|
CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 185/2026/NĐ-CP
|
Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2026
|
NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT
ĐỘNG CỦA THÔN, TỔ DÂN PHỐ VÀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG
CHUYÊN TRÁCH Ở THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Căn
cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15
được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 47/2024/QH15
và Luật số 97/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ;
Chính phủ ban hành Nghị định
quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với
người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị
định này quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố; việc thành lập, sắp
xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; số lượng, chức
danh và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ
dân phố.
Điều 2. Thôn, tổ dân phố
1.
Thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc... (gọi chung là thôn); tổ dân
phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu... (gọi chung là tổ dân phố).
2.
Thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư
trú trong một khu vực thuộc phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (xã, phường, đặc
khu); là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt
động tự quản của cộng đồng dân cư; tổ chức để Nhân dân thực hiện chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
3.
Thôn, tổ dân phố được tổ chức tại cấp xã. Thôn được tổ chức ở xã; tổ dân phố được
tổ chức ở phường. Việc tổ chức thôn, tổ dân phố ở đặc khu do Hội đồng nhân dân
đặc khu hoặc Ủy ban nhân dân đặc khu (nơi không tổ chức cấp chính quyền địa
phương) quyết định phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn của từng đặc khu.
4. Trường
hợp cần thiết do đặc điểm lịch sử, văn hóa, dân tộc, phong tục, tập quán, mức độ
đô thị hóa hoặc yêu cầu quản lý thực tế của địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp
xã quyết định việc tổ chức và sử dụng tên gọi thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn,
bon, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu hoặc tên gọi cộng
đồng dân cư khác phù hợp với thực tiễn địa phương.
Điều 3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố
1. Tổ
chức của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; phù hợp với quy mô
dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã.
2. Bảo
đảm và đề cao tính tự quản của cộng đồng dân cư; phát huy quyền làm chủ trực tiếp
của Nhân dân trong tổ chức đời sống cộng đồng, giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương.
3.
Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ Hiến
pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công
khai, minh bạch; phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư với nhiệm vụ
hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.
4.
Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng
thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận
thôn, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ an
ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn; phát huy vai trò của
Nhân dân trong bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống
văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư.
5.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động
của thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân
cư, tạo thuận lợi cho Nhân dân trong tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động
cộng đồng và phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại
địa bàn.
Chương II
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG
CỦA THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Điều 4. Tổ chức của thôn, tổ dân phố
1.
Thôn có Trưởng thôn; tổ dân phố có Tổ trưởng tổ dân phố là người hoạt động
không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Ngoài
chức danh Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm
địa bàn và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quyết định bố trí các chức danh người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố để
hỗ trợ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố hoặc thực hiện các hoạt động tự quản của
cộng đồng dân cư.
2. Việc
bầu cử, cho thôi làm nhiệm vụ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện theo
quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở
và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thực hiện
dân chủ ở cơ sở.
Trong
trường hợp thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, hoặc trường hợp
khuyết Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thì Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố lâm thời để điều hành hoạt động của thôn, tổ
dân phố cho đến khi bầu được Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trong thời hạn không
quá 06 tháng kể từ ngày có quyết định chỉ định Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
lâm thời.
3.
Nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 05 năm
Trong
trường hợp cần bảo đảm thống nhất với thời điểm tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc
do tình huống bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh không thể tổ chức bầu cử
đúng thời hạn, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm
kỳ hoạt động của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nhưng không quá 06 tháng. Trường
hợp phải rút ngắn hoặc kéo dài quá 06 tháng thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Điều 5. Hoạt động của thôn, tổ dân phố
1.
