể cán bộ, công chức, doanh
nghiệp và người dân về việc tôn trọng, chấp hành pháp luật, nhằm góp phần xây dựng
xã hội an ninh, an toàn, trật tự, văn minh, nề nếp và thân thiện.
1.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính
về phòng, chống vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh
vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá,
trốn thuế của các doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý;
bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả và tiếp thu có chọn lọc
các thông lệ quốc tế vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
1.4. Kịp thời làm rõ nguyên nhân và điều kiện
phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp;
khắc phục những tồn tại, hạn chế, khó khăn, bất cập.
1.5. Xử lý kịp thời, dứt điểm các vụ việc vi
phạm, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần nâng cao hơn nữa uy
tín, niềm tin của Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân với ngành Tài chính.
2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
2.1. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống
vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp. Trong đó, trọng tâm là kiểm soát chặt chẽ tội phạm liên quan
đến an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, an toàn cộng đồng; tội phạm có tổ chức,
xuyên quốc gia...
2.2. Đẩy lùi tội phạm trong lĩnh vực tài
chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế
của các doanh nghiệp; phấn đấu đến sau năm 2020 giảm từ 3 - 5% tổng số vụ vi phạm
hành chính, số vụ vi phạm hình sự so với giai đoạn 2016 - 2020.
2.3. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
năng lực, trình độ, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ, công chức.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng cơ bản yêu cầu về số lượng
và chất lượng, có cơ cấu hợp lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu
của công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm
trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi
chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp.
2.4. Đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa toàn
ngành Tài chính. Phấn đấu đến năm 2020, bảo đảm mức độ hài lòng của cá nhân, tổ
chức về thủ tục hành chính đạt trên 80%. Giữ vững và cải thiện chỉ số đánh giá
cải cách hành chính của Bộ Tài chính trong nhóm các Bộ, ngành dẫn đầu.
2.5. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý của
ngành đảm bảo thống nhất, phân định rõ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn giữa các
cơ quan tài chính. Xây dựng bộ máy hiện đại, hiệu quả và hiệu lực, đáp ứng yêu
cầu là bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống
vi phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp.
3. Mục tiêu định hướng đến năm 2030
3.1. Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của
toàn ngành trong phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tội phạm, vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi
chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp; giảm vi phạm ở các địa bàn trọng điểm,
góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tăng thu cho NSNN,
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
3.2. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng,
lành mạnh, văn minh, để mọi doanh nghiệp, công dân đều có ý thức tôn trọng, tự
giác tuân thủ pháp luật về tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hóa...
3.3. Chủ động, tích cực phối hợp với các lực
lượng chức năng trong và ngoài ngành trong công tác phòng, chống tội phạm liên
quan đến lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành
vi chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp.
3.4. Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,
phát hiện, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, chứng
khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, hành vi chuyển giá, trốn thuế của các
doanh nghiệp; đảm bảo xử lý “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”.
III. Giải pháp phòng, chống vi
phạm pháp luật và phối hợp phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài chính, chứng
khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của các
doanh nghiệp
1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách
Thực hiện mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật,
chính sách tài chính góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tháo gỡ các rào cản về cơ chế, chính sách tài chính để thực
hiện hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính,
chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển giá, trốn thuế của
các doanh nghiệp, bảo đảm an ninh quốc gia và ổn định kinh tế - xã hội đất nước.
Trong giai đoạn 2016-2030, tập trung thực hiện các giải pháp chính sau:
1.1. Hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý liên
quan đến công tác hải quan theo từng giai đoạn, đảm bảo nội luật hóa đầy đủ, kịp
thời, phù hợp, hài hòa với các Điều ước quốc tế và Hiệp định thương tự do đa
phương mà Việt Nam đã tham gia, ký kết. Theo đó, cần bám sát vào nội dung
phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan để phục vụ mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước và Kế hoạch cải cách, phát
triển và hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp
theo. Cụ thể, hoàn thiện cơ sở pháp lý về công tác xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan; công tác giám sát, quản lý về hải quan, quy trình thủ
tục hải quan; quy trình triển khai các biện pháp thu thập, xử lý thông tin quản
lý rủi ro; chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; công tác
quản lý thuế; kiểm định hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; quy
trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan và công tác kiểm soát hải quan.
1.2. Tổng kết, đánh giá thực hiện Luật Quản lý thuế, nghiên cứu đề xuất sửa đổi
quy định Luật Quản lý thuế đảm bảo thống nhất,
đồng bộ với mục tiêu: Đổi mới cơ chế quản lý thuế theo hướng hiện đại; Ứng dụng
công nghệ thông tin trong các khâu quản lý thuế; Quản lý thuế dựa trên quản lý
rủi ro; Đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời vào NSNN, nâng cao tính tự giác tuân
thủ của ĐTNT, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, giảm nợ thuế.
1.3. Rà soát để sửa đổi, bổ sung cơ chế
chính sách thuế, đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế,
quyết toán thuế, mẫu tờ khai... quy định tại các văn bản như Thông tư, Quyết định
của Bộ Tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, phục vụ cho
tái thiết kế quy trình nghiệp vụ.
1.4. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan
nghiên cứu, xây dựng Luật trò chơi có thưởng trình Quốc hội ban hành nhằm: tăng
hiệu lực pháp lý, đồng bộ các quy định đang được điều chỉnh tại nhiều văn bản
khác nhau (thuế, chế độ kế toán, kiểm toán,...); bổ sung các quy định còn thiếu,
yếu về nghiệp vụ kinh doanh của doanh nghiệp, tiêu chuẩn thiết bị, máy móc...;
định hướng phát triển hài hòa lĩnh vực kinh doanh trò chơi có thưởng với mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội, du lịch của Đảng, Chính phủ, tạo ra môi trường
kinh doanh công bằng, minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút
được các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm, đồng thời đẩy mạnh công
tác phòng, chống vi phạm pháp luật, đấu tranh với hoạt động đánh bạc, cá cược
trái phép và các tác động đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
1.5. Nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển
thị trường kinh doanh trò chơi có thưởng, trong đó đánh giá cụ thể các tác động
tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhằm đưa ra các giải
pháp phù hợp để điều hành thị trường, hoàn thiện cơ chế chính sách và công tác
phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trong các lĩnh vực này.
1.6. Sửa đổi, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về
phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo hình thức riêng lẻ, trong đó góp phần
nâng cao tính công khai, minh bạch của việc huy động vốn thông qua phát hành
trái phiếu doanh nghiệp nhằm phòng, chống các hành vi vi phạm liên quan đến
phát hành trái phiếu riêng lẻ.
