|
VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 559/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 29
tháng 12 năm 2017
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN
HÀNH QUY CHẾ THU THẬP, TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM THUỘC
THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
Căn cứ Luật Tổ chức
Cơ quan điều tra hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 955/NQ-UBTVQH13 ngày 28/05/2015 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội phê chuẩn Quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
về bộ máy làm việc của Viện kiểm sát quân sự các cấp;
Căn cứ Quyết định số 64/QĐ-VKSTC-V15 ngày
25/09/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc Quy định cơ cấu
tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ công tác của đơn vị thuộc bộ máy
làm việc của Viện kiểm sát quân sự các cấp;
Xét đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự
trung ương,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế thu thập, tiếp nhận,
xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2018, thay thế Quyết định số 118/2011/QĐ-VKS-P6 ngày 12/09/2011 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 3. Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương,
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3 (để thực hiện);
- Lãnh đạo VKSNDTC;
- Lưu: VT, P6VTW.
|
VIỆN TRƯỞNG
Lê Minh Trí
|
QUY CHẾ
THU
THẬP, TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM THUỘC THẨM QUYỀN CỦA
CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
(Ban hành theo Quyết định số 559/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chế này quy định về trình tự, thủ tục; trách
nhiệm và công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương với đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, phòng
và Văn phòng thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân
khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực (sau đây gọi chung là các
đơn vị thuộc ngành Kiểm sát) trong việc thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải
quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Quy chế này áp dụng đối với Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát quân sự trung ương, các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương, các
đơn vị thuộc ngành Kiểm sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan
trong công tác thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm
thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu
như sau:
1. Thu thập nguồn tin về tội phạm là việc Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương, các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát
thông qua các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật phát hiện, thu thập
thông tin, tài liệu, chứng cứ về tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội;
2. Tiếp nhận nguồn tin về tội phạm là việc
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương, các đơn vị thuộc ngành Kiểm
sát và cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm
tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
trực tiếp phát hiện;
3. Quản lý nguồn tin về tội phạm là việc Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương và các đơn vị thuộc ngành Kiểm
sát tiến hành đăng ký vào sổ các thông tin theo quy định để theo dõi, quản lý
theo quy định của pháp luật;
4. Xử lý nguồn tin về tội phạm là việc Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương và các đơn vị thuộc ngành Kiểm
sát nghiên cứu nguồn tin về tội phạm để xác định có hay không có dấu hiệu của tội
phạm để phân loại, giải quyết hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo
quy định của pháp luật;
5. Kiểm tra thông tin về tội phạm là việc Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương tiến hành các hoạt động nghiệp vụ
theo quy định của pháp luật để xác định thông tin đó có hành vi phạm tội xảy ra
hay không; thời gian, địa điểm người thực hiện hành vi phạm tội; xác định thẩm
quyền xử lý theo quy định của pháp luật;
6. Giải quyết nguồn tin về tội phạm là việc
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương tiến hành kiểm tra, xác minh,
thu thập tài liệu, chứng cứ để ra một trong các quyết định quy định tại các điều 147, 148 và 149 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 4. Thẩm quyền giải quyết
nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm sau:
1. Tội phạm quy định tại Chương XXIII (Chương các tội
phạm về chức vụ), Chương XXIV (Chương các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp)
của Bộ luật Hình sự, xảy ra trong hoạt động
tư pháp, thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự mà người thực hiện hành vi phạm
tội là một trong những người sau đây:
a) Cán bộ, chiến sỹ, công nhân và viên chức quốc
phòng thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án hình sự,
Cơ quan thi hành án dân sự trong Quân đội nhân dân;
b) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra trong Quân đội nhân dân;
c) Người được giao một số nhiệm vụ quản lý thi hành
tạm giữ, tạm giam; tiếp nhận, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và
thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự
trong Quân đội nhân dân;
d) Người được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản vật
chứng, tài sản bị niêm phong, bị kê biên, tài khoản bị phong tỏa trong hoạt động
tố tụng, thi hành án;
đ) Những người khác được điều động, trưng tập hoặc
hợp đồng vào thực hiện nhiệm vụ của người được quy định tại các điểm a, b, c và
d khoản này.
