QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH VÀ
CÔNG BỐ BỐN (04) CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM (ĐỢT 5)
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Căn cứ Luật Kế toán số
03/2003/QH11 ngày 17/6/2003;
Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP
ngày 01/7/2003 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức bộ máy Bộ Tài chính;
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, tài chính, nâng cao chất lượng thông tin kế toán cung cấp
trong nền kinh tế quốc dân và để kiểm tra, kiểm soát chất lượng công tác kế
toán;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chế
độ kế toán và kiểm toán và Chánh Văn phòng Bộ Tài chính,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành bốn (04) Chuẩn mực kế toán Việt Nam
(đợt 5) có số hiệu và tên gọi sau đây:
- Chuẩn mực số 11 - “Hợp nhất kinh
doanh”;
- Chuẩn mực số 18 - “Các khoản dự
phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”;
- Chuẩn mực số 19 - “Hợp đồng bảo
hiểm”;
- Chuẩn mực số 30 - “Lãi trên cổ
phiếu”.
Điều 2. Bốn (04) Chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành kèm
theo Quyết định này được áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc các
ngành, các thành phần kinh tế trong cả nước.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày,
kể từ ngày đăng công báo. Các chế độ kế toán cụ thể phải căn cứ vào bốn chuẩn
mực kế toán được ban hành kèm theo Quyết định này để sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp.
Điều 4. Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Chánh
Văn phòng Bộ và Thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Bộ Tài chính chịu trách
nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng Chính phủ, các Phó
Thủ tướng
Chính phủ (để báo cáo);
- Văn phòng TW Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Tòa án Nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Sở Tài chính, Cục Thuế các tỉnh,
thành phố trực thuộc TW;
- Các Tổng công ty Nhà nước;
- Cục kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);
- Hội kế toán và kiểm toán Việt Nam;
- Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam;
- Các công ty kế toán, kiểm toán;
- Công báo;
- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;
- Lưu VT, Vụ CĐKT.
|
KT.
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Văn Tá
|
HỆ
THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM
Chuẩn mực số 11
HỢP NHẤT KINH
DOANH
(Ban hành và
công bố theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính)
QUY ĐỊNH CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực này là quy
định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán việc hợp nhất kinh
doanh theo phương pháp mua. Bên mua ghi nhận tài sản, nợ phải trả có thể
xác định được, các khoản nợ tiềm tàng theo giá trị hợp lý tại ngày mua và ghi
nhận lợi thế thương mại.
02. Chuẩn mực này áp dụng cho việc hạch toán hợp
nhất kinh doanh theo phương pháp mua.
03. Chuẩn mực này không áp dụng đối với:
a) Hợp nhất kinh doanh trong trường hợp các doanh
nghiệp riêng biệt hoặc các hoạt động kinh doanh riêng biệt được thực hiện dưới
hình thức liên doanh;
b) Hợp nhất kinh doanh liên quan đến các doanh
nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh cùng dưới một sự kiểm soát chung;
c) Hợp nhất kinh doanh liên quan đến hai hoặc nhiều
doanh nghiệp tương hỗ;
d) Hợp nhất kinh doanh trong trường hợp các doanh
nghiệp riêng biệt hoặc các hoạt động kinh doanh riêng biệt được hợp nhất lại để
hình thành một đơn vị báo cáo thông qua một hợp đồng mà không xác định được
quyền sở hữu.
Xác định hợp nhất kinh doanh
04. Hợp nhất kinh doanh là việc kết hợp các doanh
nghiệp riêng biệt hoặc các hoạt động kinh doanh riêng biệt thành một đơn vị báo
cáo. Kết quả của phần lớn các trường hợp hợp nhất kinh doanh là một doanh
nghiệp (bên mua) nắm được quyền kiểm soát một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh
khác (bên bị mua). Nếu một doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát một hoặc nhiều đơn
vị khác không phải là các hoạt động kinh doanh thì việc kết hợp các đơn vị này
không phải là hợp nhất kinh doanh. Khi một doanh nghiệp mua một nhóm các tài sản
hoặc các tài sản thuần nhưng không cấu thành một hoạt động kinh doanh thì phải
phân bổ giá phí của nhóm tài sản đó cho các tài sản và nợ phải trả có thể xác
định riêng rẽ trong nhóm tài sản đó dựa trên giá trị hợp lý tương ứng tại ngày
mua.
05. Hợp nhất kinh doanh có thể được thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như: Một doanh nghiệp có thể mua cổ phần của một
doanh nghiệp khác; mua tất cả tài sản thuần của một doanh nghiệp khác, gánh
chịu các khoản nợ của một doanh nghiệp khác; mua một số tài sản thuần của một
doanh nghiệp khác để cùng hình thành nên một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh.
Việc mua, bán có thể được thực hiện bằng việc phát hành công cụ vốn hoặc thanh
toán bằng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc chuyển giao tài sản khác hoặc
kết hợp các hình thức trên. Các giao dịch này có thể diễn ra giữa các cổ đông
của các doanh nghiệp tham gia hợp nhất hoặc giữa một doanh nghiệp và các cổ
đông của doanh nghiệp khác. Hợp nhất kinh doanh có thể bao gồm việc thành lập
một doanh nghiệp mới để kiểm soát các doanh nghiệp tham gia hợp nhất hoặc các
tài sản thuần đã được chuyển giao, hoặc tái cơ cấu một hoặc nhiều doanh nghiệp
tham gia hợp nhất.
06. Hợp nhất kinh doanh có thể sẽ dẫn đến quan hệ
công ty mẹ - công ty con, trong đó bên mua sẽ là công ty mẹ và bên bị mua sẽ là
công ty con. Trường hợp này, bên mua sẽ áp dụng Chuẩn mực này khi lập báo cáo
tài chính hợp nhất của mình. Công ty mẹ sẽ trình bày phần sở hữu của mình trong
công ty con trên báo cáo tài chính riêng của mình như là khoản đầu tư vào công ty
con (Theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và
kế toán các khoản đầu tư vào công ty con”).
07. Hợp nhất kinh doanh có thể liên quan đến việc
mua tài sản thuần, bao gồm cả lợi thế thương mại (nếu có) của một doanh nghiệp
khác mà không phải là việc mua cổ phần ở doanh nghiệp đó. Hợp nhất kinh doanh
theo hình thức này không dẫn đến quan hệ công ty mẹ - công ty con.
08. Hợp nhất kinh doanh trong chuẩn mực này bao gồm
cả việc hợp nhất kinh doanh trong đó một doanh nghiệp được nắm quyền kiểm soát
đối với các doanh nghiệp khác nhưng ngày nắm quyền kiểm soát (ngày mua) không
trùng với ngày nắm quyền sở hữu (ngày trao đổi). Trường hợp này có thể phát
sinh khi bên được đầu tư đồng ý với thỏa thuận mua lại cổ phiếu với một số nhà
đầu tư và do đó quyền kiểm soát của bên được đầu tư thay đổi.
09. Chuẩn mực này không quy định về kế toán các
khoản vốn góp liên doanh của các bên góp vốn liên doanh (theo quy định tại
Chuẩn mực kế toán số 08 “Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh”).
Hợp nhất kinh doanh liên quan đến các doanh
nghiệp chịu sự kiểm soát chung
10. Hợp nhất kinh doanh liên quan đến các doanh
nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh chịu sự kiểm soát chung là hợp nhất kinh
doanh, trong đó tất cả các doanh nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh tham gia
hợp nhất chịu sự kiểm soát lâu dài bởi cùng một bên hoặc nhiều bên kể cả trước
hoặc sau khi hợp nhất kinh doanh và việc kiểm soát là lâu dài.
11. Nhóm cá nhân có quyền kiểm soát một doanh
nghiệp khác khi họ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của
doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp
đó, theo thỏa thuận hợp đồng. Do đó, việc hợp nhất kinh doanh theo hình thức
này sẽ không thuộc phạm vi áp dụng của chuẩn mực này trong trường hợp cùng một
nhóm cá nhân có quyền lợi chung cao nhất chi phối các chính sách tài chính và
hoạt động của từng đơn vị tham gia hợp nhất nhằm đạt được lợi ích từ hoạt động
của các đơn vị đó theo thỏa thuận hợp đồng và quyền lợi chung cao nhất đó là lâu
dài.
12. Một cá nhân hoặc nhóm cá nhân có thể cùng nhau
kiểm soát một đơn vị theo một thỏa thuận hợp đồng mà cá nhân hoặc nhóm cá nhân
đó không phải lập và trình bày báo cáo tài chính theo quy định của chuẩn mực kế
toán. Vì vậy, các đơn vị tham gia hợp nhất không được coi như một phần của báo
cáo tài chính hợp nhất cho việc hợp nhất kinh doanh của các đơn vị dưới sự kiểm
soát chung.
13. Lợi ích của cổ đông thiểu số trong từng đơn vị
tham gia hợp nhất trước hoặc sau khi hợp nhất kinh doanh không liên quan đến
việc xác định hợp nhất có bao gồm các đơn vị dưới sự kiểm soát chung không. Một
trong những đơn vị tham gia hợp nhất là công ty con không được trình bày trên
báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số
25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công ty con” sẽ
không liên quan đến việc xác định việc hợp nhất có liên quan đến các đơn vị
dưới sự kiểm soát chung.
Các thuật ngữ trong Chuẩn mực này được hiểu như
sau:
Ngày mua: Là ngày mà bên mua có quyền kiểm
soát đối với bên bị mua.
Ngày ký kết: Là ngày ghi trên hợp đồng
khi đạt được thỏa thuận giữa các bên tham gia hợp nhất và ngày thông báo công
khai trong trường hợp công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trường hợp
mua mang tính thôn tính, ngày sớm nhất thỏa thuận giữa các bên hợp nhất đạt
được là ngày có đủ các chủ sở hữu của bên bị mua chấp thuận đề nghị của bên mua
về việc nắm quyền kiểm soát của bên bị mua.
Hoạt động kinh doanh: Là tập hợp các hoạt
động và tài sản được thực hiện và quản lý nhằm mục đích:
a) Tạo ra nguồn thu cho các nhà đầu tư; hoặc
b) Giảm chi phí cho nhà đầu tư hoặc mang lại lợi
ích kinh tế khác trực tiếp hoặc theo tỷ lệ cho những người nắm quyền hoặc những
người tham gia.
Hoạt động kinh doanh thường bao gồm các yếu tố
đầu vào, các quy trình để xử lý các yếu tố đầu vào đó, và các yếu tố đầu ra
đang hoặc sẽ được sử dụng để tạo ra doanh thu. Nếu lợi thế thương mại có được
từ một tập hợp các hoạt động và các tài sản được chuyển giao thì tập hợp đó
được coi là một hoạt động kinh doanh.
Hợp nhất kinh doanh: Là việc chuyển các
doanh nghiệp riêng biệt hoặc các hoạt động kinh doanh riêng biệt thành một đơn
vị báo cáo.
Hợp nhất kinh doanh liên quan đến các doanh
nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh dưới sự kiểm soát chung: Là hợp nhất
kinh doanh trong đó các doanh nghiệp hoặc hoạt động kinh doanh tham gia hợp
nhất chịu sự kiểm soát của cùng một bên hoặc một nhóm các bên cả trước và sau
khi hợp nhất kinh doanh và sự kiểm soát đó là lâu dài.
Nợ tiềm tàng: Theo Chuẩn mực kế toán số
18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”, nợ tiềm tàng là:
a) Nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự
kiện đã xảy ra và sự tồn tại của nghĩa vụ nợ này sẽ chỉ được xác nhận bởi khả
năng hay xảy ra hoặc không hay xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc
chắn trong tương lai mà doanh nghiệp không kiểm soát được; hoặc
b) Nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện
đã xảy ra nhưng chưa được ghi nhận vì:
i) Không chắc chắn có sự giảm sút về lợi ích
kinh tế do việc phải thanh toán nghĩa vụ nợ; hoặc
ii) Giá trị của nghĩa vụ nợ đó không được xác
định một cách đáng tin cậy.