1.7. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ
chế, chính sách về chế độ quản lý tài chính đối với NHNN, các tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài, kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
1.8. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ
chế, chính sách liên quan đến hoạt động của NHPTVN, NHCSXH, tín dụng đầu tư của
Nhà nước và tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách nhằm
hoàn thiện mô hình tổ chức, hoạt động của hai ngân hàng chính sách theo quy định
của Luật tổ chức tín dụng đảm bảo phù hợp với
tình hình thực tế, nâng cao hiệu quả hoạt động của hai ngân hàng chính sách, đồng
thời hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ của Nhà nước thông qua hai kênh tín dụng
đầu tư và tín dụng cho các đối tượng chính sách, qua đó hỗ trợ tốt hơn cho mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới.
1.9. Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn đối với
lĩnh vực kinh doanh mới (casino, đặt cược) vừa được Chính phủ ban hành đảm bảo
nguyên tắc kiểm soát chặt chẽ về mọi mặt như doanh nghiệp tổ chức hoạt động
kinh doanh, đối tượng tham gia chơi, đặc biệt các điều kiện đối với người Việt
Nam được phép tham gia chơi tại các casino, trách nhiệm thực hiện và phối hợp
thanh tra, kiểm tra giám sát đối với các cơ quan liên quan.
1.10. Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp
luật chung về chứng khoán, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển
lành mạnh, ổn định, an toàn, hỗ trợ công tác quản lý giám sát hiệu quả đối với
thị trường. Trong trung hạn, xây dựng và trình ban hành Luật Chứng khoán (sửa đổi)
để khắc phục các hạn chế, vướng mắc, bất cập hiện nay, đồng thời bao quát những
vấn đề phát sinh từ thực tiễn thi hành; tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đồng
bộ hướng dẫn Luật Chứng khoán. Về dài hạn,
tiến hành nghiên cứu, đánh giá sự cần thiết xây dựng Luật Chứng khoán thế hệ mới.
1.11. Hoàn thiện khung pháp lý về thanh tra,
kiểm tra, xử lý vi phạm về chứng khoán:
1.11.1. Đề xuất bổ sung quyền thu thập
thông tin, tài liệu phục vụ hoạt động thanh tra, xử lý vi phạm (quyền yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến đối tượng
có dấu hiệu vi phạm, quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đến làm việc để làm rõ hành
vi vi phạm...) cho UBCKNN tại Luật Chứng khoán (sửa đổi) nhằm đảm bảo năng lực
thanh tra, cưỡng chế thực thi, tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
1.11.2. Về chế tài xử phạt vi phạm hành
chính: tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định thay thế Nghị định
108/2013/NĐ-CP và Nghị định 145/2016/NĐ-CP) để đảm bảo thực thi các quy định
pháp luật mới được ban hành trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng
khoán.
1.11.3. Về chế tài xử lý tội phạm: tiếp
tục nghiên cứu hoàn thiện quy định về các tội danh về chứng khoán tại Bộ luật Hình sự 2015.
1.12. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn
thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính đảm bảo chặt chẽ, công khai, minh bạch
đáp ứng yêu cầu phòng chống tham nhũng, lãng phí. Nhất là các định mức, tiêu
chuẩn, chế độ về quản lý, sử dụng NSNN, quản lý sử dụng đất đai, trụ sở làm việc,
nhà công vụ, tài chính doanh nghiệp...
2. Cải cách hành chính, hiện đại hóa
Bộ Tài chính luôn xác định công tác cải cách hành
chính là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, trong thời gian tới cần triển khai
quyết liệt, đồng bộ trên các lĩnh vực quản lý Nhà nước được phân công, đảm bảo
yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm pháp luật trong các
lĩnh vực tài chính, chứng khoán, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; hành vi chuyển
giá, trốn thuế của các doanh nghiệp. Trong đó, tập trung triển khai các giải
pháp:
2.1. Cải cách hành chính
2.1.1. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính trong ngành Tài chính, trọng tâm là lĩnh vực thuế, hải quan, góp phần cải
thiện môi trường kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp,
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh:
2.1.1.1. Tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết
số 30c/NQ-CP của Chính phủ về chương trình
cải cách tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; xây dựng và triển
khai các chương trình, kế hoạch nhiệm vụ năm 2017 về cải cách hành chính, kiểm
soát thủ tục hành chính.
2.1.1.2. Tập trung triển khai các nhiệm vụ,
giải pháp đã đề ra về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP, Nghị quyết số 35/NQ-CP và Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số
36a/NQ-CP của Chính phủ, góp phần thu hẹp
khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN-4.
2.1.1.3. Mở rộng triển khai hoàn thuế điện tử
trên phạm vi toàn quốc; tăng cường phối hợp thu với ngân hàng; phấn đấu thực hiện
các dịch vụ công trực tuyến với mức độ cao hơn. Đồng thời, tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát để những cải cách thủ tục hành chính đi vào thực tế, tạo thuận
lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế.
2.1.1.4. Thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải
pháp cải cách hành chính trong ngành thuế mà trọng tâm là: tiếp tục hỗ trợ,
tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
thuế, rút ngắn quy trình xử lý, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin
trong công tác quản lý nhà nước; giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, bảo
đảm công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước,
phù hợp với thông lệ quốc tế.
2.1.1.5. Sửa đổi chế độ về in, phát hành, sử
dụng hóa đơn để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, chống gian lận thuế đối với các
nội dung: Quy định một số loại hình doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng hóa đơn
điện tử; Quy định cơ quan thuế hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện hóa đơn
điện tử có xác thực của cơ quan thuế; Rút ngắn thời gian đăng ký sử dụng hóa
đơn tự in, hóa đơn đặt in gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp từ 05 ngày xuống
01 ngày làm việc (bao gồm cả doanh nghiệp mới thành lập); Doanh nghiệp được sử
dụng hóa đơn ngay trong ngày kể từ ngày Thông báo phát hành hóa đơn và hóa đơn
mẫu được gửi đến cơ quan Thuế quản lý trực tiếp đối với các Thông báo phát hành
hóa đơn và hóa đơn mẫu được lập đúng theo quy định.
2.1.2. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương
tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng:
2.1.2.1. Các cơ quan, địa phương thực hiện
nghiêm kỷ luật tài chính - Ngân sách Nhà nước, đảm bảo các khoản thu, chi ngân
sách phải được dự toán và do luật định; tăng cường kiểm tra, giám sát và công
khai, minh bạch việc sử dụng NSNN. Tổ chức thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thực
hiện nghiêm quy định không ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành
chương trình, đề án có sử dụng NSNN nhưng không hoặc chưa cân đối được nguồn. Tập
trung chỉ đạo công tác quyết toán vốn đầu tư đối với các công trình, dự án hoàn
thành.
2.1.2.2. Thực hiện triệt để tiết kiệm, chống
thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm các kết luận thanh
tra và việc xử lý sau thanh, kiểm tra, kiểm toán đối với những trường hợp vi phạm,
gây lãng phí tiền, tài sản nhà nước, tài nguyên thiên nhiên.