Hoạt động tự quản của thôn, tổ dân phố
Hoạt
động tự quản của thôn, tổ dân phố do cộng đồng dân cư thảo luận, quyết định và
tổ chức thực hiện trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật;
hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; phong tục, tập quán, truyền thống và
điều kiện thực tế của từng thôn, tổ dân phố, gồm:
a) Bàn
và quyết định chủ trương, mức đóng góp của Nhân dân để xây dựng, sửa chữa, duy
tu cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng phục vụ đời sống cộng đồng
trong phạm vi thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật;
b)
Thực hiện việc thu, chi và quản lý các khoản đóng góp của Nhân dân trong cộng đồng
dân cư ngoài các khoản đóng góp do pháp luật quy định; quản lý, sử dụng các khoản
kinh phí, tài sản do cộng đồng dân cư được giao quản lý hoặc tiếp nhận từ các nguồn
tài trợ, ủng hộ hợp pháp khác, bảo đảm công khai, minh bạch;
c)
Xây dựng, sửa đổi, bổ sung hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố theo quy định
của pháp luật trình Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt và tổ chức thực hiện sau
khi được ban hành;
d) Tổ
chức các hoạt động tự quản trong cộng đồng dân cư bảo đảm giữ gìn an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp
và truyền thống đoàn kết trong cộng đồng dân cư; bảo vệ môi trường; phòng, chống
các tệ nạn xã hội; chăm lo sức khỏe cộng đồng; khuyến khích các hoạt động tương
trợ, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của Nhân dân; xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng;
đ) Tổ
chức thực hiện việc bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; bầu,
cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng
theo quy định của pháp luật;
e)
Tham gia ý kiến đối với các nội dung liên quan trực tiếp đến đời sống của cộng đồng
dân cư do chính quyền địa phương cấp xã lấy ý kiến theo quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở;
g)
Biện pháp khuyến khích các hoạt động tự quản, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong
cộng đồng dân cư; phát huy vai trò của các tổ chức tự quản, các tổ, nhóm cộng đồng
trong việc xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã
hội tại địa bàn;
h)
Các công việc tự quản khác trong nội bộ cộng đồng dân cư không trái với quy định
của pháp luật, phù hợp với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.
2.
Hoạt động phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương cấp xã tại địa bàn dân cư
Hoạt
động phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương cấp xã được thực hiện trên cơ sở
hướng dẫn của chính quyền địa phương cấp xã; phù hợp với chức năng tự quản của
cộng đồng dân cư, điều kiện thực tế và quy định của pháp luật, gồm:
a)
Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và các phong trào, cuộc vận động do cơ quan nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động;
b) Tổng
hợp, phản ánh ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của Nhân dân; tham gia
trao đổi, phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong việc giải quyết các
vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống cộng đồng dân cư tại địa bàn;
c) Hỗ
trợ chính quyền địa phương cấp xã trong việc cung cấp, trao đổi thông tin liên quan
đến cộng đồng dân cư tại địa bàn để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo quy
định của pháp luật;
d)
Phối hợp công khai thông tin, tạo điều kiện để Nhân dân tiếp cận thông tin, thực
hiện thủ tục hành chính và dịch vụ công, các chính sách liên quan trực tiếp đến
quyền, lợi ích hợp pháp của người dân;
đ)
Tham gia, phối hợp thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và các hoạt động cộng đồng khác
trên cơ sở vận động, tạo sự đồng thuận của Nhân dân và phù hợp với điều kiện thực
tế của địa bàn;
e) Hỗ
trợ triển khai chuyển đổi số tại cộng đồng dân cư; tuyên truyền, hướng dẫn người
dân sử dụng các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến và các ứng dụng công nghệ
thông tin phục vụ đời sống xã hội;
g)
Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với
Ban Công tác Mặt trận; các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức tự quản khác
ở thôn, tổ dân phố nhằm bảo đảm sự phối hợp thống nhất, hiệu quả trong tổ chức
và hoạt động tại địa bàn.
Điều 6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ
dân phố
1.