2. Những người thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
theo quy định của Bộ luật Hình sự thuộc một
trong các trường hợp sau:
a) Những người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt
động tư pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự có hành vi phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc được quy định tại
Điều 375 Bộ luật Hình sự;
b) Người giám định, người định giá tài sản, người dịch
thuật, người phiên dịch, người bào chữa có hành vi phạm tội cung cấp tài liệu
sai sự thật quy định tại Điều 382 Bộ luật Hình sự;
c) Người giám định, người định giá tài sản, người dịch
thuật có hành vi phạm tội từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ
chối cung cấp tài liệu quy định tại Điều 383 Bộ luật Hình sự;
3. Tội phạm quy định tại Chương XXIII (Chương các tội
phạm về chức vụ), Chương XXIV (Chương các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp)
của Bộ luật Hình sự, xảy ra trong hoạt động
tư pháp do người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp thực hiện mà không
thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 5. Thủ tục tiếp nhận nguồn
tin về tội phạm
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp đến Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương, các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát
để tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Điều tra viên, Kiểm sát
viên được phân công làm nhiệm vụ tiếp nhận phải lập biên bản tiếp nhận, đăng ký
vào Sổ tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, ghi rõ ngày, tháng, năm tiếp nhận, tên,
địa chỉ của cơ quan, tổ chức, họ tên, tuổi, địa chỉ của cá nhân tố giác hoặc
báo tin, kiến nghị khởi tố; nội dung tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố (trường hợp cần thiết có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận).
2. Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố được gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại, phương tiện thông tin đại
chúng, hòm thư tố giác, tin báo về tội phạm, hộp thư điện tử tố giác, tin báo về
tội phạm thì Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công làm nhiệm vụ tiếp nhận
phải ghi vào sổ tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, ghi rõ nguồn tin, thời gian
đăng tải thông tin và các nội dung khác như quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Khi người phạm tội đến tự thú thì Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương, các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát phải phân
công Điều tra viên, Kiểm sát viên lập biên bản về việc tự thú và lấy lời khai
ngay đối với người đó.
Trường hợp các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát tiếp nhận
người phạm tội tự thú, nếu xác định tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thì thông báo ngay cho Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát quân sự trung ương để tiếp nhận, giải quyết. Trong thời hạn 24 giờ, kể
từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú về tội phạm thuộc thẩm quyền, Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương làm văn bản gửi Viện kiểm sát quân sự
trung ương; nếu xác định tội phạm không thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương thì thông báo ngay và chuyển toàn bộ tài liệu
có liên quan (nếu có) cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Chương II
CÔNG TÁC THU THẬP, TIẾP
NHẬN, XỬ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM
SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
Điều 6. Thu thập, tiếp nhận nguồn
tin về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
có trách nhiệm chủ động thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền
của mình. Các nguồn tin về tội phạm mà Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương thu thập, tiếp nhận được quy định tại Điều 143 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Điều 7. Các biện pháp thu thập,
tiếp nhận nguồn tin về tội phạm
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm thông qua các biện pháp sau:
1. Tổ chức công tác trực ban hình sự để tiếp nhận tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
2. Theo dõi, thu thập tin báo về tội phạm trên các
phương tiện thông tin đại chúng;
3. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân để
thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm;
4. Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ theo quy định
của pháp luật và của ngành Kiểm sát để thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm;
5. Lập “Hòm thư tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm” tại trụ sở Viện kiểm sát quân sự trung ương;
6. Lập “Hộp thư điện tử tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương” trên trang thông tin điện tử của ngành Kiểm sát nhân dân;
7. Lập, công bố số điện thoại đường dây nóng, địa
chỉ hộp thư điện tử phổ thông trên các phương tiện thông tin đại chúng (kênh
truyền hình Quốc phòng, kênh truyền hình ANTV, báo Quân đội nhân dân, báo An
ninh Thủ đô, và các cơ quan ngôn luận thuộc ngành Kiểm sát) để tiếp nhận các tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 8. Xử lý nguồn tin về tội
phạm
Sau khi đăng ký vào Sổ tiếp nhận nguồn tin về tội
phạm, Văn phòng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương phải nghiên cứu,
phân loại, xử lý như sau:
1. Đối với nguồn tin về tội phạm đã rõ về dấu hiệu
tội phạm và thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương thì đề xuất Thủ trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