2.1.2.2. Yêu cầu hệ thống Kho bạc Nhà nước
tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu, đảm bảo đúng chính sách,
chế độ quy định, nhất là các khoản chi xây dựng trụ sở, mua sắm phương tiện,
trang thiết bị đắt tiền.
2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyên nghiệp
minh bạch trong triển khai hoạt động nghiệp vụ
2.2.1. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin trong các hoạt động của các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ
Tài chính, hướng tới mục tiêu đến năm 2020, các văn bản, tài liệu trao đổi giữa
các cơ quan, đơn vị được thực hiện dưới dạng điện tử; xử lý công việc và giải
quyết thủ tục hành chính được thực hiện trên môi trường mạng đáp ứng yêu cầu
đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc trong
hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Theo đó, sẽ tập trung thực hiện các nhóm nhiệm
vụ sau:
2.2.1.1. Xây dựng và hoàn thành cơ bản hệ thống
hạ tầng công nghệ thông tin của ngành bao gồm hệ thống mạng thông tin, trang
thiết bị máy tính, hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số,
hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính.
2.2.1.2. Triển khai hệ thống thông tin GFMIS
góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công quản lý tài chính công.
2.2.1.3. Công bố danh mục các dịch vụ hành
chính công trên mạng thông tin điện tử của Bộ và các cơ quan, đơn vị.
2.2.1.4. Thực hiện các dịch vụ hành chính
công trực tuyến mức độ 3 và 4 (100% khai, nộp và hoàn thuế điện tử), vận hành ổn
định hệ thống VINACCS/VCIS, để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và người dân. Đến
năm 2020, thực hiện mô hình hải quan một cửa quốc gia (NWS) trên toàn hệ thống
các đơn vị ngành hải quan và hoàn thành đề án hiện đại hóa công tác quản lý thuế,
hệ thống TABMIS của Kho bạc Nhà nước.
2.2.2. Ứng dụng, khai thác triệt để
công nghệ thông tin, các trang thiết bị hiện đại vào hoạt động nghiệp vụ kiểm
soát hải quan, trọng tâm là vận hành, đầu tư nâng cấp hệ thống trang thiết bị kỹ
thuật của Phòng Giám sát hải quan trực tuyến và đưa vào vận hành hệ thống seal
định vụ GPS container; hệ thống theo dõi hoạt động tàu biển vận chuyển xăng, dầu;
hệ thống xe chỉ huy giám sát.
2.2.3. Áp dụng sâu rộng kỹ thuật quản
lý rủi ro trong tất cả các hoạt động nghiệp vụ hải quan, gồm kiểm tra, giám sát
hải quan, thanh tra chuyên ngành; triển khai hiệu quả quản lý tuân thủ thông
qua các chương trình, kế hoạch hành động phù hợp đối tượng, mục tiêu quản lý;
áp dụng các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích tuân thủ tự nguyện, hướng đến môi
trường tự nguyện tuân thủ pháp luật trong cộng đồng doanh nghiệp xuất, nhập khẩu.
2.2.4. Quản lý và tổ chức thực hiện
công tác kiểm tra về tiêu chuẩn, chất lượng, kiểm dịch, tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
Kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ, quy trình và quy chế về kiểm định, phân tích,
giám định để phân loại đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sau kiểm định,
không để các đối tượng lợi dụng sự sơ hở trong công tác giám định, kiểm định
hàng hóa để buôn lậu, gian lận thương mại gây thất thu thuế, trốn thuế.
2.2.5. Đẩy mạnh triển khai hoạt động
kiểm tra sau thông quan cả về số lượng, chất lượng trên cơ sở áp dụng đầy đủ mô
hình quản lý tuân thủ, kỹ thuật quản lý rủi ro, ứng dụng tối đa công nghệ thông
tin, tăng cường trao đổi thông tin với các cơ quan, đơn vị có liên quan. Tăng
cường kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, đảm bảo mục tiêu
mỗi năm kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan tăng từ 5% đến 10% so với năm
liền trước. Phấn đấu, đến năm 2020 mỗi năm kiểm tra sau thông quan khoảng 5% số
lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu nhằm phát hiện, xử lý và
kéo giảm tỷ lệ vi phạm trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan so với trước đây.
2.2.6. Nắm vững diễn biến tình hình tại
các địa bàn trọng điểm; tăng cường công tác tham mưu, chỉ đạo; tổ chức lực lượng
đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với hoạt động buôn lậu, sản xuất, vận chuyển,
mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận
thương mại và hàng giả. Tập trung kiểm soát các mặt hàng cấm như ma túy, vũ
khí, tài liệu phản động, pháo, tiền; các mặt hàng chiến lược, hàng có thuế suất
cao như xăng dầu, than, quặng, rượu, bia, thuốc lá...; hàng ảnh hưởng đến sức
khỏe người dân, ô nhiễm môi trường như: rác thải, thực phẩm đông lạnh, thực phẩm
chức năng...
2.2.7. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý
kịp thời các hành vi thủ đoạn gian lận và chiếm đoạt tiền thuế. Thường xuyên
nghiên cứu, đổi mới phương pháp kiểm tra, nâng cao chất lượng phân tích hồ sơ
khai thuế tại trụ sở cơ quan Thuế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
thanh, kiểm tra thuế. Tập trung thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, cá nhân
kinh doanh sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; Thanh tra các doanh nghiệp giao dịch
qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ; chuyển giá; doanh nghiệp lớn nhiều năm chưa
được thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp hoàn thuế lớn; Các lĩnh vực phát sinh
thuế nhà thầu nước ngoài (xuất khẩu tại chỗ, bản quyền, chuyển giao công nghệ,
dịch vụ bảo hành...); thương mại điện tử, bán hàng qua mạng, kinh doanh trực
tuyến; dược phẩm, thiết bị y tế; các doanh nghiệp xã hội hóa; Các doanh nghiệp
có rủi ro cao về thuế (kinh doanh hàng nông sản thực phẩm, cà phê xuất khẩu qua
đường biên giới đất liền...). Chú trọng sửa đổi, bổ sung quy trình thanh tra,
kiểm tra thuế gắn với xây dựng các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công
tác thanh tra, kiểm tra. Rà soát để sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản
quy phạm nội bộ theo quy định của pháp luật về thuế và thanh tra, kiểm tra về
thuế (quy trình thanh tra, kiểm tra; quy chế giám sát hoạt động của đoàn thanh
tra, kiểm tra...). Triển khai việc áp dụng kỹ năng thanh tra, kiểm tra phù hợp
với từng đối tượng thanh tra, kiểm tra, đảm bảo đạt hiệu quả cao trong công tác
thanh tra, kiểm tra.