Nhiệm vụ trong tổ chức, điều hành hoạt động của thôn, tổ dân phố
a)
Chủ trì hội nghị thôn, tổ dân phố; tổ chức hội nghị định kỳ của cộng đồng dân
cư theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tổ chức để cộng đồng
dân cư bàn, quyết định đối với các nội dung thuộc phạm vi Nhân dân bàn và quyết
định; tổ chức để Nhân dân tham gia ý kiến đối với các nội dung thuộc phạm vi phải
lấy ý kiến Nhân dân theo quy định của Luật Thực
hiện dân chủ ở cơ sở;
b) Tổ
chức thực hiện và theo dõi việc thực hiện các quyết định của cộng đồng dân cư
đã được Nhân dân trong thôn, tổ dân phố thông qua; tổng hợp, báo cáo Ủy ban
nhân dân cấp xã về kết quả thực hiện;
c) Tổ
chức triển khai các hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư theo quy định của
pháp luật và hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố;
d) Phối
hợp với Ban Công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở thôn, tổ dân
phố, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản
khác trong tổ chức các hoạt động của cộng đồng dân cư, bảo đảm an ninh, trật tự,
an toàn xã hội tại địa bàn;
đ) Đại
diện cho thôn, tổ dân phố trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của cộng đồng
dân cư theo quy định của pháp luật;
e)
Báo cáo kết quả hoạt động của thôn, tổ dân phố trước hội nghị thôn, tổ dân phố theo
định kỳ hằng năm hoặc khi cần thiết.
2.
Nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và nhiệm vụ do chính quyền cấp xã giao
a)
Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; thực hiện dân chủ ở
cơ sở và các phong trào, cuộc vận động tại địa bàn;
b) Nắm
tình hình đời sống cộng đồng dân cư; tập hợp, phản ánh với chính quyền địa
phương cấp xã các kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; báo cáo kịp thời
các vấn đề phát sinh tại địa bàn; tham gia hòa giải ở cơ sở, giữ gìn đoàn kết
trong cộng đồng dân cư;
c) Vận
động Nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo
vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư tại địa
bàn;
d)
Phối hợp với Ban Công tác Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tự
quản khác ở thôn, tổ dân phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
trong việc hỗ trợ triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa
phương cấp xã tại địa bàn;
đ)
Phối hợp với Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Ban
Công tác Mặt trận và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tổ chức cho
Nhân dân tham gia giám sát các công trình, dự án, các khoản đóng góp của Nhân
dân và việc thực hiện dân chủ ở cơ sở tại địa bàn;
e) Tổ
chức tuyên truyền vận động Nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, tổ
chức phòng thủ dân sự và bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn theo quy định của
pháp luật;
g) Khuyến
khích, hỗ trợ Nhân dân tiếp cận, sử dụng các nền tảng số, tiện ích số và dịch vụ
công trực tuyến phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; phối hợp cung cấp
thông tin cần thiết phục vụ hoạt động quản lý nhà nước theo quy định của pháp
luật;
h)
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật hoặc phối hợp với chính
quyền địa phương cấp xã thực hiện nhiệm vụ của địa phương.
3.
Quyền hạn
a) Đại
diện cho thôn, tổ dân phố trong các quan hệ liên quan đến hoạt động của cộng đồng
dân cư theo quy định của pháp luật; là người đại diện cho cộng đồng dân cư ký hợp
đồng về xây dựng công trình do Nhân dân trong thôn, tổ dân phố đóng góp kinh
phí và đã được hội nghị thôn, tổ dân phố thông qua;
b)
Được mời tham gia các cuộc họp của chính quyền địa phương cấp xã liên quan đến
việc triển khai các công việc liên quan trực tiếp đến cộng đồng dân cư;
c)
Căn cứ quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về số lượng, chức danh người tham
gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố lựa chọn
người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố sau khi thống nhất với Bí thư Chi bộ,
Trưởng ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố. Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định
công nhận và cho thôi làm người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố;
d)
Phân công nhiệm vụ giải quyết công việc cho người tham gia hoạt động ở thôn, tổ
dân phố hỗ trợ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện nhiệm vụ quy định tại
Điều này;
đ) Thực
hiện các quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1.