Kiểm soát: Là quyền chi phối các chính
sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ
các hoạt động của doanh nghiệp đó.
Ngày trao đổi: Là ngày mua khi việc hợp
nhất kinh doanh được thực hiện trong một giao dịch đơn lẻ. Khi việc hợp nhất
kinh doanh liên quan đến nhiều giao dịch, ví dụ việc hợp nhất đạt được theo
từng giai đoạn bằng việc mua cổ phần liên tiếp, ngày trao đổi là ngày mỗi khoản
đầu tư đơn lẻ đó được ghi nhận trong báo cáo tài chính của bên mua.
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể
được trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa
các bên có đầy đủ hiểu biết và sẵn sàng trong sự trao đổi ngang giá.
Lợi thế thương mại: Là những lợi ích kinh
tế trong tương lai phát sinh từ các tài sản không xác định được và không ghi
nhận được một cách riêng biệt.
Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không
có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ,
sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc do các đối tượng khác
thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Liên doanh: Là thỏa thuận bằng hợp đồng
của hai hoặc nhiều bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế, mà hoạt động này
được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh.
Lợi ích của cổ đông thiểu số: Là một phần
của kết quả hoạt động thuần và giá trị tài sản thuần của một công ty con được
xác định tương ứng cho các phần lợi ích không phải do công ty mẹ sở hữu một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con.
Doanh nghiệp tương hỗ: Là doanh nghiệp
không thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nhưng mang lại chi phí thấp hơn hoặc
các lợi ích kinh tế khác trực tiếp hay theo tỷ lệ cho những người có quyền hoặc
những người tham gia, như công ty bảo hiểm tương hỗ hoặc đơn vị hợp tác tương
hỗ.
Công ty mẹ: Là công ty có một hoặc nhiều
công ty con.
Đơn vị báo cáo: Là một đơn vị kế toán
riêng biệt hoặc một tập đoàn bao gồm công ty mẹ và các công ty con phải lập báo
cáo tài chính theo quy định của pháp luật.
Công ty con: Là doanh nghiệp chịu sự kiểm
soát của một doanh nghiệp khác (gọi là công ty mẹ).
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
Phương pháp kế toán
14. Mọi trường hợp hợp nhất kinh doanh đều phải
được kế toán theo phương pháp mua.
15. Phương pháp mua xem xét việc hợp nhất kinh
doanh trên quan điểm là doanh nghiệp thôn tính các doanh nghiệp khác được xác
định là bên mua. Bên mua mua tài sản thuần và ghi nhận các tài sản đã mua, các
khoản nợ phải trả và nợ tiềm tàng phải gánh chịu, kể cả những tài sản, nợ phải
trả và nợ tiềm tàng mà bên bị mua chưa ghi nhận trước đó. Việc xác định giá trị
tài sản và nợ phải trả của bên mua không bị ảnh hưởng bởi giao dịch hợp nhất
cũng như không một tài sản hay nợ phải trả thêm nào của bên mua được ghi nhận
là kết quả từ giao dịch do chúng không phải là đối tượng của giao dịch này.
Áp dụng phương pháp mua
16. Áp dụng phương pháp mua gồm các
bước sau:
a) Xác định bên mua;
b) Xác định giá phí hợp nhất kinh
doanh; và
c) ngày mua, bên mua phải phân bổ giá
phí hợp nhất kinh doanh cho tài sản được mua, nợ phải trả cũng như những khoản
nợ tiềm tàng phải gánh chịu.
Xác định bên mua
17. Mọi trường hợp hợp nhất kinh
doanh đều phải xác định được bên mua. Bên mua là một doanh nghiệp tham gia hợp
nhất nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh tham
gia hợp nhất khác.
18. Do phương pháp mua xem xét hợp
nhất kinh doanh theo quan điểm của bên mua nên phương pháp này giả định rằng
một trong những bên tham gia giao dịch hợp nhất kinh doanh có thể được xác định
là bên mua.
19. Kiểm soát là quyền chi phối các
chính sách tài chính và hoạt động của một doanh nghiệp hoặc hoạt động kinh
doanh nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp hoặc hoạt
động kinh doanh đó. Một doanh nghiệp tham gia hợp nhất sẽ được coi là nắm được
quyền kiểm soát của doanh nghiệp tham gia hợp nhất khác khi doanh nghiệp đó nắm
giữ trên 50% quyền biểu quyết của doanh nghiệp khác đó trừ khi quyền sở hữu đó
không gắn liền quyền kiểm soát. Nếu một trong số các doanh nghiệp tham gia hợp
nhất không nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết của doanh nghiệp tham gia hợp nhất
khác thì doanh nghiệp đó vẫn có thể có được quyền kiểm soát các doanh nghiệp
tham gia hợp nhất do kết quả của hợp nhất kinh doanh mà có; nếu:
a) Quyền lớn hơn 50% quyền biểu quyết
của doanh nghiệp kia nhờ có một thỏa thuận với các nhà đầu tư khác;
b) Quyền chi phối các chính sách tài
chính và hoạt động của doanh nghiệp khác theo một quy chế hay một thỏa thuận;
c) Quyền bổ nhiệm, bãi miễn đa số
thành viên Hội đồng quản trị (hoặc một bộ phận quản lý tương đương) của doanh
nghiệp khác; hoặc
d) Quyền bỏ phiếu quyết định trong
các cuộc họp Hội đồng quản trị (hoặc bộ phận quản lý tương đương) của doanh
nghiệp khác.
20. Một số trường hợp khó xác định
được bên mua thì việc xác định bên mua có thể dựa vào các biểu hiện sau, ví dụ:
a) Nếu giá trị hợp lý của một doanh
nghiệp tham gia hợp nhất lớn hơn nhiều so với giá trị hợp lý của các doanh
nghiệp khác cùng tham gia hợp nhất thì doanh nghiệp có giá trị hợp lý lớn hơn
thường được coi là bên mua;
b) Nếu hợp nhất kinh doanh được thực
hiện bằng việc trao đổi các công cụ vốn thông thường có quyền biểu quyết để đổi
lấy tiền hoặc các tài sản khác thì doanh nghiệp bỏ tiền hoặc tài sản khác ra
thường được coi là bên mua;
c) Nếu hợp nhất kinh doanh mà ban
lãnh đạo của một trong các doanh nghiệp tham gia hợp nhất có quyền chi phối
việc bổ nhiệm các thành viên ban lãnh đạo của doanh nghiệp hình thành từ hợp
nhất kinh doanh thì doanh nghiệp tham gia hợp nhất có ban lãnh đạo có quyền chi
phối đó thường là bên mua.
21. Khi hợp nhất kinh doanh được thực
hiện thông qua việc trao đổi cổ phiếu thì đơn vị phát hành cổ phiếu thường được
coi là bên mua. Tuy nhiên, cần xem xét thực tế và hoàn cảnh cụ thể để xác định
đơn vị hợp nhất nào có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của
đơn vị khác để đạt được lợi ích từ hoạt động của đơn vị đó. Một số trường hợp
hợp nhất kinh doanh như mua hoán đổi, bên mua là doanh nghiệp có cổ phiếu đã
được mua và doanh nghiệp phát hành là bên bị mua. Ví dụ, để nhằm mục đích được
niêm yết trên thị trường chứng khoán, một công ty chưa được niêm yết trên thị
trường chứng khoán có một thỏa thuận để được một công ty nhỏ hơn nhưng đang
được niêm yết trên thị trường chứng khoán mua lại. Mặc dù về mặt pháp lý công
ty đang niêm yết được xem như công ty mẹ và công ty chưa niêm yết là công ty
con, nhưng công ty con sẽ là bên mua nếu có quyền kiểm soát các chính sách tài
chính và hoạt động của công ty mẹ để đạt được lợi ích từ hoạt động của công ty
mẹ đó. Thông thường, bên mua lại là đơn vị lớn hơn, tuy nhiên có một số tình
huống doanh nghiệp nhỏ hơn mua lại doanh nghiệp lớn hơn. Phần hướng dẫn về kế
toán mua hoán đổi được trình bày trong các đoạn từ A1-A15 Phụ lục A.
22. Khi một doanh nghiệp mới được
thành lập phát hành công cụ vốn để tiến hành hợp nhất kinh doanh thì một trong
những đơn vị tham gia hợp nhất tồn tại trước khi hợp nhất sẽ được xác định là
bên mua trên cơ sở các bằng chứng sẵn có.
23. Tương tự, khi hợp nhất kinh doanh
có sự tham gia của hai đơn vị trở lên, đơn vị nào tồn tại trước khi tiến hành
hợp nhất sẽ được xác định là bên mua dựa trên các bằng chứng sẵn có. Việc xác
định bên mua trong những trường hợp như vậy sẽ bao gồm việc xem xét đơn vị tham
gia hợp nhất nào bắt đầu tiến hành giao dịch hợp nhất và liệu tài sản hoặc
doanh thu của một trong những đơn vị tham gia hợp nhất có lớn hơn đáng kể so
với những đơn vị khác không.
Giá phí hợp nhất kinh doanh
24. Bên mua sẽ xác định giá phí
hợp nhất kinh doanh bao gồm: Giá trị hợp lý tại ngày diễn ra trao đổi của các
tài sản đem trao đổi, các khoản nợ phải trả đã phát sinh hoặc đã thừa nhận và
các công cụ vốn do bên mua phát hành để đổi lấy quyền kiểm soát bên bị mua,
cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc hợp nhất kinh doanh.
25. Ngày mua là ngày mà bên mua đạt
được quyền kiểm soát thực tế đối với bên bị mua. Khi quyền kiểm soát đạt được
thông qua một giao dịch trao đổi đơn lẻ thì ngày trao đổi trùng với ngày mua.
Nếu quyền kiểm soát đạt được thông qua nhiều giao dịch trao đổi, ví dụ đạt được
theo từng giai đoạn từ việc mua liên tiếp, khi đó:
a) Giá phí hợp nhất kinh doanh là
tổng chi phí của các giao dịch trao đổi đơn lẻ; và
b) Ngày trao đổi là ngày của từng
giao dịch trao đổi (là ngày mà từng khoản đầu tư đơn lẻ được ghi nhận trong báo
cáo tài chính của bên mua), còn ngày mua là ngày mà bên mua đạt được quyền kiểm
soát đối với bên bị mua.
26. Các tài sản đem trao đổi và các
khoản nợ phải trả đã phát sinh hoặc đã được bên mua thừa nhận để đổi lấy quyền
kiểm soát đối với bên bị mua theo yêu cầu của đoạn 24 được xác định theo giá
trị hợp lý tại ngày trao đổi. Vì thế, khi việc thanh toán tất cả hoặc một phần
giá phí của việc hợp nhất kinh doanh được hoãn lại, thì giá trị hợp lý của phần
hoãn lại đó phải được quy đổi về giá trị hiện tại tại ngày trao đổi, có tính đến
phần phụ trội hoặc chiết khấu sẽ phát sinh khi thanh toán.