giao Ban điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương tham mưu đề xuất ra Quyết định
phân công Điều tra viên giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và tiến hành kiểm tra, xác minh, đăng ký vào Sổ thụ lý nguồn tin về tội phạm
để quản lý theo quy định. Các quyết định này phải gửi ngay đến Viện kiểm sát
quân sự trung ương;
2. Đối với nguồn tin về tội phạm không thuộc thẩm
quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thì đề xuất Thủ trưởng
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương báo cáo Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự trung ương chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo
quy định của pháp luật;
3. Đối với nguồn tin về tội phạm chưa rõ nội dung,
thẩm quyền nhưng có liên quan đến thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương thì Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương trực
tiếp hoặc phối hợp với các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát khẩn trương kiểm tra nguồn
tin về tội phạm theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Giải quyết nguồn tin về
tội phạm
1. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương có trách nhiệm giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền một cách
khách quan, toàn diện, nhanh chóng, kịp thời; việc ra các quyết định tố tụng phải
bảo đảm có căn cứ và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp phải gia hạn thời hạn giải
quyết thì chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn, Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát quân sự trung ương có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự
trung ương gia hạn thời hạn giải quyết.
3. Khi có căn cứ quy định tại khoản
1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương ra Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra Quyết định tạm
đình chỉ, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương gửi Quyết định tạm
đình chỉ kèm theo tài liệu liên quan (nếu có) đến Viện kiểm sát quân sự trung
ương và gửi Quyết định tạm đình chỉ đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác,
báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
4. Khi lý do tạm đình chỉ không còn, Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương ra Quyết định phục hồi giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tiếp không quá 01
tháng kể từ ngày ra Quyết định phục hồi. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra
Quyết định phục hồi, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương gửi Quyết
định này đến Viện kiểm sát quân sự trung ương và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố
giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
5. Trước khi ra các quyết định nêu tại khoản 1, 3
và 4 Điều này, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương phải tổng hợp
nội dung, kết quả kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố báo cáo, đề xuất bằng văn bản với Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương.
6. Khi kết thúc kiểm tra, xác minh và ra Quyết định
không khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương có trách nhiệm thông báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định
của pháp luật.
Chương III
TRÁCH NHIỆM VÀ CÔNG TÁC
PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG VỚI CÁC ĐƠN VỊ
THUỘC NGÀNH KIỂM SÁT TRONG VIỆC THU THẬP, TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN
TIN VỀ TỘI PHẠM
Điều 10. Trách nhiệm phối hợp
giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương với các đơn vị thuộc
ngành Kiểm sát
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
chủ động, kịp thời phối hợp với các đơn vị thuộc ngành Kiểm sát trong việc thu
thập, tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương theo đúng quy định của pháp
luật.
Điều 11. Trách nhiệm và công
tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương với đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
1. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, đơn
vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chủ
động thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm. Sau khi phân loại, nếu xác định
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thì chuyển ngay nguồn tin đó kèm theo các
tài liệu có liên quan (nếu có) đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương để giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc chuyển nguồn tin về tội phạm
kèm theo các tài liệu có liên quan (nếu có) được thực hiện như sau:
a) Đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chuyển ngay đến Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương;
b) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện báo cáo ngay Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, phân loại
và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. Trường hợp
vì lý do cấp thiết của vụ việc thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện báo cáo Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đồng thời báo cáo ngay đến Cơ quan điều tra Việt kiểm
sát quân sự trung ương để kịp thời giải quyết.
2. Khi Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương có yêu cầu phối hợp để kiểm tra nguồn tin về tội phạm hoặc phối hợp giải
quyết nguồn tin về tội phạm thì Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong phạm vi liên quan đến hoạt động
nghiệp vụ của đơn vị mình có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát quân sự trung ương để kiểm tra nguồn tin về tội phạm hoặc giải quyết nguồn
tin về tội phạm đó theo quy định của pháp luật.
Đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thực hiện
các hoạt động phối hợp khác theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Cơ quan
điều tra hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân, Quy chế này và các quy định khác của ngành Kiểm sát để thu thập,
tiếp nhận, xử lý và giải quyết có hiệu quả nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền
của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
3. Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp hoặc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đơn vị mình, đơn
vị thuộc Viện kiểm sát nhân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nếu phát hiện thấy tội
phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
nhưng do Cơ quan điều tra khác, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra thụ lý, chưa khởi tố vụ án hình sự thì Thủ trưởng, Viện trưởng
các đơn vị trên có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra khác, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đó chuyển hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết; đồng thời thông báo ngay cho
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương biết. Trong trường hợp Cơ
quan điều tra khác, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra đã khởi tố vụ án hình sự về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương thì Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao đề xuất Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao phụ trách khối, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
quyết định việc chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương để thụ lý, điều tra.
4. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho các đơn vị đã
chuyển nguồn tin về tội phạm theo quy định.
Trường hợp thu thập được chứng cứ, tài liệu là căn
cứ để xem xét kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương chuyển ngay chứng cứ, tài liệu đó đến Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao để xem xét, quyết định việc kháng nghị.
Điều 12. Trách nhiệm và công
tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương với phòng
và Văn phòng thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương
1. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình,
phòng và Văn phòng thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương có trách nhiệm thu thập,
tiếp nhận và chuyển ngay hoặc thông báo nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền
của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương kèm theo các tài liệu có
liên quan (nếu có) đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương để giải
quyết theo quy định của pháp luật.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi tiếp nhận nguồn
tin về tội phạm do phòng và Văn phòng thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương
chuyển đến, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương phải thông báo đến
Viện kiểm sát quân sự trung ương các nguồn tin về tội phạm đã thu thập, tiếp nhận.
Viện kiểm sát quân sự trung ương sau khi nhận được thông báo phải đăng ký vào Sổ
thụ lý nguồn tin về tội phạm để kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về
tội phạm đó theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Trách nhiệm và công
tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương với Viện kiểm
sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực
1. Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương,
Viện kiểm sát quân sự khu vực có trách nhiệm chủ động thu thập, tiếp nhận, phân
loại nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương. Sau khi phân loại, nếu xác định nguồn tin về tội phạm thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thì đăng ký
vào Sổ tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, ghi rõ theo Mục thuộc thẩm quyền giải
quyết của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương và giải quyết như
sau:
a) Trường hợp nguồn tin về tội phạm kèm theo các
tài liệu có liên quan (nếu có) do Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương
thu thập, tiếp nhận thì chuyển ngay đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát trung
ương;
b) Trường hợp nguồn tin về tội phạm kèm theo các
tài liệu có liên quan (nếu có) do Viện kiểm sát quân sự khu vực thu thập, tiếp
nhận thì phải báo cáo và chuyển ngay đến Viện kiểm sát quân sự quân khu và
tương đương. Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương phân loại và chuyển
ngay đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát trung ương để giải quyết theo thẩm quyền,
Trường hợp vì lý do cấp thiết của vụ việc thì Viện kiểm sát quân sự khu vực báo
cáo ngay đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương để giải quyết
theo thẩm quyền; đồng thời báo cáo Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương
đương để quản lý.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và
tương đương phân công Ban Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm
sát xét xử án hình sự (ký hiệu là Ban 1) làm nhiệm vụ tiếp nhận, phân loại nguồn
tin về tội phạm và phối hợp với Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương trong việc kiểm tra nguồn tin về tội phạm. Ban 1 có trách nhiệm phân công
một Kiểm sát viên trực tiếp theo dõi, quản lý, tổng hợp, báo cáo việc phát hiện,
tiếp nhận, phân loại nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
3. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Thủ
trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thì Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự quân khu và tương đương phân công Ban nghiệp vụ hoặc Viện kiểm
sát quân sự khu vực có liên quan để phối hợp, hỗ trợ Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát quân sự trung ương trong việc kiểm tra nguồn tin về tội phạm.