Là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại địa bàn xã, phường, đặc khu từ 21
tuổi trở lên, ưu tiên người trong độ tuổi lao động theo quy định; có đủ sức khỏe
để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao.
2.
Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu; có uy tín trong cộng đồng dân cư; được
Nhân dân tín nhiệm; bản thân và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, chấp hành
tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3.
Có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức
Nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản của cộng đồng dân cư và triển khai
có hiệu quả các nhiệm vụ do cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã giao; khuyến
khích lựa chọn người có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu hoạt động của
thôn, tổ dân phố.
4.
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; có khả năng
lập kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định.
5.
Không trong thời gian bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án.
Chương III
THÀNH LẬP, SẮP
XẾP, TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN THÔN, TỔ DÂN PHỐ
Điều 8. Nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể,
đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố
1.
Tuân thủ quy định của pháp luật; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kế thừa
và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp, phù hợp
với điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa bàn, quy mô dân cư và điều kiện kinh tế -
xã hội của địa phương; bảo đảm các điều kiện thiết yếu phục vụ tổ chức và hoạt
động của cộng đồng dân cư. Chính quyền địa phương cấp xã có trách nhiệm bảo đảm
các điều kiện cần thiết cho tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.
2.
Việc thành lập thôn, tổ dân phố phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hoá, truyền thống; điều kiện đặc
thù của từng đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp và mô hình tổ chức chính quyền
địa phương 02 cấp.
3.
Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đối với các thôn, tổ dân phố khi chưa bảo đảm
tiêu chí theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu quản lý, phát triển kinh
tế - xã hội, đô thị hóa, phân bố dân cư và yêu cầu tổ chức hoạt động của cộng đồng
dân cư.
Việc
sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố về vị trí
địa lý, địa hình, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, đặc điểm dân cư,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nguyện vọng của Nhân dân tại địa
phương; bảo đảm thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng, ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân, thuận lợi cho đời sống,
sinh hoạt của người dân và nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ Nhân dân của
chính quyền cơ sở.
4. Việc
giải thể thôn, tổ dân phố thực hiện trong các trường hợp cần thiết do thay đổi
các yếu tố địa lý, địa hình, do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do
thực hiện phương án bồi thường, tái định cư.
5.
Việc xác định loại hình thôn, tổ dân phố theo quy định tại Điều
2 Nghị định này và đặt tên thôn, tổ dân phố được thực hiện đồng thời trong
quy trình thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố. Việc đổi tên thôn,
tổ dân phố thực hiện trong trường hợp trùng tên thôn, tổ dân phố trong cùng một
đơn vị hành chính cấp xã hoặc theo nguyện vọng của Nhân dân ở thôn, tổ dân phố.
Điều 9. Thẩm quyền thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể,
đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
1. Hội
đồng nhân dân cấp xã quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt
tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố
hiện có.
2. Ở
đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân đặc khu quyết
định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân
phố trên địa bàn; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.
Điều 10. Tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố
1.
Quy mô số hộ gia đình
a) Ở
thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở
lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên;
b) Ở
vùng trung du và miền núi phía Bắc: Thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ
dân phố phải có từ 300 hộ trở lên;
c) Ở
vùng đồng bằng sông Hồng: Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố
phải có từ 550 hộ gia đình trở lên;
d) Ở
vùng Bắc Trung bộ: Thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có
từ 450 hộ gia đình trở lên;
đ) Ở
vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở
lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
e) Ở
vùng Đông Nam bộ: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ
trở lên;
g) Ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải
có từ 550 hộ trở lên.
2.
Trường hợp Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định việc tổ chức và sử dụng tên gọi
theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định này thì áp dụng
tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố
theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3.
Quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù
a) Đối
với thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, thôn đặc biệt khó khăn, thôn ở địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao
thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; thôn, tổ dân phố ở địa bàn
biên giới, hải đảo hoặc thuộc khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân,
tái định cư; thôn, tổ dân phố nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông
thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cụ thể thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc
thù quy định tại điểm a khoản này, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa
phương, yêu cầu quản lý địa bàn, tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư, tính ổn
định và gắn kết cộng đồng dân cư, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh
và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Điều 11. Thành lập thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc
biệt
1.