27. Giá công bố tại ngày trao đổi của
công cụ vốn đã niêm yết là bằng chứng tin cậy nhất về giá trị hợp lý của công
cụ vốn đó và sẽ được sử dụng, trừ một số ít trường hợp. Các bằng chứng và cách
tính toán khác chỉ được công nhận khi bên mua chứng minh được rằng giá công bố
tại ngày trao đổi là chỉ số không đáng tin cậy về giá trị hợp lý và các bằng
chứng và cách tính toán khác này mới là đáng tin cậy hơn về giá trị hợp lý của
công cụ vốn. Giá công bố tại ngày trao đổi được coi là không đáng tin cậy về
giá trị hợp lý khi công cụ vốn đó được giao dịch trên thị trường có ít giao
dịch. Nếu giá công bố tại ngày trao đổi là chỉ số không đáng tin cậy hoặc nếu
không có giá công bố cho công cụ vốn do bên mua phát hành, thì giá trị hợp lý
của các công cụ này có thể ước tính trên cơ sở phần lợi ích trong giá trị hợp
lý của bên mua hoặc phần lợi ích trong giá trị hợp lý của bên bị mua mà bên mua
đã đạt được, miễn là cơ sở nào có bằng chứng rõ ràng hơn. Giá trị hợp lý tại
ngày trao đổi của các các tài sản tiền tệ đã trả cho người nắm giữ vốn của bên
bị mua có thể cung cấp bằng chứng về tổng giá trị hợp lý mà bên mua đã trả để
có được quyền kiểm soát bên bị mua. Trong bất kỳ trường hợp nào, trên mọi khía
cạnh của hợp nhất kinh doanh, kể cả các yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc đàm phán,
cũng phải được xem xét. Việc xác định giá trị hợp lý của công cụ vốn được quy
định trong chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính.
28. Giá phí hợp nhất kinh doanh còn
bao gồm giá trị hợp lý tại ngày trao đổi của các khoản nợ phải trả đã phát sinh
hoặc đã thừa nhận để đổi lấy quyền kiểm soát bên bị mua. Các khoản lỗ hoặc chi
phí khác sẽ phát sinh trong tương lai do hợp nhất kinh doanh không được coi là
khoản nợ đã phát sinh hoặc đã được bên mua thừa nhận để đổi lấy quyền kiểm soát
đối với bên bị mua nên không được tính vào giá phí hợp nhất kinh doanh.
29. Giá phí hợp nhất kinh doanh còn
bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp đến việc hợp nhất kinh doanh, như chi
phí trả cho kiểm toán viên, tư vấn pháp lý, thẩm định viên về giá và các nhà tư
vấn khác về thực hiện hợp nhất kinh doanh. Các chi phí quản lý chung và các chi
phí khác không liên quan trực tiếp đến một giao dịch hợp nhất kinh doanh cụ thể
thì không được tính vào giá phí hợp nhất kinh doanh, mà được ghi nhận là chi
phí trong kỳ phát sinh.
30. Chi phí thỏa thuận và phát hành
các khoản nợ tài chính là một bộ phận cấu thành của khoản nợ đó, ngay cả khi
khoản nợ đó phát hành để thực hiện hợp nhất kinh doanh, mà không được coi là
chi phí liên quan trực tiếp đến hợp nhất kinh doanh. Vì vậy, doanh nghiệp không
được tính chi phí đó vào giá phí hợp nhất kinh doanh.
31. Chi phí phát hành công cụ vốn
cũng là một bộ phận cấu thành của công cụ vốn đó, ngay cả khi công cụ vốn đó
phát hành để thực hiện hợp nhất kinh doanh, mà không được coi là chi phí liên
quan trực tiếp đến hợp nhất kinh doanh. Vì vậy, doanh nghiệp không được tính
chi phí đó vào giá phí hợp nhất kinh doanh.
Điều chỉnh giá phí
hợp nhất kinh doanh tùy thuộc vào các sự kiện trong tương lai
32. Khi thỏa thuận hợp nhất kinh
doanh cho phép điều chỉnh giá phí hợp nhất kinh doanh tùy thuộc vào các sự kiện
trong tương lai, bên mua phải điều chỉnh vào giá phí hợp nhất kinh doanh tại
ngày mua nếu khoản điều chỉnh đó có khả năng chắc chắn xảy ra và giá trị điều
chỉnh có thể xác định được một cách đáng tin cậy.
33. Thỏa thuận hợp nhất kinh
doanh có thể cho phép điều chỉnh giá phí hợp nhất kinh doanh khi xảy ra một
hoặc nhiều sự kiện trong tương lai. Ví dụ, khoản điều chỉnh này có thể phụ
thuộc vào việc duy trì hay đạt được một mức độ lợi nhuận nhất định trong tương
lai hay phụ thuộc vào giá thị trường của các công cụ đã phát hành và đang được
duy trì. Thông thường, có thể ước tính được giá trị cần điều chỉnh ngay tại
thời điểm ghi nhận ban đầu giao dịch hợp nhất kinh doanh một cách đáng tin cậy,
mặc dù còn tồn tại một vài sự kiện không chắc chắn. Nếu các sự kiện trong tương
lai không xảy ra hoặc cần phải xem xét lại giá trị ước tính, thì giá phí hợp
nhất kinh doanh cũng phải được điều chỉnh theo.
34. Khi thỏa thuận hợp nhất kinh
doanh cho phép điều chỉnh giá phí hợp nhất kinh doanh, khoản điều chỉnh đó
không được tính vào giá phí hợp nhất kinh doanh tại thời điểm ghi nhận ban đầu
nếu khoản điều chỉnh đó không có khả năng chắc chắn xảy ra hoặc không thể xác
định được một cách đáng tin cậy. Nếu sau đó, khoản điều chỉnh này trở nên có
khả năng chắc chắn xảy ra và giá trị điều chỉnh có thể xác định được một cách
đáng tin cậy thì khoản xem xét bổ sung sẽ được coi là khoản điều chỉnh vào giá
phí hợp nhất kinh doanh.
35. Trong một số trường hợp, bên mua
được yêu cầu trả thêm cho bên bị mua một khoản bồi thường do việc giảm giá trị
của các tài sản đem trao đổi, các khoản nợ đã phát sinh hoặc đã thừa nhận và
các công cụ vốn do bên mua phát hành để đổi lấy quyền kiểm soát bên bị mua. Ví
dụ: trường hợp này xảy ra khi bên mua đảm bảo về giá thị trường của công cụ vốn
hoặc công cụ nợ đã phát hành như một phần của giá phí hợp nhất kinh doanh và
được yêu cầu phát hành bổ sung công cụ vốn hoặc công cụ nợ để khôi phục giá trị
đã xác định ban đầu. Trường hợp này, không được ghi tăng giá phí hợp nhất kinh
doanh. Nếu là các công cụ vốn thì giá trị hợp lý của khoản trả thêm sẽ được
giảm trừ tương ứng vào giá trị đã ghi nhận ban đầu cho công cụ đó khi phát
hành. Nếu là công cụ nợ thì giá trị hợp lý của khoản trả thêm sẽ được ghi giảm
khoản phụ trội hoặc ghi tăng khoản chiết khấu khi phát hành ban đầu.
Phân bổ giá phí hợp nhất kinh
doanh cho tài sản đã mua, nợ phải trả hoặc nợ tiềm tàng
36. Tại ngày mua, bên mua phân bổ
giá phí hợp nhất kinh doanh bằng việc ghi nhận theo giá trị hợp lý tại ngày mua
các tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua
nếu thỏa mãn tiêu chuẩn trong đoạn 37, trừ các tài sản dài hạn (hoặc nhóm các
tài sản thanh lý) được phân loại là nắm giữ để bán sẽ được ghi nhận theo giá
trị hợp lý trừ đi chi phí bán chúng. Chênh lệch giữa giá phí hợp nhất kinh
doanh và phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của các tài sản, nợ
phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng đã ghi nhận được hạch toán theo
quy định từ đoạn 50 đến đoạn 54.
37. Bên mua sẽ ghi nhận riêng rẽ các
tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua vào
ngày mua chỉ khi chúng thỏa mãn các tiêu chuẩn sau tại ngày mua:
a) Nếu là tài sản cố định hữu hình,
thì phải chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho bên mua và giá
trị hợp lý của nó có thể xác định được một cách tin cậy.
b) Nếu là nợ phải trả có thể xác định
được (không phải là nợ tiềm tàng), thì phải chắc chắn rằng doanh nghiệp phải
chi trả từ các nguồn lực của mình để thanh toán nghĩa vụ hiện tại và giá trị
hợp lý của nó có thể xác định được một cách tin cậy.
c) Nếu là tài sản cố định vô hình và
nợ tiềm tàng thì giá trị hợp lý của nó có thể xác định được một cách tin cậy.
38. Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh của bên mua sẽ bao gồm cả lãi hoặc lỗ sau ngày mua của bên bị mua bằng
cách gộp cả thu nhập và chi phí của bên bị mua dựa trên giá phí hợp nhất kinh
doanh. Ví dụ, chi phí khấu hao tài sản cố định sau ngày mua được tính vào báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh của bên mua liên quan tới tài sản cố định phải
khấu hao của bên bị mua dựa trên giá trị hợp lý của tài sản cố định phải khấu
hao đó tại ngày mua mà bên mua đã ghi nhận.
39. Việc áp dụng phương pháp mua được
bắt đầu từ ngày mua, là ngày mà bên mua đạt được quyền kiểm soát thực tế đối
với bên bị mua. Vì kiểm soát là quyền chi phối chính sách tài chính và hoạt
động của một doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động của doanh
nghiệp đó, do vậy, không nhất thiết giao dịch hợp nhất phải hoàn tất hoặc kết
thúc theo quy định của pháp luật trước khi bên mua đạt được quyền kiểm soát.
Những sự kiện quan trọng liên quan đến việc hợp nhất kinh doanh phải được xem
xét khi đánh giá việc bên mua đã đạt được quyền kiểm soát hay chưa.
40. Vì bên mua ghi nhận các tài sản,
nợ phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua vào ngày mua
khi thỏa mãn các tiêu chuẩn quy định tại đoạn 37, phần lợi ích của cổ đông
thiểu số của bên bị mua được phản ánh theo phần sở hữu của cổ đông thiểu số
trong giá trị hợp lý thuần của các khoản mục này. Đoạn A16 và A17 của Phụ lục A
hướng dẫn cách xác định giá trị hợp lý của các tài sản, nợ phải trả có thể xác
định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua cho mục đích phân bổ giá phí hợp nhất
kinh doanh.
Tài sản và nợ phải
trả có thể xác định được của bên bị mua
41. Theo đoạn 36, bên mua sẽ ghi nhận
riêng rẽ phần giá phí hợp nhất kinh doanh được phân bổ nếu các tài sản, nợ phải
trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua tồn tại vào ngày mua và
thỏa mãn các tiêu chuẩn trong đoạn 37. Vì thế:
a) Bên mua phải ghi nhận khoản nợ để
thay thế hoặc cắt giảm hoạt động của bên bị mua như một phần được phân bổ của
giá phí hợp nhất kinh doanh khi tại ngày mua bên bị mua đã tồn tại một khoản nợ
để tái cơ cấu và đã ghi nhận theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 18 “Các
khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”; và
b) Khi phân bổ giá phí hợp nhất kinh
doanh, bên mua không được ghi nhận khoản nợ phải trả về khoản lỗ trong tương
lai hoặc về các chi phí khác dự kiến sẽ phát sinh từ việc hợp nhất kinh doanh.
42. Khoản thanh toán mà doanh nghiệp
phải trả theo cam kết trong hợp đồng, ví dụ trả cho người lao động hoặc người
cung cấp trong trường hợp doanh nghiệp đó bị mua lại do hợp nhất kinh doanh, là
một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp và được coi là khoản nợ tiềm tàng cho
tới khi việc hợp nhất kinh doanh chắc chắn xảy ra. Nghĩa vụ theo cam kết trong
hợp đồng đó được doanh nghiệp ghi nhận là khoản nợ phải trả theo quy định của
Chuẩn mực kế toán số 18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng” khi việc
hợp nhất kinh doanh trở nên chắc chắn và khoản nợ có thể xác định được một cách
đáng tin cậy. Vì thế, khi việc hợp nhất kinh doanh được thực hiện, khoản nợ
phải trả đó của bên bị mua sẽ được bên mua ghi nhận bằng cách phân bổ một phần
giá phí hợp nhất kinh doanh cho nó.