2.2.8. Giám sát chặt chẽ việc thí điểm
cho phép người Việt Nam vào chơi tại các casino và đặt cược bóng đá quốc tế; thực
hiện hiệu quả các văn bản, chính sách đối với các lĩnh vực mới như đặt cược,
casino, đảm bảo ổn định trật tự, an toàn xã hội tại địa phương có doanh nghiệp
tổ chức hoạt động kinh doanh các lĩnh vực này.
3. Chính quy lực lượng
3.1. Nâng cao chất lượng, năng lực, phẩm chất
của cán bộ, công chức ngành Tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước; xây dựng đội ngũ công chức, viên chức đủ về số lượng, có
cơ cấu hợp lý, đảm bảo trình độ chuyên môn cao, theo đó tập trung thực hiện các
nhiệm vụ sau đây:
3.1.1. Thực hiện nghiêm quy định
trong công tác cán bộ, cụ thể: về quản lý công chức, viên chức, về đánh giá cán
bộ; về trình tự, thủ tục bổ nhiệm cán bộ, về thẩm quyền, trách nhiệm của người
đứng đầu đơn vị, cấp ủy trong công tác cán bộ, về tiêu chuẩn chức danh cán bộ
theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng.
3.1.2. Phân cấp thẩm quyền quản lý
công chức, viên chức gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm
tuân thủ quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý công chức, viên chức và
hiệu quả hoạt động của đơn vị.
3.1.3. Rà soát và có biện pháp khắc
phục tình trạng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý còn khép kín, chưa bảo đảm
cơ cấu về tuổi, giới tính như hiện nay; xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản
lý giai đoạn 2016 - 2020 (theo Chỉ thị 05/CT-BCSĐ của Ban cán sự Đảng Bộ Tài
chính).
3.1.4. Thực hiện nghiêm việc luân
chuyển, chuyển đổi vị trí công tác của công chức, viên chức trong từng đơn vị
và toàn ngành theo chủ trương của Đảng, Nhà nước và Ban Cán sự Đảng Bộ Tài
chính.
3.1.5. Đẩy mạnh triển khai công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chuyên gia, cán bộ cấp cơ sở và thực hiện đúng lộ trình phát triển các
cơ sở đào tạo thuộc Bộ theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài chính giai
đoạn 2012 - 2020; đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức gắn với kế hoạch, quy hoạch đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Bộ và lộ
trình hiện đại hóa công tác quản lý Nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực như
thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước; chú trọng bồi dưỡng kỹ năng mềm và năng lực
tham mưu, đề xuất cơ chế chính sách của công chức, viên chức.
3.1.6. Tiếp tục triển khai “Đề án Đẩy
mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Đề án vị
trí việc làm và xây dựng cơ cấu ngạch công chức, viên chức hợp lý gắn với chức
năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị thuộc Bộ.
3.1.7. Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật,
kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của công chức, viên chức; xây dựng và tổ
chức thực hiện chuẩn mực đạo đức của công chức, viên chức ngành Tài chính.
3.1.8. Tăng cường đào tạo nguồn nhân
lực công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong ngành tài chính.
3.1.9. Tiếp tục thực hiện áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2008 vào hoạt động của các đơn vị thuộc Bộ.
3.1.10. Từng bước hiện đại hóa công sở
cơ quan Bộ Tài chính và các đơn vị theo tiêu chuẩn của Chính phủ về hiện đại
hóa nền hành chính và điều kiện thực tế của Bộ.
3.2. Tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy và biên chế của các đơn vị. Trên cơ sở kết quả rà soát xây dựng
phương án sắp xếp, tổ chức theo hướng tập trung đầu mối theo lĩnh vực, thực hiện
chuyên môn hóa, tránh chồng chéo đảm bảo sự thống nhất về đầu mối quản lý, đáp ứng
yêu cầu trong tình hình hội nhập trong hiện tại. Nghiên cứu phương án kiện toàn
một số đơn vị để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thị trường tài chính, vốn
đầu tư của nhà nước (tại một số đơn vị: Cục Tài chính doanh nghiệp thành Tổng cục
Quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp, Vụ Chế độ kế toán - kiểm toán thành Cục
Quản lý, giám sát kế toán - kiểm toán, Vụ Đầu tư thành Cục Đầu tư), qua đó, đề
xuất phương án sửa đổi, thay thế Nghị định số 215/2013/NĐ-CP
ngày 23/12/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Tài chính.
3.3. Tiếp tục triển khai Đề án Nâng cao năng
lực cho lực lượng hải quan chuyên trách chống buôn lậu đến năm 2020; Đề án đầu
tư trang bị và quản lý tàu, thuyền của ngành Hải quan giai đoạn 2011 - 2020, hướng
tới đầu tư, mua sắm, sửa chữa đội tàu đủ mạnh phục vụ kịp thời nhiệm vụ phòng,
chống buôn lậu trên tuyến đường biển.
3.4. Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý thuế
hiện đại, hiệu lực, hiệu quả phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ của cơ quan
Thuế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu quản
lý thuế hiện đại theo nguyên tắc tập trung thống nhất; Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo
và đào tạo lại cán bộ thuế để nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm
công vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế.
3.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm
tra trong sạch, vững mạnh có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới;
tăng cường bồi dưỡng bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ sâu và có kỹ năng thanh tra, kiểm tra để đảm bảo lực lượng thanh tra là lực
lượng đi đầu trong công tác ngăn chặn, phát hiện và xử lý các sai phạm trong
toàn ngành Tài chính.
4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát đảm bảo hoạt động
nghiệp vụ được triển khai đồng bộ, hiệu quả, có chất lượng
4.1. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
theo chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành Tài chính. Thanh tra Bộ và các Tổng cục,
Cục được giao chức năng thanh tra chuyên ngành tập trung thanh tra, kiểm tra đối
với những vấn đề đang được xã hội quan tâm, những quy định còn có sơ hở bất cập
dễ lợi dụng để vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
chuyên đề về chuyển giá, lĩnh vực ngân hàng, gian lận thương mại, trốn thuế,
hoàn thuế giá trị gia tăng; kiên quyết xử lý, cưỡng chế, thu hồi nợ thuế theo
quy định của pháp luật, giảm nợ đọng thuế... Tăng cường kiểm tra, giám sát chặt
chẽ việc chi tiêu từ NSNN, đảm bảo đúng chính sách, chế độ, nhất là các khoản
chi đầu tư xây dựng, mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt tiền.