Trường hợp thành lập phường từ xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà
soát, xây dựng phương án sắp xếp; tổ chức lại thôn theo loại hình tổ dân phố để
lấy ý kiến Nhân dân đồng thời trong hồ sơ Đề án thành lập phường. Hội đồng nhân
dân phường quyết định việc sắp xếp; tổ chức lại và sử dụng tên gọi tổ dân phố
trên địa bàn kể từ ngày Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành
lập phường có hiệu lực thi hành. Trường hợp cần thiết do yếu tố lịch sử, văn
hóa, phong tục, tập quán hoặc yêu cầu thực tiễn của địa phương thì Hội đồng
nhân dân cấp xã được quyết định tiếp tục sử dụng tên gọi truyền thống theo quy
định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định này.
Trường
hợp khi xây dựng hồ sơ Đề án thành lập phường từ xã mà chưa xây dựng được
phương án sắp xếp, tổ chức lại để bảo đảm tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình của
tổ dân phố quy định tại Nghị định này thì phải xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ
thể thực hiện sắp xếp, tổ chức lại sau khi thành lập phường.
2.
Trường hợp khu vực dân cư mới hình thành chưa đủ điều kiện để thành lập thôn, tổ
dân phố theo quy định thì Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp
xem xét, quyết định việc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có cho phù hợp,
bảo đảm thuận lợi trong công tác quản lý của chính quyền địa phương cấp xã và
các hoạt động của thôn, tổ dân phố.
3. Đối
với thôn, tổ dân phố đã hình thành từ lâu do xâm canh, xâm cư trong cùng một
đơn vị hành chính cấp tỉnh nhưng không làm thay đổi địa giới đơn vị hành chính
cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có liên quan thống nhất thực hiện việc chuyển
giao cộng đồng dân cư để thuận tiện cho hoạt động quản lý và sinh hoạt của cộng
đồng dân cư. Sau khi thực hiện việc chuyển giao:
a) Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có thôn, tổ dân phố trước khi chuyển giao trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp quyết định giải thể thôn, tổ dân phố hoặc điều chỉnh phạm vi
quản lý của thôn, tổ dân phố có liên quan;
b) Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi tiếp nhận thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng
cấp quyết định việc thành lập thôn, tổ dân phố mới nếu bảo đảm tiêu chí, điều kiện
theo quy định của Nghị định này; trường hợp không bảo đảm tiêu chí, điều kiện
thì thực hiện việc ghép vào thôn, tổ dân phố hiện có theo quy định tại khoản 2
Điều này.
Điều 12. Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức
lại thôn, tổ dân phố
1.
Căn cứ nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; tiêu chuẩn
của thôn, tổ dân phố theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp, tổ
chức lại thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
2. Ủy
ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Đề án thành lập,
sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của
pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý
kiến tham gia của Nhân dân để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã
xem xét, quyết định.
3. Hồ
sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố gồm:
a) Tờ
trình của Ủy ban nhân dân cấp xã;
b) Đề
án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, gồm các nội dung chủ yếu
sau: Sự cần thiết; hiện trạng quy mô số hộ gia đình; phương án thành lập, sắp xếp,
tổ chức lại; tên gọi của thôn, tổ dân phố; điều kiện bảo đảm tổ chức và hoạt động
của thôn, tổ dân phố; phương án bố trí, giải quyết đối với người hoạt động
không chuyên trách và các nội dung có liên quan;
c)
Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân;
d) Dự
thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã.
4.
Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem
xét, ban hành Nghị quyết về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân
phố tại kỳ họp gần nhất.
5. Tại
đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu tổ chức
xây dựng Đề án, lấy ý kiến Nhân dân và quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ
chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này.