43. Trường hợp, ngay trước khi hợp
nhất kinh doanh, việc thực hiện kế hoạch tái cơ cấu của bên bị mua phụ thuộc
vào việc hợp nhất kinh doanh có xảy ra hay không, thì khoản nợ cho việc tái cơ
cấu đó không được coi là nghĩa vụ hiện tại của bên bị mua và cũng không được
coi là nợ tiềm tàng của bên bị mua trước khi hợp nhất vì nó không phải là nghĩa
vụ có thể xảy ra phát sinh từ một sự kiện trong quá khứ mà sự tồn tại của sự
kiện này chỉ được xác nhận bởi việc có xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc
nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà bên mua không kiểm soát được
toàn bộ. Vì thế, bên mua không ghi nhận một khoản nợ tiềm tàng cho kế hoạch tái
cơ cấu đó khi phân bổ giá phí hợp nhất kinh doanh.
44. Các tài sản và nợ phải trả có thể
xác định được được ghi nhận theo đoạn 36 gồm tất cả các tài sản và nợ phải trả
của bên bị mua mà bên mua đã mua hoặc thừa nhận, bao gồm cả tài sản tài chính
và nợ tài chính. Chúng có thể bao gồm cả các tài sản và nợ phải trả trước đây
chưa được ghi nhận trong báo cáo tài chính của bên bị mua do không đủ tiêu
chuẩn ghi nhận trước khi việc mua diễn ra. Ví dụ, khoản lợi ích kinh tế có được
liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh từ những khoản lỗ tính thuế
thu nhập doanh nghiệp mà bên bị mua chưa ghi nhận trước khi hợp nhất kinh
doanh, nay đủ điều kiện ghi nhận là một tài sản có thể xác định được theo đoạn
36 nếu như chắc chắn rằng bên mua sẽ có lợi nhuận chịu thuế trong tương lai để
bù trừ lại, khi đó khoản lợi ích kinh tế có được liên quan đến thuế thu nhập
doanh nghiệp chưa được ghi nhận sẽ được bên mua ghi nhận.
Tài sản cố định vô hình của bên
bị mua
45. Theo đoạn 37, bên mua ghi nhận
tách biệt TSCĐ vô hình của bên bị mua tại ngày mua chỉ khi nào những tài sản đó
thỏa mãn tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình quy định trong Chuẩn mực kế
toán số 04 "Tài sản cố định vô hình", và khi giá trị hợp lý có thể
được xác định một cách đáng tin cậy. Chuẩn mực kế toán số 04 "Tài sản cố
định vô hình" quy định việc xác định liệu giá trị hợp lý của TSCĐ vô hình
được mua khi hợp nhất kinh doanh có được xác định đáng tin cậy hay không.
Các khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua
46. Theo đoạn 37, bên mua ghi nhận
khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua một cách riêng biệt như một phần của chi phí
hợp nhất kinh doanh chỉ khi giá trị hợp lý của khoản nợ tiềm tàng được xác định
đáng tin cậy. Nếu giá trị hợp lý của khoản nợ tiềm tàng không được xác định
đáng tin cậy thì:
a) Sẽ ảnh hưởng đến giá trị được ghi
nhận là lợi thế thương mại hoặc được kế toán theo quy định tại đoạn 55; và
b) Bên mua sẽ trình bày thông tin về
khoản nợ tiềm tàng theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 18 “Các khoản dự
phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”.
Đoạn A16(k) của Phụ lục A hướng dẫn
việc xác định giá trị hợp lý của khoản nợ tiềm tàng.
47. Sau ghi nhận ban đầu, bên mua
sẽ xác định giá trị của các khoản nợ tiềm tàng được ghi nhận một cách riêng
biệt theo quy định tại đoạn 36. Giá trị khoản nợ tiềm tàng được xác định theo
Chuẩn mực kế toán số 18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”
48. Quy định trong đoạn 47 không áp
dụng cho hợp đồng được kế toán theo Chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính. Tuy
nhiên, các cam kết vay được loại trừ khỏi phạm vi của Chuẩn mực kế toán về công
cụ tài chính không phải là các cam kết cung cấp các khoản vay với mức lãi suất
thấp hơn lãi suất thị trường sẽ được hạch toán vào nợ tiềm tàng của bên bị mua,
nếu tại ngày mua, không chắc chắn rằng việc giảm các lợi ích kinh tế là cần
thiết để thanh toán nghĩa vụ hoặc nếu giá trị của nghĩa vụ không được xác định
một cách đáng tin cậy. Theo đoạn 37, những cam kết vay như vậy được ghi nhận
riêng biệt như một phần của giá phí hợp nhất kinh doanh khi giá trị hợp lý được
xác định một cách đáng tin cậy.
49. Các khoản nợ tiềm tàng được ghi
nhận riêng biệt như một phần của giá phí hợp nhất kinh doanh là ngoài phạm vi
của Chuẩn mực kế toán số 18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng”. Tuy
nhiên, bên mua sẽ phải trình bày các thông tin về các khoản nợ tiềm tàng theo
quy định của Chuẩn mực kế toán số 18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm
tàng” cho mỗi loại dự phòng.
Lợi thế thương mại
50. Tại ngày mua, bên mua sẽ:
a) Ghi nhận lợi thế thương mại
phát sinh khi hợp nhất kinh doanh là tài sản; và
b) Xác định giá trị ban đầu của
lợi thế thương mại theo giá gốc, là phần chênh lệch của giá phí hợp nhất so với
phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của tài sản, nợ phải trả có
thể xác định được và các khoản nợ tiềm tàng đã ghi nhận theo quy định tại đoạn
36.
51. Lợi thế thương mại phát sinh khi
hợp nhất kinh doanh thể hiện khoản thanh toán của bên mua cho những lợi ích
kinh tế ước tính thu được trong tương lai từ những tài sản không đủ tiêu chuẩn
ghi nhận và không xác định được một cách riêng biệt.
52. Nếu các tài sản, nợ phải trả có
thể xác định được và các khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua không thỏa mãn tiêu
chuẩn trong đoạn 37 về ghi nhận riêng biệt tại ngày mua thì sẽ ảnh hưởng đến
khoản lợi thế thương mại được ghi nhận (được kế toán theo đoạn 55), bởi vì lợi
thế thương mại được xác định là phần giá trị còn lại trong giá phí của hợp nhất
kinh doanh sau khi ghi nhận tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và khoản
nợ tiềm tàng của bên bị mua.
53. Lợi thế thương mại được ghi ngay
vào chi phí sản xuất, kinh doanh (nếu giá trị nhỏ) hoặc phải được phân bổ dần
một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính (nếu giá trị
lớn). Thời gian sử dụng hữu ích phải phản ánh được ước tính đúng đắn về thời
gian thu hồi lợi ích kinh tế có thể mang lại cho doanh nghiệp. Thời gian sử
dụng hữu ích của lợi thế thương mại tối đa không quá 10 năm kể từ ngày được ghi
nhận.
Phương pháp phân bổ phải phản ánh
được cách thức thu hồi lợi ích kinh tế phát sinh từ lợi thế thương mại. Phương
pháp đường thẳng được sử dụng phổ biến trừ khi có bằng chứng thuyết phục cho
việc áp dụng phương pháp phân bổ khác phù hợp hơn. Phương pháp phân bổ phải
được áp dụng nhất quán cho các thời kỳ trừ khi có sự thay đổi về cách thức thu
hồi lợi ích kinh tế của lợi thế thương mại đó.
54. Thời gian phân bổ và phương pháp
phân bổ lợi thế thương mại phải được xem xét lại cuối mỗi năm tài chính. Nếu
thời gian sử dụng hữu ích của lợi thế thương mại khác biệt lớn so với ước tính
ban đầu thì phải thay đổi thời gian phân bổ. Nếu có sự thay đổi lớn về cách
thức thu hồi lợi ích kinh tế trong tương lai do lợi thế thương mại đem lại thì
phương pháp phân bổ cũng phải thay đổi. Trường hợp này phải điều chỉnh chi phí
phân bổ của lợi thế thương mại cho năm hiện hành và các năm tiếp theo và phải
được thuyết minh trong báo cáo tài chính.
Khoản vượt trội giữa phần sở hữu của
bên mua trong giá trị hợp lý thuần của tài sản, nợ phải trả có thể xác định
được và khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua so với giá phí hợp nhất kinh doanh
55. Nếu phần sở hữu của bên mua
trong giá trị hợp lý thuần của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và nợ
tiềm tàng được ghi nhận theo quy định tại đoạn 36 vượt quá giá phí hợp nhất
kinh doanh thì bên mua phải:
a) Xem xét lại việc xác định giá
trị của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được, nợ tiềm tàng và việc xác
định giá phí hợp nhất kinh doanh; và
b) Ghi nhận ngay vào Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh tất cả các khoản chênh lệch vẫn còn sau khi đánh giá
lại.
56. Một khoản thu nhập đã ghi nhận
theo đoạn 55 có thể bao gồm một hoặc tất cả các yếu tố sau đây:
a) Những sai sót khi xác định giá trị
hợp lý của giá phí hợp nhất kinh doanh hoặc của tài sản, nợ phải trả có thể xác
định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua. Giá phí dự kiến có thể phát sinh của
bên bị mua đã không phản ánh chính xác theo giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải
trả có thể xác định và nợ tiềm tàng của bên bị mua là nguyên nhân tiềm tàng của
những sai sót này.
b) Quy định của Chuẩn mực kế toán về
xác định giá trị tài sản thuần có thể xác định được đã mua ở mức không phải giá
trị hợp lý nhưng được coi như giá trị hợp lý nhằm mục đích phân bổ giá phí của
việc hợp nhất kinh doanh, như hướng dẫn trong Phụ lục A về việc xác định giá
trị hợp lý của tài sản và nợ phải trả có thể xác định được của bên bị mua;
hướng dẫn xác định cho tài sản thuế thu nhập hoãn lại và thuế thu nhập hoãn lại
phải trả không được chiết khấu.
c) Khoản giảm giá mua.
Hợp nhất kinh doanh được hoàn thành trong từng
giai đoạn
57. Hợp nhất kinh doanh thường liên
quan tới nhiều giao dịch trao đổi, như giao dịch mua cổ phiếu liên tiếp. Khi
đó, mỗi giao dịch trao đổi sẽ được bên mua xử lý một cách riêng biệt bằng cách
sử dụng giá phí của giao dịch và thông tin về giá trị hợp lý tại ngày diễn ra
từng giao dịch trao đổi để xác định giá trị của lợi thế thương mại liên quan
đến từng giao dịch đó. Do đó, việc so sánh giá phí của các khoản đầu tư đơn lẻ
với lợi ích của bên mua trong giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả có thể
xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua được thực hiện ở từng bước.
58. Nếu hợp nhất kinh doanh liên quan
tới nhiều giao dịch trao đổi thì giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả có thể
xác định được và khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua có thể có chênh lệch tại mỗi
ngày diễn ra giao dịch trao đổi, vì:
a) Tài sản, nợ phải trả có thể xác
định được và khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua được trình bày lại một cách ước
lượng theo giá trị hợp lý của chúng tại mỗi ngày diễn ra từng giao dịch trao
đổi để xác định giá trị của lợi thế thương mại gắn với từng giao dịch; và
b) Tài sản, nợ phải trả có thể xác
định được và khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua sau đó phải được bên mua ghi
nhận theo giá trị hợp lý tại ngày mua.
59. Trước khi được coi là hợp nhất
kinh doanh, một giao dịch có thể được coi là khoản đầu tư vào công ty liên kết
và được hạch toán theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 07 "Kế toán các
khoản đầu tư vào công ty liên kết" theo phương pháp giá gốc.