4.2. Tiếp tục chú trọng, tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành nhằm phát hiện, ngăn chặn và phòng ngừa các hành
vi tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi quản lý của từng đơn vị, xử lý nghiêm những
hành vi tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật được phát hiện. Duy trì và sử dụng
có hiệu quả đường dây nóng để người đứng đầu nắm bắt và xử lý kịp thời những
hành vi vi phạm trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức trong ngành. Chỉ đạo
xử lý dứt điểm, nghiêm minh các vụ việc tố cáo hành vi vi phạm, tham nhũng hoặc
có biểu hiện tham nhũng, vi phạm trong các đơn vị thuộc Bộ. Trong công tác
thanh tra, kiểm tra, chú trọng:
4.2.1. Xây dựng kế hoạch thanh tra,
kiểm tra bám sát yêu cầu nhiệm vụ điều hành, quản lý tài chính - ngân sách trên
cơ sở định hướng của Thanh tra Chính phủ, của Bộ Tài chính. Các đơn vị cần xây
dựng kế hoạch hàng năm, lập kế hoạch chi tiết từng quý, từng tháng để triển
khai, thực hiện kế hoạch; đồng thời đảm bảo lực lượng dự phòng đối với các cuộc
thanh tra, kiểm tra đột xuất. Các cuộc thanh tra đảm bảo thực hiện đúng quy định
của Luật Thanh tra. Chủ động nắm bắt tình
hình, thường xuyên báo cáo và đề xuất các phương án xử lý kịp thời các vấn đề
phát sinh trong quá trình thanh tra.
4.2.2. Thực hiện tốt quy định về giám
sát hoạt động của Đoàn thanh tra để đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và
xử lý nghiêm các trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong quá trình
thanh tra, kiểm tra.
4.2.3. Tăng cường theo dõi, đôn đốc
thực hiện kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra, làm rõ nguyên nhân việc thực
hiện chậm hoặc thực hiện chưa triệt để, đồng thời có kiến nghị, đề xuất biện
pháp khắc phục.
4.2.4. Cải tiến phương pháp tổng hợp
báo cáo kết quả thanh tra đảm bảo kịp thời theo quy định; góp phần tích cực
trong việc cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ,
của Bộ, ngành và địa phương.
4.2.5. Tiếp tục thực hiện chương trình
cải cách và hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra thuế, hải quan và trong
toàn ngành; tăng cường đẩy mạnh phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin
trong công tác quản lý rủi ro và các phần mềm phân tích, phân loại đối tượng nộp
thuế, kê khai hải quan theo mức độ rủi ro nhằm kịp thời phát hiện các hành vi
vi phạm mới của đối tượng qua đó tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để chống
các hành vi gian lận.
4.2.6. Tiếp tục triển khai xây dựng
các đề án, hoàn thiện các quy trình thanh tra, kiểm tra trong nội bộ ngành tài
chính làm cơ sở và tài liệu phục vụ đào tạo và áp dụng thống nhất trong hoạt động
thanh tra ngành Tài chính.
5. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận
thức của người dân và doanh nghiệp
Tiếp tục chú trọng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền
thông tin các chủ trương, chính sách, pháp luật đến các đối tượng thực hiện.
Thường xuyên đổi mới hình thức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; tiếp tục
đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Qua đó, tạo sự đồng thuận
cao giữa các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân
trong cả nước. Trong đó:
5.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền,
giáo dục pháp luật về thuế; nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế kết hợp
với hỗ trợ người nộp thuế trong tuân thủ pháp luật thuế. Đa dạng hóa các hình
thức tuyên truyền, hỗ trợ giáo dục phổ biến pháp luật thuế phù hợp với từng
nhóm người nộp thuế; Triển khai các chương trình tuyên truyền giáo dục cho cộng
đồng (hội thảo về thuế đối với doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, các chương
trình thuế học đường cho học sinh/sinh viên).
5.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cộng
đồng doanh nghiệp, người dân biết về chính sách, pháp luật trong xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hóa; đồng thời nhận thức rõ tác hại của hành vi buôn lậu, sản xuất, vận
chuyển, mua bán hàng cấm, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới,
gian lận thương mại và hàng giả; từ đó không tham gia, không tiếp tay cho buôn
lậu, không tiêu thụ, sử dụng hàng lậu, hàng giả.
5.3. Chủ động phối hợp với cơ quan thông tấn
báo chí, truyền thông nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định
pháp luật đối với lĩnh vực mới của hoạt động tài chính ngân hàng và dịch vụ tài
chính, bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác, đa dạng và nhiều
chiều đến người dân và doanh nghiệp.
6. Phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế
6.1. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức
năng và các cơ quan có liên quan như cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh
sát biển, Quản lý thị trường, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước,
Ngân hàng Nhà nước... trong các công tác:
6.1.1. Tham mưu, đề xuất, kiến nghị
cho Đảng, Nhà nước các biện pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách, không để các đối
tượng lợi dụng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài
chính, chứng khoán, ngân hàng, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
6.1.2. Xây dựng để ký kết các quy chế
phối hợp, tạo cơ sở và hành lang pháp lý cần thiết để tổ chức thực hiện có hiệu
quả công tác phối hợp giữa các đơn vị, lực lượng chức năng.
6.1.3. Xây dựng văn bản chung để chỉ
đạo, hướng dẫn phối hợp thực hiện công tác nghiệp vụ; Thành lập đoàn liên ngành
để kiểm tra công tác phối hợp tại các đơn vị, địa bàn.
6.1.4. Cập nhật tình hình vi phạm,
phương thức, thủ đoạn mới của các đối tượng; Thu thập, trao đổi, cung cấp thông
tin, tài liệu; Trên cơ sở đó đề ra kế hoạch, biện pháp cụ thể để phối hợp thực
hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo yêu cầu,
nhiệm vụ của mỗi đơn vị.
6.1.5. Tuần tra kiểm soát, hiệp đồng
tác chiến, đấu tranh, phát hiện, bắt giữ và xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm;
Tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, đối tượng phạm tội theo quy định.
6.1.6. Đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ
về phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật; Quản
lý cán bộ, bảo vệ nội bộ, thông báo kịp thời cho nhau về dấu hiệu tiêu cực hoặc
hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, chiến sỹ của mỗi bên để có biện
pháp giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời.
6.1.7. Tư vấn trang bị, huấn luyện sử
dụng những phương tiện nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị mới cho cán bộ,
chiến sỹ của mỗi lực lượng để góp phần nâng cao chất lượng công tác chuyên môn.
6.1.8. Tuyên truyền, vận động quần
chúng và phổ biến pháp luật liên quan đến công tác quản lý Nhà nước của mỗi
bên; Qua đó nâng cao nhận thức, ý thức của các doanh nghiệp, tổ chức và công
dân trong việc chấp hành pháp luật và phối hợp với cơ quan chức năng tham gia
công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tội phạm, vi phạm pháp luật.
6.2. Tăng cường và chủ động hội nhập tài
chính quốc tế, cụ thể:
6.2.1. Tích cực tham gia các hoạt động
hợp tác tài chính khu vực ASEAN, APEC... Thực hiện đồng bộ các giải pháp hội nhập
và hợp tác tài chính quốc tế nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp
từ nước ngoài, thu hút có hiệu quả nguồn vốn ODA và các nguồn vốn trung và dài
hạn phục vụ phát triển sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.