Hồ sơ
gồm các tài liệu quy định tại các điểm a, b và điểm c khoản 3 Điều này và dự thảo
Quyết định của Ủy ban nhân dân đặc khu.
Trên
cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu ban hành Quyết định về việc
thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
Điều 13. Trình tự, thủ tục, hồ sơ giải thể, đổi tên thôn, tổ
dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
1.
Trường hợp giải thể thôn, tổ dân phố
a) Ủy
ban nhân dân cấp xã xây dựng Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình thuộc
thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể;
b) Ủy
ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Tờ trình về việc giải
thể thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực
hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của
Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định;
c) Hồ
sơ giải thể thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình kèm theo Danh sách các hộ gia đình
thuộc thôn, tổ dân phố thực hiện giải thể; báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp
thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét,
quyết định; dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã về việc giải thể
thôn, tổ dân phố;
d)
Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem
xét ban hành Nghị quyết về giải thể thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
2. Trường
hợp đổi tên thôn, tổ dân phố
a) Ủy
ban nhân dân cấp xã lập Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố, trong đó nêu rõ lý
do của việc đổi tên thôn, tổ dân phố; tên của thôn, tổ dân phố sau khi đổi tên;
b) Ủy
ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Phương án đổi tên thôn, tổ
dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ
ở cơ sở; tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân;
hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định;
c) Hồ
sơ đổi tên thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình và Phương án đổi tên thôn, tổ dân phố;
báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân; dự thảo Nghị quyết
của Hội đồng nhân dân cấp xã về việc đổi tên thôn, tổ dân phố;
d)
Trên cơ sở hồ sơ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem
xét, ban hành Nghị quyết về đổi tên thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
3.
Trường hợp ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
a) Ủy
ban nhân dân cấp xã lập Phương án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có,
trong đó nêu rõ sự cần thiết của việc ghép cụm dân cư; phạm vi cụm dân cư được
ghép; số hộ gia đình; thôn, tổ dân phố tiếp nhận;
b) Ủy
ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến Nhân dân tại cụm dân cư được ghép và
thôn, tổ dân phố tiếp nhận bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về
thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, giải trình, tiếp thu đầy đủ ý kiến tham gia
của Nhân dân; hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định;
c) Hồ
sơ ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố, gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp
xã về việc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; phương án ghép cụm dân
cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến
của Nhân dân;
d)
Trên cơ sở hồ sơ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã xem
xét, ban hành Nghị quyết ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.
4. Tại
đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu thực
hiện trình tự xây dựng hồ sơ, lấy ý kiến Nhân dân đối với việc giải thể, đổi
tên thôn, tổ dân phố, ghép cụm dân cư theo quy định tại các khoản 1, 2 và khoản
3 Điều này. Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu xem xét,
ban hành Quyết định về việc giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố hoặc ghép cụm
dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có trên địa bàn.
Chương IV
SỐ LƯỢNG, CHỨC DANH
VÀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH Ở THÔN, TỔ DÂN
PHỐ
Điều 14. Số lượng, chức danh
1.
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm các chức danh: Trưởng
thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Bí thư Chi bộ; Trưởng Ban Công tác Mặt trận.
2. Số
lượng người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố không quá 03
người.
Điều 15. Khoán quỹ phụ cấp đối với người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
1. Ngân
sách nhà nước khoán quỹ phụ cấp (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội) để chi
phụ cấp hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
như sau:
a) Đối
với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở
lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành
chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo, thôn đặc biệt khó khăn được khoán quỹ
phụ cấp bằng 8,0 lần mức lương cơ sở;
b) Đối
với thôn, tổ dân phố không thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được
khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.
2.
Căn cứ vào quỹ phụ cấp được ngân sách nhà nước khoán cho mỗi thôn, tổ dân phố
quy định tại khoản 1 Điều này; khả năng cân đối của ngân sách địa phương; quy định
của pháp luật có liên quan và đặc thù của các thôn, tổ dân phố trên địa bàn, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể những nội
dung sau:
a) Mức
phụ cấp của từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
b)
Việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh người hoạt động
không chuyên trách, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh tham gia hoạt động ở thôn,
tổ dân phố;
c) Số
lượng, chức danh và mức hỗ trợ đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn,
tổ dân phố.