Kế toán ban đầu được xác định tạm thời
60. Kế toán ban đầu của việc hợp nhất
kinh doanh bao gồm: Xác định và đánh giá giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải
trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua và giá phí hợp nhất
kinh doanh.
61. Nếu kế toán ban đầu cho giao dịch
hợp nhất kinh doanh chỉ có thể xác định một cách tạm thời vào cuối kỳ mà việc
hợp nhất kinh doanh được thực hiện do giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả
có thể xác định được hoặc nợ tiềm tàng của bên bị mua hoặc giá phí hợp nhất
kinh doanh chỉ có thể xác định một cách tạm thời, thì bên mua phải kế toán giao
dịch hợp nhất kinh doanh bằng cách sử dụng các giá trị tạm thời đó. Bên mua
phải ghi nhận các khoản điều chỉnh đối với những giá trị tạm thời như là kết
quả của việc hoàn tất việc kế toán ban đầu:
a) Trong vòng 12 tháng kể từ ngày mua; và
b) Từ ngày mua. Do đó:
(i) Giá trị còn lại của tài sản, nợ phải trả có thể
xác định được hoặc nợ tiềm tàng được ghi nhận hoặc điều chỉnh theo kết quả có
được từ việc kế toán ban đầu sẽ được tính là giá trị hợp lý của chúng được ghi
nhận tại ngày mua.
(ii) Từ thời điểm mua, lợi thế thương mại hoặc bất
kỳ khoản thu nhập nào đã được ghi nhận theo quy định tại đoạn 55 sẽ được điều
chỉnh tương ứng với khoản điều chỉnh theo giá trị hợp lý tại ngày mua của tài
sản, nợ phải trả có thể xác định được hoặc nợ tiềm tàng được ghi nhận hoặc được
điều chỉnh.
(iii) Thông tin so sánh được trình bày trong các kỳ
trước khi việc hạch toán của hợp nhất kinh doanh hoàn tất sẽ được trình bày như
là việc kế toán ban đầu đã được hoàn thành từ ngày mua, có nghĩa là các khoản
khấu hao hay các tác động đến lãi hoặc lỗ đều được ghi nhận như là kết quả có
được từ việc kế toán ban đầu.
Các điều chỉnh sau khi kế toán ban đầu hoàn tất
62. Ngoại trừ các trường hợp đã quy định tại các
đoạn 33, 34 và 64, những điều chỉnh đối với kế toán ban đầu được xác định tạm
thời cho giao dịch hợp nhất kinh doanh sau khi việc kế toán đó hoàn tất sẽ chỉ
được ghi nhận nhằm mục đích sửa chữa sai sót theo Chuẩn mực kế toán số 29
"Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót". Những
điều chỉnh đối với việc kế toán ban đầu cho giao dịch hợp nhất kinh doanh sau
khi hoàn tất việc kế toán đó sẽ không được ghi nhận là ảnh hưởng của thay đổi
ước tính kế toán. Theo Chuẩn mực kế toán số 29, ảnh hưởng của thay đổi ước tính
kế toán sẽ được ghi nhận trong kỳ hiện tại và các kỳ tương lai.
63. Chuẩn mực kế toán số 29 "Thay đổi chính
sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót" quy định doanh nghiệp phải
sửa chữa sai sót theo phương pháp hồi tố, và trình bày báo cáo tài chính như là
khi các sai sót chưa xảy ra bằng cách trình bày lại thông tin so sánh cho các
kỳ trước khi xảy ra sai sót. Do đó, giá trị còn lại của tài sản, nợ phải trả có
thể xác định được hoặc nợ tiềm tàng của bên bị mua đã được ghi nhận hoặc điều
chỉnh như là kết quả của việc sửa chữa sai sót sẽ được tính là giá trị hợp lý
của chúng hoặc điều chỉnh giá trị hợp lý được ghi nhận tại ngày mua. Lợi thế
thương mại hoặc bất kỳ khoản thu nhập nào đã được ghi nhận trong kỳ trước theo
quy định tại đoạn 55 sẽ được điều chỉnh hồi tố bằng một khoản tương ứng với giá
trị hợp lý tại ngày mua (hoặc điều chỉnh đối với giá trị hợp lý tại thời điểm
mua) của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được hoặc nợ tiềm tàng đang được
ghi nhận (hoặc điều chỉnh).
Ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại sau khi
hoàn tất việc kế toán ban đầu
64. Nếu lợi ích tiềm tàng của các khoản lỗ tính
thuế chuyển sang năm sau của bên bị mua hoặc các tài sản thuế thu nhập hoãn lại
khác không thỏa mãn các tiêu chuẩn quy định trong đoạn 37 đối với việc ghi nhận
riêng rẽ, khi việc hợp nhất kinh doanh được kế toán ban đầu nhưng được thực
hiện sau đó, bên mua sẽ ghi nhận lợi ích đó là thu nhập thuế hoãn lại phù hợp
với quy định của Chuẩn mực kế toán số 17 "Thuế thu nhập doanh
nghiệp". Ngoài ra, bên mua sẽ:
a) Giảm giá trị còn lại của lợi thế thương mại tới
mức sẽ được ghi nhận nếu tài sản thuế thu nhập hoãn lại được ghi nhận là tài
sản có thể xác định từ ngày mua; và
b) Ghi nhận khoản giảm giá trị còn lại của lợi thế
thương mại là chi phí.
Tuy nhiên, việc ghi nhận này không làm phát sinh
khoản vượt trội hay làm tăng khoản thu nhập đã được ghi nhận trước đó theo quy
định tại đoạn 55.
Trình bày báo cáo tài chính
65. Bên mua phải trình bày các thông tin để
người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được bản chất và ảnh hưởng về tài
chính phát sinh từ việc hợp nhất kinh doanh đến:
a) Trong kỳ;
b) Sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm nhưng trước
ngày phát hành báo cáo tài chính.
66. Bên mua phải trình bày thông tin sau cho từng
giao dịch hợp nhất kinh doanh diễn ra trong kỳ:
a) Tên và diễn giải liên quan đến các bên tham gia
hợp nhất kinh doanh;
b) Ngày mua;
c) Tỷ lệ phần trăm (%) công cụ vốn có quyền biểu quyết
được mua;
d) Chi phí liên quan trực tiếp đến việc hợp nhất
kinh doanh. Khi công cụ vốn được phát hành hoặc có thể được phát hành và các
công cụ này được cấu thành là một bộ phận của giá phí hợp nhất kinh doanh, cần
trình bày các thông tin sau:
(i) Số lượng công cụ vốn được phát hành hoặc có thể
được phát hành;
(ii) Giá trị hợp lý của các công cụ vốn trên và cơ
sở xác định giá trị hợp lý đó. Nếu không có giá phát hành tại thời điểm giao
dịch thì sẽ trình bày các giả định chủ yếu được sử dụng để xác định giá trị hợp
lý. Nếu có giá phát hành vào thời điểm giao dịch nhưng không được sử dụng là cơ
sở để xác định giá phí hợp nhất kinh doanh thì phải trình bày lý do không sử
dụng giá phát hành, phương pháp và các giả định chủ yếu sử dụng dùng để xác
định giá trị hợp lý cho công cụ vốn; và các khoản chênh lệch tích lũy giữa giá
trị và giá phát hành công cụ vốn;
e) Chi tiết của bất kỳ hoạt động nào được doanh
nghiệp quyết định thanh lý sau hợp nhất kinh doanh;
f) Giá trị được ghi nhận tại ngày mua cho từng loại
tài sản, nợ phải trả và nợ tiềm tàng của bên bị mua, trừ khi không thể xác định
được thì giá trị còn lại của từng loại tài sản, nợ phải trả và nợ tiềm tàng đó
được xác định theo quy định của các Chuẩn mực kế toán có liên quan ngay trước
khi diễn ra hợp nhất kinh doanh. Nếu không trình bày được thì phải nêu rõ lý
do.
g) Khoản vượt trội được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ
phù hợp với quy định tại đoạn 55 và các khoản mục tương đương trong Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh của bên mua.
h) Diễn giải các yếu tố cấu thành giá phí là kết
quả của việc ghi nhận lợi thế thương mại - diễn giải từng tài sản cố định vô
hình chưa được ghi nhận tách riêng khỏi lợi thế thương mại và giải thích lý do
giá trị hợp lý của tài sản cố định vô hình không được tính toán một cách đáng tin
cậy, hoặc diễn giải về tính chất của khoản vượt trội được ghi vào lỗ hoặc lãi
theo quy định tại đoạn 55.
i) Khoản lỗ hay lãi của bên bị mua phát sinh từ
ngày mua bao gồm lỗ hay lãi của bên mua trong kỳ, nếu không xác định được thì
phải nêu rõ lý do.
67. Thông tin theo yêu cầu của đoạn 66 sẽ được
trình bày một cách tổng thể đối với các hoạt động hợp nhất kinh doanh phát sinh
trong kỳ báo cáo mà không có ảnh hưởng trọng yếu một cách riêng rẽ.
68. Nếu việc kế toán ban đầu cho giao dịch hợp nhất
kinh doanh phát sinh trong kỳ được xác định tạm thời theo quy định trong đoạn
61, thì phải trình bày và giải thích.
69. Bên mua phải trình bày thông tin sau:
a) Doanh thu trong kỳ của đơn vị được hợp nhất kinh
doanh trước ngày hợp nhất kinh doanh;
b) Lỗ hoặc lãi trong kỳ của đơn vị được hợp nhất
kinh doanh trước ngày hợp nhất kinh doanh.
Nếu không thể trình bày được thông tin này thì phải
giải thích rõ lý do.
70. Bên mua sẽ trình bày thông tin theo quy định
tại đoạn 66 cho từng giao dịch hợp nhất kinh doanh phát sinh sau ngày kết thúc
kỳ kế toán năm nhưng trước ngày phát hành báo cáo tài chính.
71. Bên mua phải trình bày những thông tin để
giúp người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được những ảnh hưởng về tài chính
đến lãi hoặc lỗ phát sinh từ việc sửa chữa sai sót và những điều chỉnh khác
được ghi nhận trong kỳ hiện hành liên quan tới những giao dịch hợp nhất kinh
doanh đã phát sinh trong kỳ hiện hành hoặc trước đó.
72. Bên mua sẽ trình bày thông tin sau:
a) Các khoản lãi hoặc lỗ được ghi nhận trong kỳ
hiện hành và giải thích thông tin này.
(i) Liên quan đến tài sản, nợ phải trả có thể xác
định được hoặc nợ tiềm tàng của từng giao dịch hợp nhất kinh doanh đã phát sinh
trong kỳ hiện hành hoặc kỳ trước đó;
(ii) Quy mô, bản chất hoặc sự việc mà việc trình
bày này có liên quan đến hiểu biết về hoạt động tài chính của đơn vị được hợp
nhất;
b) Nếu việc kế toán ban đầu của từng giao dịch hợp
nhất kinh doanh thực hiện trong kỳ trước đó được xác định tạm thời vào cuối kỳ
thì phải trình bày giá trị các khoản được điều chỉnh và giải thích các khoản
điều chỉnh này về giá trị được xác định tạm thời đã ghi nhận trong kỳ hiện
hành.
c) Thông tin về sửa chữa sai sót được yêu cầu trình
bày theo Chuẩn mực kế toán số 29 "Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế
toán và các sai sót" đối với bất kỳ tài sản, nợ phải trả có thể xác định
được, hoặc nợ tiềm tàng, hoặc những thay đổi trong giá trị của những khoản mục
trên, mà bên mua ghi nhận trong kỳ hiện hành theo quy định tại đoạn 62 và 63.