6.2.2. Tiếp tục điều chỉnh thuế nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt theo các cam kết thuế quan trong các FTAs đã ký kết; đàm
phán thuế quan và dịch vụ tài chính trong các Hiệp định FT As đang đàm phán; đồng
thời đàm phán gói cam kết Vòng VIII về dịch vụ tài chính ASEAN.
6.2.3. Chủ động mở rộng hợp tác quốc
tế, nhất là các nước có chung đường biên giới, các tổ chức quốc tế, hải quan
các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trong công tác thu thập, trao đổi
thông tin, điều tra, hỗ trợ xác minh và đào tạo tập huấn, phục vụ tốt nhất cho
công tác đấu tranh, phòng, chống buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, mua bán hàng cấm,
vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, gian lận thương mại và
hàng giả.
PHẦN III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. Phân công triển khai
1. Giao Tổng cục Hải quan là đơn vị chủ trì
tham mưu cho Lãnh đạo Bộ:
1.1. Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị
có liên quan thuộc Bộ thực hiện các nội dung của Đề án và các nhiệm vụ được
giao tại Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày
14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Trình Bộ Tài chính điều chỉnh mục tiêu, nội
dung Đề án trong trường hợp cần thiết.
1.2. Tổng hợp báo cáo thực hiện Đề án định kỳ:
06 tháng, năm và cuối mỗi giai đoạn thực hiện Đề án.
2. Giao Cục Kế hoạch - Tài chính chủ trì
tham mưu cho lãnh đạo Bộ đảm bảo kinh phí thực hiện Đề án.
3. Các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính
căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tại Đề án:
3.1. Chủ trì tổ chức triển khai thực hiện
các nhiệm vụ được phân công tại Đề án và Phụ lục Nhiệm vụ trọng tâm và lộ trình
thực hiện kèm theo Đề án.
3.2. Định kỳ 06 tháng (trước ngày 15/6)
và hàng năm (trước ngày 15/12) báo cáo kết quả thực hiện gửi về Bộ Tài
chính (qua Tổng cục Hải quan) để Tổng cục Hải quan tổng hợp, báo cáo Bộ Tài
chính, Chính phủ (qua Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo 138/CP) (trước ngày
30/6 và 31/12 hàng năm).
II. Kinh phí thực hiện
1. Kinh phí thực hiện Đề án này được bố trí
từ nguồn ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của
pháp luật.
2. Đối với các nhiệm vụ trọng tâm thuộc Đề
án có Quyết định phê duyệt riêng, kinh phí đảm bảo thực hiện theo Quyết định
phê duyệt riêng.
PHỤ LỤC
NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
(Kèm theo Quyết định số: 2497/QĐ-BTC ngày 04/12/2017 của Bộ Tài chính)
|
STT
|
Nhiệm vụ trọng
tâm
|
Đơn vị chủ trì
|
Đơn vị phối hợp
|
Thời gian hoàn
thành
|
Ghi chú
|
|
I
|
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
|
|
1
|
Xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính Phủ
quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật
hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
|
Tổng cục Hải quan
|
Các đơn vị liên
quan thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan
|
2017-2020
|
|
|
2
|
Rà soát sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính
quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu;
thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
|
Tổng cục Hải quan
|
Các đơn vị liên
quan thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan
|
2017-2020
|
|
|
3
|
Xây dựng Nghị định và Thông tư quy định về đại lý
làm thủ tục hải quan, kho bãi, địa điểm kiểm tra, giám sát hải quan trong đó
quy định kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa tại các địa điểm kiểm tra
tập trung cho nhiều Chi cục
|
Tổng cục Hải quan
|
Các đơn vị liên
quan thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan
|
2017-2020
|
|
|
4
|
Xây dựng, triển khai đề án “Khu vực kiểm tra, kiểm
soát và lưu giữ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế”
|
Tổng cục Hải quan
|
Các đơn vị liên
quan thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan
|
2017-2019
|
|
|
5
|
Xây dựng và thực hiện Kế hoạch phổ biến, giáo dục
pháp luật; tuyên truyền hỗ trợ, cung cấp thông tin hàng năm của ngành Hải
quan
|
Tổng cục Hải quan
|
Các đơn vị liên
quan thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan
|
Triển khai thực hiện
hàng năm
|
|
|
6
|
Phối hợp với Bộ Công an và các Bộ, Ngành liên
quan rà soát, xây dựng Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNN-VKSNDTC
ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
|
Tổng cục Hải quan
chủ trì tổng hợp tham gia ý kiến về nội dung; Vụ Pháp Chế thẩm định
|
Các đơn vị có liên
quan thuộc Bộ Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
7
|
Tổng kết, đánh giá thực hiện Luật Quản lý thuế, nghiên cứu đề xuất sửa đổi
quy định Luật Quản lý thuế
|
Vụ Pháp chế
|
|
2017-2020
|
|
|
8
|
Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
đến công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế, ngân hàng,
chứng khoán, bảo hiểm...; xác định các nội dung không phù hợp, chồng chéo để
đề xuất sửa đổi, bổ sung
|
Vụ Pháp chế
|
Các đơn vị có liên
quan thuộc Bộ Tài chính thực hiện rà soát, gửi Vụ Pháp chế tổng hợp chung
|
Triển khai thực hiện
hàng năm
|
|
|
9
|
Nghị định thay thế Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh
nghiệp
|
Vụ TCNH
|
VPCP, KBNN
|
2017-2020
|
|
|
10
|
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn cấp
bù chênh lệch lãi suất do thực hiện chính sách tín dụng theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP về phát triển, quản lý nhà ở xã
hội
|
Vụ TCNH
|
VPCP, NHNN, Bộ
KH&ĐT, Bộ TP, Bộ Xây dựng
|
2017-2020
|
|
|
11
|
Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 07/2013/QĐ-TTg ngày 24/1/2013 của Thủ tướng
Chính phủ về chế độ tài chính của NHNN
|
Vụ TCNH
|
VPCP, Bộ TP, Bộ
KHĐT, NHNN
|
2018
|
|
|
12
|
Nghị định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng
Phát triển Việt Nam
|
Vụ TCNH
|
VPCP, Bộ LĐTBXH, Bộ
KHĐT, Bộ CA, Ủy ban Giám sát TC, Thanh tra CP
|
2017-2020
|
|
|
13
|
Quyết định của TTCP về cơ chế tài chính của Ngân
hàng Phát triển Việt Nam
|
Vụ TCNH
|
NHPTVN, Bộ KHĐT, Bộ
TP, Kiểm toán Nhà nước, NHNN
|
2017-2020
|
|
|
14
|
Quyết định của TTCP về Quy chế xử lý rủi ro của
Ngân hàng Phát triển Việt Nam
|
Vụ TCNH
|
VPCP, Bộ TP, Bộ
KHĐT, NHPTVN
|
2017-2020
|
|
|
15
|
Quyết định TTCP sửa đổi, bổ sung Quyết định 246 Quỹ
Hợp tác xã và Cơ chế bảo lãnh và hỗ trợ lãi suất
|
Vụ TCNH
|
VPCP, Liên minh Hợp
tác xã, Bộ TP, NHNN
|
2017-2020
|
|
|
16
|
Quyết định của TTCP về tổ chức và hoạt động của
Quỹ Hợp tác xã địa phương
|
Vụ TCNH
|
VPCP, Bộ TP, Bộ
KHĐT, NHNN, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
|
2017-2020
|
|
|
17
|
Nghị định của Chính phủ về cơ chế bảo lãnh tín dụng
cho DNVVN
|
Vụ TCNH
|
VPCP, NHNN, Bộ
KHĐT, Bộ TP
|
2017-2020
|
|
|
18
|
Quyết định sửa đổi Quyết định 50/2010/QĐ-TTg về cơ chế xử lý rủi ro của Ngân
hàng chính sách xã hội
|
Vụ TCNH
|
NHCSXH, NHNN, Bộ TP
|
Quý IV/2018
|
|
|
19
|
Thông tư thay thế Thông tư số 05/2013/NĐ-CP ngày 09/1/2013 về hướng dẫn chế
độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
|
Vụ TCNH
|
NHNN, các Tổ chức
tín dụng
|
2017-2020
|
Phụ thuộc vào tiến
độ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 57/2012/NĐ-CP
ngày 20/7/2012 của Chính phủ đối với tổ chức tín dụng
|
|
20
|
Thông tư thay thế Thông tư số 93/2013/NĐ-CP ngày 09/1/2013 về hướng dẫn chế
độ tài chính đối với ngân hàng hợp tác xã
|
Vụ TCNH
|
NHNN, NH Hợp tác
xã
|
2017-2020
|
Phụ thuộc vào tiến
độ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 57/2012/NĐ-CP
ngày 20/7/2012 của Chính phủ đối với tổ chức tín dụng
|
|
21
|
Thông tư thay thế Thông tư số 94/2013/NĐ-CP ngày 09/1/2013 về hướng dẫn chế
độ tài chính đối với Quỹ tín dụng nhân dân
|
Vụ TCNH
|
NHNN, các Quỹ tín
dụng nhân dân
|
2017-2020
|
Phụ thuộc vào tiến
độ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 57/2012/NĐ-CP
ngày 20/7/2012 của Chính phủ đối với tổ chức tín dụng
|
|
22
|
Thông tư thay thế Thông tư số 06/2013/NĐ-CP ngày 09/1/2013 về hướng dẫn chế
độ tài chính đối với tổ chức tài chính vi mô
|
Vụ TCNH
|
NHNN, các tổ chức
tài chính vi mô
|
2017-2020
|
Phụ thuộc vào tiến
độ ban hành Nghị định số 57/2012/NĐ-CP
ngày 20/7/2012 của Chính phủ đối với tổ chức tín dụng
|
|
23
|
Thông tư hướng dẫn giám sát tài chính, đánh giá
hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nước
|
Vụ TCNH
|
NHNN, các TCTD
|
2017-2020
|
|
|
24
|
Nghiên cứu xây dựng Luật chứng khoán (sửa đổi)
|
UBCKNN
|
VPQH, VPCP, BTP, các
đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính (Vụ Pháp chế, Vụ TCNH, 02 SGDCK,
VSD...)
|
2018
|
Thời gian dự kiến
trình
|
|
25
|
Nghiên cứu xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật chứng
khoán (sửa đổi)
|
UBCKNN
|
VPCP, BTP, các đơn
vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính (Vụ Pháp chế, Vụ TCNH, 02 SGDCK, VSD...)
|
2018
|
Thời gian dự kiến
trình
|
|
26
|
Trên cơ sở Luật chứng khoán (sửa đổi) trình Quốc
hội vào năm 2018, tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển TTCK và
khung pháp lý về xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán
|
UBCKNN
|
|
Định hướng đến năm
2030
|
Tiến độ thông qua
các văn bản pháp lý liên quan (Luật Chứng khoán (sửa đổi) và Nghị định hướng
dẫn)
|
|
27
|
Nghiên cứu xây dựng Nghị định quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán
|
UBCKNN
|
VPCP, BTP, các đơn
vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính (Vụ Pháp chế, Vụ TCNH, 02 SGDCK, VSD...)
|
2019
|
Thời gian dự kiến
trình
|
|
28
|
Sửa đổi Luật Quản
lý nợ công
|
Cục Quản lý nợ và
Tài chính đối ngoại
|
Các Bộ, ngành, địa
phương
|
2017-2020
|
|
|
29
|
Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh
doanh xổ số
|
Cục Quản lý, giám
sát bảo hiểm
|
Vụ Pháp chế và các
đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
30
|
Nghiên cứu sửa Luật
Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2000/QH12
|
Cục Quản lý, giám
sát bảo hiểm
|
Vụ Pháp chế và các
đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính
|
2020
|
|
|
31
|
Ban hành Nghị định của Chính phủ về chính sách bảo
hiểm nông nghiệp
|
Cục Quản lý, giám
sát bảo hiểm
|
Vụ Pháp chế và các
đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
32
|
Ban hành Thông tư Hướng dẫn thi hành Nghị định số
73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo
hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Kinh doanh bảo hiểm
|
Cục Quản lý, giám
sát bảo hiểm
|
Vụ Pháp chế và các
đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
33
|
Xây dựng, hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp
luật về Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tích cực tham gia nhiều lượt ý
kiến với các cơ quan có liên quan để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực tài chính - ngân sách
|
Thanh tra Bộ
|
Các tổ chức, đơn vị
|
Hàng năm
|
|
|
II
|
Các nhiệm vụ trọng tâm khác
|
|
1
|
Đẩy mạnh công tác nghiệp vụ, xác định trọng điểm,
tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ tại các tuyến, địa bàn trọng điểm; tập
trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị lợi dụng, vi phạm; trọng tâm vào các mặt
hàng cấm, các mặt hàng chiến lược, hàng có thuế suất cao, hàng ảnh hưởng đến
sức khỏe người dân, ô nhiễm môi trường
|
Tổng cục Hải quan
|
Các Cục Hải quan tỉnh,
thành phố
|
Thường xuyên
|
|
|
2
|
Tiếp tục tổ chức, thực hiện, triển khai Đề án thực
hiện Cơ chế Hải quan một cửa quốc gia và nhân rộng mô hình tổ chức thực hiện
NWS trên toàn hệ thống các đơn vị của ngành hải quan
|
Tổng cục Hải quan
|
Đơn vị có liên
quan
|