Trường hợp Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương có yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm xảy ra ở địa bàn
do đơn vị quản lý thì Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm
sát quân sự khu vực có trách nhiệm kịp thời tổ chức xác minh và báo cáo hoặc gửi
kết quả kiểm tra, xác minh cùng các tài liệu có liên quan (nếu có) đến Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương để giải quyết theo quy định của pháp
luật. Trường hợp nguồn tin về tội phạm xảy ra tại địa bàn do đơn vị quản lý có
dấu hiệu tội phạm xảy ra trong hoạt động tư pháp cần phải khám nghiệm ngay
nhưng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương chưa đến kịp thì Viện
kiểm sát quân sự tại địa bàn đó chủ động yêu cầu với Cơ quan điều tra cùng cấp
tổ chức ngay việc khám nghiệm và tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu theo
quy định của pháp luật, sau đó báo ngay kết quả cho Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát quân sự trung ương.
4. Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương,
Viện kiểm sát quân sự khu vực và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương thực hiện các hoạt động phối hợp khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Quy chế
này và các quy định khác của ngành Kiểm sát để thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải
quyết có hiệu quả các nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm cho Viện kiểm
sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực đã chuyển
nguồn tin về tội phạm theo quy định tại khoản 4 Điều 145 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
5. Trường hợp Viện kiểm sát quân sự quân khu và
tương đương phát hiện nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nhưng Cơ quan điều tra khác, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đang thụ lý, giải quyết thì
thực hiện như sau:
a) Nếu Cơ quan điều tra khác, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chưa khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra khác, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đó
chuyển ngay hồ sơ, tài liệu đã thu thập được đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương để giải quyết theo thẩm quyền; đồng thời báo ngay cho Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương biết.
Trường hợp Cơ quan điều tra khác, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đó không thực hiện theo yêu cầu
thì Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương báo cáo Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết theo quy định tại Điều
150 Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Nếu Cơ quan điều tra khác, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương căn cứ Điều 169 Bộ
luật Tố tụng hình sự quyết định việc chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát quân sự trung ương giải quyết theo thẩm quyền.
6. Trường hợp Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương trực tiếp làm việc với Viện kiểm sát quân sự khu vực nào thì thông
báo cho Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương quản lý Viện kiểm sát
quân sự khu vực đó biết để chỉ đạo phối hợp thực hiện.
Chương IV
CÔNG TÁC BÁO CÁO, THỐNG
KÊ, HƯỚNG DẪN, KIỂM TRA VÀ KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 14. Công tác báo cáo, thống
kê
1. Công tác báo cáo, thống kê được thực hiện theo
đúng quy định của Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo, quản lý công tác; chế độ
báo cáo thống kê trong ngành Kiểm sát và Quy chế này.
2. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương có trách nhiệm báo cáo định kỳ, đột xuất với Viện trưởng Viện kiểm sát
quân sự trung ương và phối hợp với Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối
cao để tổng hợp báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tình hình
tội phạm và kết quả công tác thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn tin
về tội phạm thuộc thẩm quyền.
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
có trách nhiệm thống kê, tổng hợp và báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương tình hình thực hiện Quy
chế này.
3. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, đơn
vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
phối hợp chặt chẽ trong công tác thống kê, báo cáo tình hình tội phạm xảy ra
trong hoạt động tư pháp và việc thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn
tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương.
Định kỳ 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng, Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện Quy chế này của Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và gửi về Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương (theo mẫu báo cáo kèm theo).
Đối với các Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương
đương định kỳ hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng, các đơn vị phải tiến
hành báo cáo kết quả thực hiện Quy chế này của Viện kiểm sát quân sự quân khu
và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực gửi về Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát quân sự trung ương để tổng hợp, báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự
trung ương có kế hoạch đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với tội phạm xảy ra
trong hoạt động tư pháp trong toàn quân (theo mẫu báo cáo kèm theo).
Điều 15. Công tác kiểm tra, hướng
dẫn nghiệp vụ
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
có trách nhiệm giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự trung ương kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ để thực hiện nghiêm
chỉnh Quy chế này. Hằng năm, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
thông báo rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy chế; tổ chức sơ kết, tổng kết công
tác thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm
quyền; phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ,
Điều tra viên của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương, cán bộ, Kiểm
sát viên của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát quân sự các cấp về việc thực hiện
Quy chế này.
Điều 16. Khen thưởng
1. Các đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác
thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền
của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương được khen thưởng theo quy
định về thi đua khen thưởng của ngành Kiểm sát.