73. Nếu có lợi thế thương mại, doanh nghiệp cần
trình bày:
a) Thời gian phân bổ;
b) Trường hợp lợi thế thương mại không được phân bổ
theo phương pháp đường thẳng thì phải trình bày rõ phương pháp được sử dụng và
lý do không sử dụng phương pháp đường thẳng;
c) Giá trị lợi thế thương mại tính vào chi phí sản xuất,
kinh doanh trong kỳ;
d) Bảng đối chiếu giá trị ghi sổ của lợi thế thương
mại vào đầu kỳ và cuối kỳ:
(i) Tổng giá trị lợi thế thương mại và số đã phân
bổ lũy kế đầu kỳ;
(ii) Lợi thế thương mại phát sinh trong kỳ;
(iii) Những điều chỉnh do có thay đổi hoặc phát
hiện thấy sự thay đổi giá trị của các tài sản và nợ phải trả có thể xác định
được;
(iv) Lợi thế thương mại bị loại bỏ khi thanh lý,
nhượng bán toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp trong kỳ;
(v) Giá trị lợi thế thương mại phân bổ trong kỳ;
(vi) Các thay đổi khác về lợi thế thương mại trong
kỳ;
(vii) Tổng giá trị lợi thế thương mại chưa phân bổ
lũy kế cuối kỳ.
74. Doanh nghiệp sẽ trình bày thêm những thông tin
bổ sung để phù hợp với quy định tại đoạn 65, 71 và 73./.
PHỤ LỤC A
Hướng
dẫn bổ sung
Mua hoán đổi
A1. Như đã quy định trong đoạn 21, trường hợp hợp
nhất kinh doanh được gọi là mua hoán đổi, khi bên mua là một doanh nghiệp mà
vốn chủ sở hữu của nó đã bị mua lại bởi chính doanh nghiệp bị mua. Ví dụ, một
công ty bị một doanh nghiệp nhỏ hơn mua lại để được niêm yết trên thị trường
chứng khoán. Mặc dù về mặt pháp lý thì doanh nghiệp nhỏ hơn được coi là công ty
mẹ và công ty bị mua được coi là công ty con. Tuy nhiên công ty con về mặt pháp
lý sẽ là bên mua nếu nó có quyền chi phối chính sách tài chính và hoạt động của
công ty mẹ để đạt được lợi ích từ hoạt động của công ty mẹ.
A2. Doanh nghiệp áp dụng hướng dẫn trong đoạn từ A3
đến A15 khi hạch toán việc mua hoán đổi.
A3. Hạch toán việc mua hoán đổi xác định cách thức
phân bổ giá phí hợp nhất kinh doanh tại ngày mua và không áp dụng cho các
nghiệp vụ xảy ra sau khi hợp nhất.
Giá phí hợp nhất kinh
doanh
A4. Khi công cụ vốn được phát hành được cấu thành
trong giá phí hợp nhất kinh doanh, đoạn 24 quy định giá phí hợp nhất kinh doanh
phải bao gồm giá trị hợp lý tại ngày trao đổi của các công cụ vốn đó. Đoạn 27
quy định trường hợp không có giá công bố đáng tin cậy, thì giá trị hợp lý của
công cụ vốn có thể ước tính bằng cách tham chiếu đến giá trị hợp lý của bên mua
hoặc tham chiếu đến giá trị hợp lý của doanh nghiệp bị mua, miễn là giá nào có
bằng chứng rõ ràng hơn.
A5. Trong nghiệp vụ mua hoán đổi, giá phí hợp nhất
kinh doanh thường do công ty con về pháp lý gánh chịu (là bên mua theo mục đích
kế toán) phát hành công cụ vốn cho người sở hữu công ty mẹ (là bên bị mua theo
mục đích kế toán). Nếu như giá công bố của công cụ vốn của công ty con được
phát hành để xác định giá phí của giao dịch hợp nhất kinh doanh, thì cần phải
tính toán để xác định số lượng công cụ vốn mà công ty con phải phát hành để có
cùng tỷ lệ sở hữu trong doanh nghiệp hợp nhất cho các chủ sở hữu của công ty
mẹ. Giá trị hợp lý của số lượng công cụ vốn đã tính toán này chính là giá phí
hợp nhất kinh doanh.
A6. Nếu giá trị hợp lý của công cụ vốn của công ty
con không phải là bằng chứng rõ ràng, thì tổng giá trị hợp lý của tất cả các
công cụ vốn đã phát hành của công ty mẹ trước hợp nhất sẽ được sử dụng làm cơ
sở để tính toán giá phí hợp nhất kinh doanh.
Lập và trình bày báo cáo
tài chính hợp nhất
A7. Báo cáo tài chính hợp nhất được phát hành sau khi
hợp nhất do mua hoán đổi sẽ đứng tên công ty mẹ, nhưng cần mô tả trong thuyết
minh đó là sự tiếp tục của báo cáo tài chính của công ty mẹ (là bên mua theo
mục đích kế toán). Báo cáo tài chính hợp nhất thể hiện sự tiếp tục báo cáo tài
chính của công ty con:
a) Tài sản và nợ phải trả của công ty con được tính
toán và ghi nhận trong báo cáo tài chính hợp nhất theo giá trị còn lại của
chúng trước khi hợp nhất kinh doanh.
b) Lợi nhuận giữ lại và số dư các khoản mục khác
trong vốn chủ sở hữu được ghi nhận trong BCTC hợp nhất này theo giá trị của
chúng trong báo cáo của công ty con trước khi hợp nhất kinh doanh.
c) Giá trị đã ghi nhận của công cụ vốn đã phát hành
trong báo cáo tài chính hợp nhất này được xác định bằng cách cộng thêm vào vốn
chủ của công ty con trước khi hợp nhất phần giá phí hợp nhất kinh doanh đã được
xác định theo đoạn các đoạn A4 đến A6. Tuy nhiên, cơ cấu vốn chủ sở hữu trình
bày trong báo cáo tài chính hợp nhất (số lượng, loại công cụ vốn đã phát hành)
sẽ phản ánh cơ cấu vốn của công ty mẹ, kể cả công cụ vốn mà công ty mẹ đã phát
hành để thực hiện việc hợp nhất kinh doanh.
d) Thông tin so sánh trình bày trong báo cáo tài
chính hợp nhất sẽ là thông tin so sánh của công ty con.
A8. Kế toán việc mua hoán đổi chỉ được áp dụng
trong Báo cáo tài chính hợp nhất. Trong báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ,
nếu có, khoản đầu tư vào công ty con được hạch toán theo quy định của Chuẩn mực
kế toán số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công
ty con”.
A9. Báo cáo tài chính hợp nhất được lập sau khi mua
hoán đổi sẽ phản ánh giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả và nợ tiềm tàng
của công ty mẹ (là bên bị mua theo mục đích kế toán). Vì thế, giá phí của hợp
nhất kinh doanh sẽ được phân bổ bằng cách tính toán tài sản, nợ phải trả có thể
xác định được và nợ tiềm tàng của công ty mẹ mà thỏa mãn các tiêu chuẩn quy
định trong đoạn 37 theo giá trị hợp lý tại ngày mua. Phần lớn hơn giữa giá phí
hợp nhất kinh doanh và phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của
các khoản mục này sẽ được hạch toán theo các đoạn 50 đến 54. Phần lớn hơn giữa
phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của các khoản mục này và giá
phí hợp nhất kinh doanh sẽ được hạch toán theo đoạn 55.
Lợi ích của cổ đông thiểu
số
A10. Trong một số giao dịch mua hoán đổi, một số
chủ sở hữu của công ty con hợp pháp không trao đổi các công cụ vốn của họ với
những công cụ vốn của công ty mẹ. Mặc dù một đơn vị trong đó có những chủ sở
hữu nắm giữ các công cụ vốn (công ty con hợp pháp) đã mua lại một đơn vị khác
(công ty mẹ hợp pháp). Những chủ sở hữu này được xem như lợi ích của cổ đông
thiểu số trong báo cáo tài chính hợp nhất lập sau giao dịch mua hoán đổi. Điều
đó là do các chủ sở hữu của công ty con hợp pháp đã không trao đổi các công cụ
vốn của họ với các công cụ vốn của công ty mẹ, những chủ sở hữu này chỉ quan
tâm đến kết quả và tài sản thuần của công ty con hợp pháp, mà không phải là kết
quả và tài sản thuần của đơn vị hợp nhất. Ngược lại, tất cả các chủ sở hữu của
công ty mẹ, kể cả công ty mẹ được coi là bên bị mua, quan tâm đến kết quả và
tài sản thuần của đơn vị hợp nhất.
A11. Tài sản và nợ phải trả của công ty con hợp
pháp được ghi nhận và xác định trong báo cáo tài chính hợp nhất theo giá trị
còn lại của chúng trước khi hợp nhất. Lợi ích của cổ đông thiểu số phản ánh
phần lợi ích tương ứng của các cổ đông thiểu số trong giá trị còn lại trước hợp
nhất của tài sản thuần của công ty con hợp pháp.
Lợi nhuận trên mỗi cổ
phiếu
A12. Như đã lưu ý trong đoạn A7(c), cơ cấu vốn chủ
sở hữu thể hiện trong báo cáo tài chính hợp nhất lập cho một cuộc mua hoán đổi
phản ánh cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty mẹ, bao gồm các công cụ vốn phát
hành bởi công ty mẹ để thực hiện việc hợp nhất kinh doanh.
A13. Với mục đích tính toán số bình quân gia quyền
của cổ phiếu phổ thông còn lại (mẫu số) trong kỳ việc mua hoán đổi diễn ra:
a) Số cổ phiếu phổ thông còn lại từ đầu kỳ cho tới
ngày mua sẽ được coi là số cổ phiếu phổ thông phát hành bởi công ty mẹ cho các
chủ sở hữu của công ty con; và
b) Số cổ phiếu phổ thông còn lại kể từ ngày mua tới
ngày kết thúc kỳ sẽ là số thực tế của số cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ còn
lại trong cả kỳ đó.
A14. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu trình bày trên
mỗi kỳ có tính chất so sánh trước ngày mua được thể hiện trong báo cáo tài
chính hợp nhất sau khi thực hiện việc mua hoán đổi sẽ được tính toán bằng cách
phân chia lợi nhuận hoặc lỗ của công ty con hợp pháp có thể tính cho các cổ
đông thường trong mỗi kỳ đó cho số cổ phiếu phổ thông do công ty mẹ phát hành
cho các chủ sở hữu của công ty con hợp pháp trong vụ mua hoán đổi.
A15. Những tính toán trình bày trong đoạn A13 và
A14 giả định rằng không có sự thay đổi nào trong số cổ phiếu phổ thông đã phát
hành của công ty con hợp pháp trong suốt các kỳ có tính chất so sánh và trong
kỳ, kể từ khi xảy ra việc mua lại đảo ngược cho tới ngày mua lại. Việc tính
toán lãi trên mỗi cổ phiếu sẽ được điều chỉnh một cách thích hợp tính đến sự
thay đổi trong số cổ phiếu phổ thông đã phát hành của công ty con hợp pháp
trong suốt các kỳ đó.