2017-2020
|
|
|
3
|
Chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra thuế và hiệu
lực của các biện pháp cưỡng chế, xử lý vi phạm về thuế
|
Tổng cục Thuế
|
|
2017-2020
|
|
|
4
|
Tiếp tục tổ chức, thực hiện chiến lược cải cách hệ
thống Thuế giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng CP
|
Tổng cục Thuế
|
Vụ CST, TCHQ, Cục
KHTC, Vụ PC và các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
5
|
Nghiên cứu đề xuất sửa đổi Quy chế 1319/QCPH-CQTTGSNH-TCT ngày 11/5/2015 quy chế
phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan Thanh tra, giám sát ngân
hàng và Tổng cục Thuế
|
Tổng cục Thuế
|
|
2017-2020
|
|
|
6
|
Rà soát sửa đổi, bổ sung Quy trình nghiệp vụ liên
quan trực tiếp đến NNT để đổi mới cơ chế quản lý thuế, thực hiện kê khai, nộp
thuế điện tử thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP
|
Tổng cục Thuế
|
|
2017-2020
|
|
|
7
|
Nghiên cứu đề xuất sửa đổi Quy chế số 568/QĐ-BTC ngày 26/3/2015 của Bộ Tài chính về
việc ban hành Quy chế xử lý thông tin tổ chức, cá nhân có giao dịch đáng ngờ
tại cơ quan thuế các cấp, từ đó đề xuất xây dựng phần mềm tích hợp nhận dữ liệu
giữa các bên
|
Tổng cục Thuế
|
|
2017-2020
|
|
|
8
|
Nghiên cứu đề xuất sửa đổi Quy chế số 1527/QCPH/TCT-TCCS ngày 31/10/2007 Quy chế phối
hợp giữa Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính và Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an trong
đấu tranh phòng, chống các hành vi tội phạm trong lĩnh vực thuế; xây dựng dữ
liệu quản lý thông tin trao đổi giữa 02 cơ quan nhằm thông tin chung được xử
lý hiệu quả nhất
|
Tổng cục Thuế
|
|
2017-2020
|
|
|
9
|
Xây dựng cơ sở dữ liệu người nộp thuế đầy đủ,
chính xác, tập trung thống nhất trên phạm vi cả nước; phát triển ứng dụng
CNTT hỗ trợ các hoạt động quản lý thuế đảm bảo tính liên kết, tự động hóa
cao, gắn chặt với quá trình cải cách thủ tục hành chính thuế và áp dụng thuế
điện tử
|
Tổng cục Thuế
|
|
2017-2020
|
|
|
10
|
Tiếp tục triển khai Đề án hiện đại hóa công tác
quản lý thuế đến năm 2020 theo kế hoạch đã được phê duyệt
|
Tổng cục Thuế
|
Các đơn vị có liên
quan thuộc Bộ Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
11
|
Xây dựng các cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin với
cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan khác có liên quan (cơ quan công an, thuế) để
hỗ trợ công tác quản lý giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật
trên TTCK
|
UBCKNN
|
Tổng cục An ninh -
Bộ Công an, Tổng cục Thuế
|
2017-2018
|
|
|
12
|
Xây dựng và triển khai các kế hoạch công tác: Kế
hoạch cải cách hành chính định kỳ; Kế hoạch thanh tra định kỳ; Kế hoạch kiểm
tra định kỳ; Kế hoạch thông tin tuyên truyền và phổ biến pháp luật định kỳ; Kế
hoạch/Đề án ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ điều hành, quản lý giám sát
đối với thị trường chứng khoán
|
UBCKNN
|
Các đơn vị có liên
quan thuộc Bộ Tài chính (Thanh tra, Vụ PC, Cục THTKTC, Cục KHTC)
|
2017-2020
|
Xây dựng kế hoạch
định kỳ hàng năm và theo giai đoạn
|
|
13
|
Đề án tái cơ cấu NHPT gắn với xử lý nợ xấu Ngân
hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn 2016-2020
|
Vụ TCNH
|
NHPT, NHNN, Bộ
KHĐT, Bộ CA, Ủy ban Giám sát TC, Thanh tra CP
|
2017-2020
|
|
|
14
|
Phối hợp với Bộ Công an thực hiện đầy đủ, hiệu quả
Thông tư liên tịch số 85/2016/TTLT-BTC-BCA
ngày 20/6/2016 giữa Bộ Tài chính và Bộ Công an quy định về phối hợp công tác
bảo vệ an ninh, quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
|
Vụ Pháp chế
|
Các đơn vị có liên
quan thuộc Bộ Tài chính
|
Thường xuyên
|
|
|
15
|
Xây dựng Kế hoạch Thanh tra việc thực hiện chính sách,
pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính
|
Thanh tra Bộ
|
Các đơn vị thuộc Bộ
Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
16
|
Xây dựng Định hướng Kế hoạch thanh tra, kiểm tra
tài chính hàng năm
|
Thanh tra Bộ
|
Các tổ chức, đơn vị
trong ngành Tài chính
|
Hàng năm
|
|
|
17
|
Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra theo chức
năng, nhiệm vụ quản lý ngành Tài chính nhằm đẩy mạnh việc rà soát, phát hiện,
xử lý và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách còn sơ hở dễ dẫn đến
vi phạm, lợi dụng
|
Thanh tra Bộ
|
Các tổ chức, đơn vị
trong ngành Tài chính
|
Hàng năm
|
|
|
18
|
Tạo cơ chế phối hợp với các tổ chức, đoàn thể xã
hội, các phương tiện truyền thông và mọi công dân trong công tác thanh tra,
kiểm tra; phòng, chống tham nhũng, chống lãng phí; giải quyết khiếu nại, tố
cáo
|
Thanh tra Bộ
|
Các tổ chức, đơn vị,
cá nhân
|
2020-2030
|
|
|
19
|
Xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra trong
sạch, vững mạnh có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tăng
cường bồi dưỡng bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
sâu và có kỹ năng thanh tra, kiểm tra tốt để đảm bảo lực lượng thanh tra là lực
lượng đi đầu trong việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý các sai phạm trong
ngành Tài chính
|
Thanh tra Bộ
|
Các tổ chức, đơn vị
|
Hàng năm
|
|
|
20
|
Nghiên cứu xây dựng kiến trúc tổng thể ứng dụng
công nghệ thông tin của ngành tài chính giai đoạn 2016-2020 và định hướng
2025
|
Cục Tin học và Thống
kê tài chính
|
Các đơn vị thuộc Bộ
Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
21
|
Tiếp tục triển khai “Đề án Đẩy mạnh cải cách chế
độ công vụ, công chức” theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg
ngày 18/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ
|
Vụ Tổ chức cán bộ
|
Các đơn vị thuộc Bộ
Tài chính
|
2017-2020
|
|
|
22
|
Tổ chức, triển khai thực hiện Đề án xác định vị
trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức các đơn vị thuộc Bộ.
|
Vụ Tổ chức cán bộ
|
Các đơn vị thuộc Bộ
Tài chính
|
Hàng năm
|
|