3.
Trường hợp tỉnh, thành phố sử dụng ngân sách địa phương để quy định mức khoán
quỹ phụ cấp cao hơn mức khoán của ngân sách nhà nước quy định tại khoản 1 Điều
này thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức khoán cụ thể phù hợp với
khả năng cân đối của ngân sách địa phương và không phải xin ý kiến các bộ, cơ
quan trung ương.
Điều 16. Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ,
chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
1.
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý, chỉ đạo,
hướng dẫn, phân công nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã và quy
định của pháp luật có liên quan.
2. Người
hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức,
kỹ năng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao; ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng tuyên
truyền, vận động Nhân dân, hòa giải ở cơ sở, tổ chức hoạt động cộng đồng dân
cư; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, sử dụng nền tảng số, cập nhật
dữ liệu, khai thác cơ sở dữ liệu và hỗ trợ Nhân dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ
công trực tuyến theo quy định. Khi được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng thì được
hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.
3.
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ bảo hiểm
xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quy định của pháp luật hiện hành.
4. Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ
do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ, chính sách theo quy
định của Chính phủ về tinh giản biên chế.
5. Căn
cứ quy định của Nghị định này và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và việc quản lý, sử dụng,
đào tạo, bồi dưỡng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
và người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 17. Nguồn kinh phí thực hiện chế độ, chính sách đối với
người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
1. Nguồn
kinh phí để thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên
trách ở thôn, tổ dân phố do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách
hiện hành.
2.
Nguồn kinh phí chi trả bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách
ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
3.
Quỹ Bảo hiểm xã hội chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người hoạt động
không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội.
Điều 18. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh
1.
Các bộ, cơ quan ngang bộ
a) Bộ
Nội vụ hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này; việc
sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; tổng hợp kết quả thực hiện của các địa
phương, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định;
b) Bộ
Tài chính hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện các quy định liên quan đến
việc sử dụng, quản lý kinh phí, thực hiện quy định của pháp luật về ngân sách;
c) Các
bộ, cơ quan ngang bộ rà soát trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành
theo thẩm quyền các quy định của pháp luật có liên quan đến người hoạt động
không chuyên trách thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị
định này.
2. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh
a)
Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố phù hợp với tình
hình thực tế ở địa phương;
b)
Quyết định theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định các
nội dung liên quan đến tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính
sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, người tham
gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố theo quy định của Nghị định này;
c)
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
trên địa bàn theo quy định tại Nghị định này và Quy chế hoạt động của thôn, tổ
dân phố do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành;
d) Bảo
đảm các điều kiện hoạt động và thực hiện chế độ, chính sách đối với người hoạt
động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật.
Điều 19. Điều khoản chuyển tiếp
1.
Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được bố trí về thôn, tổ dân phố từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025 đến trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 nghỉ do thực hiện sắp
xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố được hưởng chính sách đối với người hoạt động
không chuyên trách ở cấp xã do sắp xếp theo quy định của Chính phủ về tinh giản
biên chế.
2.
Trong giai đoạn từ ngày Luật Bảo hiểm xã hội năm
2024 có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2025) cho đến khi Nghị định
này có hiệu lực thi hành, việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người hoạt
động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được thực hiện theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội. Các địa phương có trách nhiệm chủ động rà soát,
cân đối và bố trí nguồn kinh phí để thực hiện đóng hoặc truy đóng đầy đủ, kịp
thời, nhằm bảo đảm quyền lợi cho đối tượng này.
Điều 20. Hiệu lực thi hành
1.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 5 năm 2026.
2.
Bãi bỏ các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ
dân phố quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP
ngày 10 tháng 6 năm 2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã và
người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư
Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, TCCV (2).
|
TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Phạm Thị Thanh Trà
|