Phân bổ giá phí hợp nhất
kinh doanh
A16. Chuẩn mực này yêu cầu bên mua ghi nhận tài
sản, nợ phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua nếu thỏa
mãn các tiêu chuẩn ghi nhận theo giá trị hợp lý tại ngày mua. Để phân bổ giá
phí hợp nhất kinh doanh, bên mua sẽ coi những đánh giá sau đây như giá trị hợp
lý:
a) Đối với các công cụ tài chính trao đổi trên thị
trường hoạt động, bên mua sẽ sử dụng giá trị thị trường hiện hành.
b) Đối với các công cụ tài chính không trao đổi
trên thị trường hoạt động, bên mua sẽ sử dụng giá ước tính có xét tới những đặc
điểm như tỷ suất giá - thu nhập, lợi tức cổ phần và tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng
của các công cụ có thể so sánh của các đơn vị với các đặc điểm tượng tự.
c) Đối với những khoản phải thu, các hợp đồng sinh
lợi và các tài sản có thể xác định khác, bên mua sẽ sử dụng giá trị hiện tại
của khoản sẽ thu được trong tương lai theo mức lãi suất hiện hành thích hợp,
trừ đi khoản dự phòng phải thu khó đòi và chi phí thu hồi, nếu cần. Tuy nhiên,
chuẩn mực này không quy định việc chiết khấu đối với các khoản phải thu ngắn
hạn, các hợp đồng sinh lợi và các tài sản có thể xác định khác khi khoản chênh
lệch giữa số danh nghĩa và số đã chiết khấu là không đáng kể.
d) Đối với hàng tồn kho:
(i) Đối với thành phẩm và hàng hóa, bên mua sẽ sử
dụng giá bán trừ đi tổng của (1) Chi phí bán hàng ước tính và (2) Lợi nhuận ước
tính hợp lý đối với khả năng bán của bên mua dựa trên lợi nhuận đối với thành
phẩm và hàng hóa tương tự;
(ii) Đối với sản phẩm dở dang, bên mua sẽ sử dụng
giá bán của thành phẩm trừ đi tổng của (1) Chi phí hoàn thành (2) Chi phí bán
hàng ước tính và (3) Lợi nhuận ước tính hợp lý đối với khả năng bán và hoàn
thành của bên mua dựa trên lợi nhuận của thành phẩm tương tự; và
(iii) Đối với nguyên vật liệu, bên mua sẽ sử dụng
giá thay thế hiện hành.
e) Đối với đất đai và nhà cửa, bên mua sẽ sử dụng
giá thị trường.
f) Đối với nhà xưởng, thiết bị, bên mua sẽ sử dụng
giá thị trường, thông thường được xác định bằng đánh giá. Nếu không có thông
tin về giá trị thị trường do bản chất đặc biệt của khoản mục nhà xưởng, thiết
bị và các tài sản này hiếm khi đem bán, trừ trường hợp nó là một phần của công
việc kinh doanh đang hoạt động, bên mua có thể cần phải ước tính giá trị hợp lý
theo phương pháp thu nhập hoặc phương pháp chi phí thay thế có thể khấu hao.
g) Đối với tài sản cố định vô hình, bên mua sẽ xác
định giá trị hợp lý bằng cách:
(i) Nghiên cứu, xem xét thị trường hoạt động như đã
định nghĩa trong Chuẩn mực kế toán số 04 "Tài sản cố định vô hình";
hoặc
(ii) Nếu không có thị trường hoạt động, cơ sở để
xác định số tiền mà bên mua phải trả cho tài sản đó trong sự trao đổi ngang giá
một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết dựa trên những thông tin
tốt nhất có được (theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 04 "Tài sản cố
định vô hình" để biết thêm những hướng dẫn cụ thể hơn về việc xác định giá
trị hợp lý của tài sản cố định vô hình có được trong một giao dịch hợp nhất
kinh doanh).
h) Đối với tài sản thuế thu nhập hoãn lại và thuế
thu nhập hoãn lại phải trả, bên mua sẽ sử dụng khoản lợi về thuế phát sinh từ
lỗ thuế hay thuế phải nộp tương ứng với lợi nhuận hay lỗ theo Chuẩn mực kế toán
số 17 "Thuế thu nhập doanh nghiệp", được đánh giá từ tương lai
của đơn vị hợp nhất. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại hay thuế thu nhập hoãn lại
phải trả được xác định sau khi thừa nhận ảnh hưởng về thuế đến việc trình bày
lại các tài sản, nợ phải trả và nợ tiềm tàng có thể xác định theo giá trị hợp
lý của chúng và không được chiết khấu.
i) Đối với các khoản phải trả, nợ dài hạn, chi phí
phải trả và các khoản phải bồi thường khác, bên mua sẽ sử dụng giá trị hiện tại
của các khoản được dùng để thanh toán nợ phải trả trong tương lai theo mức lãi
suất hiện hành thích hợp. Tuy nhiên, bên mua không phải chiết khấu đối với các
khoản nợ ngắn hạn khi chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa và khoản đã chiết khấu
là không đáng kể.
j) Đối với những hợp đồng khó thực hiện và các
khoản nợ có thể xác định của bên bị mua, bên mua sẽ sử dụng giá trị hiện tại
của khoản mục được dùng để thanh toán các nghĩa vụ đã xác định ở các mức lãi
suất hiện hành thích hợp.
k) Đối với các khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua,
bên mua sẽ sử dụng khoản mà bên thứ ba sẽ tính khi gánh chịu những khoản nợ
phải trả đó.
A17. Một số quy định trên đây yêu cầu giá trị hợp
lý phải được ước tính dựa vào phương pháp giá trị hiện tại. Nếu quy định cho
một khoản mục riêng biệt không đề cập đến đến việc sử dụng phương pháp giá trị
hiện tại, thì phương pháp này vẫn có thể sử dụng trong việc ước tính giá trị
hiện tại của khoản mục đó.
Chuẩn mực số 18
CÁC
KHOẢN DỰ PHÒNG, TÀI SẢN VÀ NỢ TIỀM TÀNG
(Ban
hành và công bố theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính)
QUY ĐỊNH
CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực này là quy
định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán các khoản dự phòng, tài
sản và nợ tiềm tàng, gồm: Nguyên tắc ghi nhận; xác định giá trị; các khoản bồi
hoàn; thay đổi các khoản dự phòng; sử dụng các khoản dự phòng; áp dụng nguyên
tắc ghi nhận và xác định giá trị các khoản dự phòng làm cơ sở lập và trình bày
báo cáo tài chính.
02. Chuẩn mực này áp dụng cho
tất cả các doanh nghiệp để kế toán các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng,
ngoại trừ:
a) Các khoản mục phát sinh từ
các hợp đồng thông thường, không kể các hợp đồng có rủi ro lớn;
b) Những khoản mục đã quy định
trong các chuẩn mực kế toán khác.
03. Chuẩn mực này không áp dụng cho
các công cụ tài chính (bao gồm cả điều khoản bảo lãnh). Các công cụ tài chính
áp dụng theo quy định của chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính.
04. Khi có một chuẩn mực kế toán khác
đề cập đến một loại dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng cụ thể thì doanh nghiệp
phải áp dụng chuẩn mực đó. Ví dụ Chuẩn mực kế toán số 11 “Hợp nhất kinh doanh”
đề cập đến phương pháp ghi nhận của người mua đối với các khoản nợ tiềm tàng
phát sinh khi hợp nhất. Tương tự, cũng có các loại dự phòng được đề cập trong
các chuẩn mực khác, như:
- Chuẩn mực kế toán số 15 “Hợp đồng
xây dựng”;
- Chuẩn mực kế toán số 17 “Thuế thu
nhập doanh nghiệp”;
- Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài
sản”. Trừ trường hợp tài sản thuê hoạt động có rủi ro lớn thì áp dụng chuẩn mực
này.
05. Một số khoản được coi là khoản dự
phòng liên quan đến nguyên tắc ghi nhận doanh thu (Ví dụ: Khoản phí bảo hành)
thì áp dụng nguyên tắc ghi nhận doanh thu quy định tại Chuẩn mực kế toán số 14
“Doanh thu và thu nhập khác”.
06. Chuẩn mực này áp dụng cho các
khoản dự phòng đối với hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp (kể cả trường hợp
ngừng hoạt động). Nếu việc tái cơ cấu phù hợp các định nghĩa về ngừng hoạt động
thì phải trình bày bổ sung theo quy định của các chuẩn mực kế toán hiện hành.
07. Các thuật ngữ trong chuẩn
mực này được hiểu như sau:
Một khoản dự phòng: Là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian.
Một khoản nợ phải trả: Là nghĩa vụ nợ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện đã
qua và việc thanh toán khoản phải trả này dẫn đến sự giảm sút về lợi ích kinh
tế của doanh nghiệp.
Sự kiện có tính chất bắt buộc: Là sự kiện làm nảy sinh một nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới
khiến cho doanh nghiệp không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thực hiện nghĩa
vụ đó.
Nghĩa vụ pháp lý: Là nghĩa vụ phát sinh từ:
a) Một hợp đồng;
b) Một văn bản pháp luật hiện
hành.
Nghĩa vụ liên đới: Là nghĩa vụ phát sinh từ các hoạt động của một doanh nghiệp khi thông
qua các chính sách đã ban hành hoặc hồ sơ, tài liệu hiện tại có liên quan để
chứng minh cho các đối tác khác biết rằng doanh nghiệp sẽ chấp nhận và thực
hiện những nghĩa vụ cụ thể.
Nợ tiềm tàng: Là:
a) Nghĩa vụ nợ có khả năng phát
sinh từ các sự kiện đã xảy ra và sự tồn tại của nghĩa vụ nợ này sẽ chỉ được xác
nhận bởi khả năng hay xảy ra hoặc không hay xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện
không chắc chắn trong tương lai mà doanh nghiệp không kiểm soát được; hoặc
b) Nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh
từ các sự kiện đã xảy ra nhưng chưa được ghi nhận vì:
(i) Không chắc chắn có sự giảm sút
về lợi ích kinh tế do việc phải thanh toán nghĩa vụ nợ; hoặc
(ii) Giá trị của nghĩa vụ nợ đó
không được xác định một cách đáng tin cậy.
Tài sản tiềm tàng: Là tài sản có khả năng phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra và sự tồn
tại của tài sản này chỉ được xác nhận bởi khả năng hay xảy ra hoặc không hay
xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà doanh
nghiệp không kiểm soát được.
Hợp đồng có rủi ro lớn: Là hợp đồng trong đó có những chi phí không thể tránh được buộc phải
trả cho các nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng vượt quá lợi ích kinh tế dự tính
thu được từ hợp đồng đó.
Tái cơ cấu doanh nghiệp: Là một chương trình do Ban Giám đốc lập kế hoạch, kiểm soát và có
những thay đổi quan trọng về:
a) Phạm vi hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp; hoặc
b) Phương thức hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
NỘI DUNG
CHUẨN MỰC
Các khoản dự phòng
và các khoản nợ phải trả
08. Các khoản dự phòng có thể phân
biệt được với các khoản nợ phải trả như: Các khoản nợ phải trả người bán, phải
trả tiền vay,... là các khoản nợ phải trả được xác định gần như chắc chắn về
giá trị và thời gian, còn các khoản dự phòng là các khoản nợ phải trả chưa chắc
chắn về giá trị hoặc thời gian.
Mối quan hệ giữa
các khoản dự phòng và nợ tiềm tàng
09. Tất cả các khoản dự phòng đều là
nợ tiềm tàng vì chúng không được xác định một cách chắc chắn về giá trị hoặc
thời gian. Tuy nhiên, trong phạm vi chuẩn mực này thuật ngữ “tiềm tàng” được áp
dụng cho các khoản nợ và những tài sản không được ghi nhận vì chúng chỉ được
xác định cụ thể khi khả năng xảy ra hoặc không xảy ra của một hoặc nhiều sự
kiện không chắc chắn trong tương lai mà doanh nghiệp không kiểm soát được. Hơn
nữa, thuật ngữ “nợ tiềm tàng” được áp dụng cho các khoản nợ không thỏa mãn điều
kiện để ghi nhận là một khoản nợ phải trả thông thường.
10. Chuẩn mực này phân biệt rõ các
khoản dự phòng với các khoản nợ tiềm tàng, như sau:
a) Các khoản dự phòng là các khoản đã
được ghi nhận là các khoản nợ phải trả (giả định đưa ra một ước tính đáng tin
cậy) vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút
các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó; và
b) Các khoản nợ tiềm tàng là các
khoản không được ghi nhận là các khoản nợ phải trả thông thường, vì: Các khoản
nợ phải trả thường xảy ra, còn khoản nợ tiềm tàng thì chưa chắc chắn xảy ra.