2. Các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong
công tác này được xét đề nghị khen thưởng đột xuất theo quy định.
3. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình, Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương tham mưu cho Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương quyết định
khen thưởng đối với các đơn vị, cá nhân có thành tích trong thực hiện Quy chế
này.
Điều 17. Xử lý vi phạm
Đơn vị, cá nhân có vi phạm trong việc thực hiện Quy
chế này, tùy tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
và của ngành Kiểm sát nhân dân.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 18. Hiệu lực thi hành
1. Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2018.
2. Quy chế này thay thế Quy định về tiếp nhận, xử
lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết
của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương (Ban hành kèm theo Quyết
định số 118/2011/QĐ-VKS-P6 ngày 12/9/2011 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao).
Điều 19. Tổ chức thực hiện
Thủ trưởng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương, Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương tổ chức quán triệt, triển
khai thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao về công tác này./.
(Mẫu Báo cáo kèm theo Quy chế thu thập, tiếp nhận,
xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương, ban hành theo Quyết định số /QĐ-VKSTC
ngày tháng năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
|
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN
TỐI CAO
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH.....
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
/BC-VKS
|
…….., ngày ……
tháng …… năm ……(1)
|
BÁO
CÁO
TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THU THẬP, TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ GIẢI
QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT
QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
(Số liệu 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng) (2)
I. TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CƠ
QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
- Nêu rõ trong kỳ thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải
quyết được hoặc không thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền
của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương xảy ra trên địa bàn hoặc
trong phạm vi hoạt động của đơn vị quản lý.
- Nêu cụ thể nội dung nguồn tin về tội phạm thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương mà đơn vị đã
thu thập, tiếp nhận.
II. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỐI HỢP VỚI CƠ QUAN ĐIỀU
TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
- Nêu số vụ việc đang phối hợp với Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Kết quả công tác phối hợp trong kỳ báo cáo.
III. VẤN ĐỀ KHÁC
- Nêu những vấn đề đơn vị quan tâm.
- Những đề xuất, kiến nghị.
|
Nơi nhận:
- CQĐTVKSQSTW;
- Lưu:……..
|
VIỆN TRƯỞNG
|
(1) Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương gửi đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung
ương trước ngày mùng 10 của tháng sau
(2) Số liệu làm báo cáo quý từ ngày mùng 01 của
tháng đầu quý đến ngày cuối cùng của tháng trong Quý đó
(Mẫu Báo cáo kèm theo Quy chế thu thập, tiếp nhận,
xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương, ban hành theo Quyết định số /QĐ-VKSTC
ngày tháng năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
|
VIỆN KIỂM SÁT QUÂN
SỰ TRUNG ƯƠNG
VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ QUÂN KHU …..
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: /BC-VKS
|
………, ngày …..
tháng ….. năm …..(1)
|
BÁO
CÁO
TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THU THẬP, TIẾP NHẬN, XỬ LÝ VÀ GIẢI
QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT
QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
(Số liệu hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng) (2)
I. TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CƠ
QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
- Nêu rõ trong kỳ thu thập, tiếp nhận, xử lý và giải
quyết được hoặc không thu thập, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền
của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương xảy ra trên địa bàn hoặc
trong phạm vi hoạt động của đơn vị quản lý.
- Nêu cụ thể nội dung nguồn tin về tội phạm thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương mà đơn vị đã
phát hiện, tiếp nhận.
II. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỐI HỢP VỚI CƠ QUAN ĐIỀU
TRA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
- Nêu số vụ việc đang phối hợp với Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
- Kết quả công tác phối hợp trong kỳ báo cáo.
III. VẤN ĐỀ KHÁC
- Nêu những vấn đề đơn vị quan tâm;
- Những đề xuất, kiến nghị.
|
Nơi nhận:
- CQĐTVKSQSTW;
- Lưu:….
|
VIỆN TRƯỞNG
|
(1) Báo cáo của Viện kiểm sát quân sự quân khu và
tương đương gửi đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương trước
ngày mùng 10 của tháng sau
(2) Số liệu làm báo cáo quý từ ngày mùng 01 của
tháng đầu quý đến ngày cuối cùng của tháng trong Quý đó