Nguyên tắc ghi
nhận
Các khoản dự phòng
11. Một khoản dự phòng chỉ được
ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện sau:
a) Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ
hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã
xảy ra;
b) Sự giảm sút về những lợi ích
kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ; và
c) Đưa ra được một ước tính
đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó.
Nghĩa vụ nợ
12. Rất ít trường hợp không thể
chắc chắn được rằng liệu doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hay không. Trong trường
hợp này một sự kiện đã xảy ra được xem là phát sinh ra nghĩa vụ nợ khi xem xét
tất cả các chứng cứ đã có chắc chắn xác định được nghĩa vụ nợ tại ngày kết thúc
kỳ kế toán năm.
13. Trong hầu hết các trường hợp đều
có thể xác định rõ được rằng một sự kiện đã xảy ra có phát sinh một nghĩa vụ nợ
hay không. Một số ít trường hợp không chắc chắn được rằng một số sự kiện xảy ra
có dẫn đến một nghĩa vụ nợ hay không. Ví dụ: Trong một vụ xét xử, có thể gây ra
tranh luận để xác định rằng những sự kiện cụ thể đã xảy ra hay chưa và có dẫn
đến một nghĩa vụ nợ hay không. Trường hợp như thế, doanh nghiệp phải xác định
xem liệu có tồn tại nghĩa vụ nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm hay không
thông qua việc xem xét tất cả các chứng cứ đã có, bao gồm cả ý kiến của các
chuyên gia. Chứng cứ đưa ra xem xét phải tính đến bất cứ một dấu hiệu bổ sung
nào của các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Dựa trên cơ sở của
các dấu hiệu đó:
a) Khi chắc chắn xác định được nghĩa
vụ nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, thì doanh nghiệp phải ghi nhận một
khoản dự phòng (nếu thỏa mãn các điều kiện ghi nhận); và
b) Khi chắc chắn không có một nghĩa
vụ nợ nào tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, thì doanh nghiệp phải trình bày
trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính một khoản nợ tiềm tàng, trừ khi khả
năng giảm sút các lợi ích kinh tế rất khó có thể xảy ra (như quy định tại đoạn
81).
Sự kiện đã xảy ra
14. Một sự kiện đã xảy ra làm phát
sinh nghĩa vụ nợ hiện tại được gọi là một sự kiện ràng buộc. Một sự kiện trở
thành sự kiện ràng buộc, nếu doanh nghiệp không có sự lựa chọn nào khác ngoài
việc thanh toán nghĩa vụ nợ gây ra bởi sự kiện đó. Điều này chỉ xảy ra:
a) Khi việc thanh toán nghĩa vụ nợ
này do pháp luật bắt buộc; hoặc
b) Khi có nghĩa vụ nợ liên đới, khi
sự kiện này (có thể là một hoạt động của doanh nghiệp) dẫn đến có ước tính đáng
tin cậy để bên thứ ba chắc chắn là doanh nghiệp sẽ thanh toán khoản nợ phải trả
đó.
15. Báo cáo tài chính chỉ liên quan
đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo và
không liên quan đến vấn đề tài chính có thể xảy ra trong tương lai. Vì vậy,
không cần phải ghi nhận bất kỳ một khoản dự phòng nào cho các khoản chi phí cần
thiết cho hoạt động trong tương lai. Các khoản nợ phải trả được ghi nhận trong
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp là những khoản nợ phải trả đã xác định
tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
16. Chỉ có những nghĩa vụ nợ phát
sinh từ các sự kiện đã xảy ra độc lập với các hoạt động trong tương lai của
doanh nghiệp mới được ghi nhận là các khoản dự phòng, ví dụ chi phí phạt hoặc
chi phí xử lý thiệt hại do vi phạm pháp luật về môi trường, đều làm giảm sút
các lợi ích kinh tế và tất yếu sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động trong tương lai
của doanh nghiệp. Tương tự, doanh nghiệp phải ghi nhận một khoản dự phòng cho
những chi phí, như chi phí tháo dỡ trang thiết bị khi di chuyển hoặc tái cơ cấu
doanh nghiệp. Các chi phí phát sinh do áp lực về thương mại hoặc quy định của
pháp luật mà doanh nghiệp dự định phải chi tiêu như trường hợp đặc biệt trong
tương lai thì không được lập dự phòng (Ví dụ: Lắp thêm các thiết bị lọc khói
cho một nhà máy). Các biện pháp dự định thực hiện trong tương lai của doanh
nghiệp có thể tránh được chi phí (Ví dụ: Doanh nghiệp dự định thay đổi phương
thức hoạt động), doanh nghiệp sẽ không phải chịu nghĩa vụ hiện tại cho các
khoản chi phí trong tương lai và cũng không phải ghi nhận bất kỳ một khoản dự
phòng nào.
17. Một khoản nợ phải trả thường liên
quan đến một bên đối tác có quyền lợi đối với khoản nợ đó. Tuy nhiên, cũng
không cần thiết phải xác định rõ bên có quyền lợi đối với khoản nợ đó, ví dụ
khoản nợ đối với cộng đồng. Một khoản nợ luôn gắn với các cam kết với bên đối
tác khác. Một quyết định của Ban Giám đốc không nhất thiết phát sinh nghĩa vụ
nợ liên đới tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, trừ khi quyết định này đã được
thông báo cụ thể và đầy đủ trước ngày kết thúc kỳ kế toán năm cho những đối
tượng sẽ được hưởng quyền lợi.
18. Một sự kiện không nhất thiết phát
sinh nghĩa vụ nợ ngay lập tức mà có thể sẽ phát sinh sau này do những thay đổi
về pháp luật hoặc do hoạt động của doanh nghiệp dẫn đến nghĩa vụ nợ liên đới.
Ví dụ: Khi xảy ra thiệt hại về môi trường có thể sẽ không phát sinh ra nghĩa vụ
nợ để giải quyết các hậu quả gây ra. Tuy nhiên, nguyên nhân gây ra thiệt hại sẽ
trở thành một sự kiện hiện tại khi có một quy định mới yêu cầu các thiệt hại
hiện tại phải được điều chỉnh hoặc khi doanh nghiệp công khai thừa nhận nghĩa
vụ của mình trong việc xử lý các thiệt hại đó như là nghĩa vụ nợ liên đới.
Sự giảm sút lợi ích kinh tế có thể
xảy ra
19. Điều kiện ghi nhận một khoản nợ
là khoản nợ đó phải là khoản nợ hiện tại và có khả năng làm giảm sút lợi ích
kinh tế do việc thanh toán khoản nợ đó. Theo quy định của chuẩn mực này, một
khoản nợ phải kèm theo sự giảm sút lợi ích kinh tế có khả năng xảy ra hơn là
không xảy ra. Khi không thể xác định được một nghĩa vụ nợ hiện tại, thì doanh
nghiệp phải thuyết minh một khoản nợ tiềm tàng, trừ khi khả năng giảm sút về
lợi ích kinh tế là khó có thể xảy ra theo quy định tại đoạn 81.
20. Khi có nhiều nghĩa vụ nợ tương tự
nhau (Ví dụ các giấy bảo hành sản phẩm hoặc các hợp đồng giống nhau) thì khả
năng giảm sút lợi ích kinh tế do việc thanh toán nghĩa vụ nợ được xác định
thông qua việc xem xét toàn bộ nhóm nghĩa vụ nói chung. Mặc dù việc giảm sút
lợi kinh tế do việc thanh toán từng nghĩa vụ nợ là rất nhỏ, nhưng hoàn toàn có
thể làm giảm sút lợi ích kinh tế do việc thanh toán toàn bộ nhóm nghĩa vụ đó.
Trường hợp này, cần ghi nhận một khoản dự phòng nếu thỏa mãn các điều kiện ghi
nhận khác.
Ước tính đáng tin cậy về nghĩa vụ nợ
phải trả
21. Việc sử dụng các ước tính là một
phần quan trọng của việc lập báo cáo tài chính và không làm mất đi độ tin cậy
của báo cáo tài chính. Điều này đặc biệt đúng với các khoản mục dự phòng mặc dù
xét về tính chất các khoản mục dự phòng không chắc chắn bằng các khoản mục khác
trong Bảng cân đối kế toán. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp phải
xác định đầy đủ các điều kiện để có thể ước tính nghĩa vụ nợ để ghi nhận một khoản
dự phòng.
22. Trong các trường hợp không thể
ước tính nghĩa vụ nợ một cách đáng tin cậy, thì khoản nợ hiện tại không được
ghi nhận, mà phải được trình bày như một khoản nợ tiềm tàng theo quy định tại
đoạn 81.
Nợ tiềm tàng
23. Doanh nghiệp không được ghi
nhận một khoản nợ tiềm tàng.
24. Khoản nợ tiềm tàng phải được
trình bày theo quy định tại đoạn 81, trừ khi xảy ra giảm sút lợi ích kinh tế
của doanh nghiệp.
25. Khi doanh nghiệp chịu nghĩa vụ
pháp lý chung hoặc riêng rẽ đối với một khoản nợ, thì phần nghĩa vụ dự tính
thuộc về các chủ thể khác được xem như một khoản nợ tiềm tàng. Doanh nghiệp
phải ghi nhận khoản dự phòng cho phần nghĩa vụ có thể xảy ra làm giảm sút lợi
ích kinh tế, trừ khi không đưa ra được cách ước tính đáng tin cậy.
26. Các khoản nợ tiềm tàng thường xảy
ra không theo dự tính ban đầu. Do đó chúng phải được ước tính thường xuyên để
xác định xem liệu sự giảm sút lợi ích kinh tế có xảy ra hay không. Nếu sự giảm
sút lợi ích kinh tế trong tương lai có thể xảy ra có liên quan đến một khoản mục
trước đây là một khoản nợ tiềm tàng, thì phải ghi nhận khoản dự phòng đó vào
báo cáo tài chính của kỳ kế toán có khả năng thay đổi ngoại trừ trường hợp
không đưa ra được cách ước tính đáng tin cậy.
Tài sản tiềm tàng
27. Doanh nghiệp không được ghi
nhận một tài sản tiềm tàng.
28. Tài sản tiềm tàng phát sinh từ
các sự kiện không có trong kế hoạch hoặc chưa được dự tính, dẫn đến khả năng có
thể thu được lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Ví dụ: một khoản được bồi thường
đang tiến hành các thủ tục pháp lý khi kết quả chưa chắc chắn.
29. Doanh nghiệp không được ghi nhận
tài sản tiềm tàng trên báo cáo tài chính vì điều này có thể dẫn đến việc ghi
nhận khoản thu nhập có thể không bao giờ thu được. Tuy nhiên, khi có khoản thu
nhập gần như chắc chắn thì tài sản liên quan đến nó không còn là tài sản tiềm
tàng và được ghi nhận vào báo cáo tài chính là hợp lý.
30. Khi có thể thu được lợi ích kinh
tế trong tương lai thì doanh nghiệp phải trình bày trong báo cáo tài chính một
tài sản tiềm tàng như quy định trong đoạn 84.
31. Tài sản tiềm tàng phải được đánh
giá thường xuyên để đảm bảo là đã được phản ánh một cách hợp lý trong Bản
thuyết minh báo cáo tài chính. Nếu doanh nghiệp gần như chắc chắn thu được lợi
ích kinh tế, thì tài sản và khoản thu nhập liên quan phải được ghi nhận trên
báo cáo tài chính của kỳ kế toán có khả năng thể xảy ra khoản thu nhập đó theo
quy định tại đoạn 84.
Xác định giá trị
Giá trị ước tính
hợp lý
32. Giá trị ghi nhận một khoản
dự phòng phải là giá trị được ước tính hợp lý nhất về khoản tiền sẽ phải chi để
thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
33. Giá trị ước tính hợp lý nhất về
khoản chi phí để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại là giá trị mà doanh nghiệp sẽ
phải thanh toán nghĩa vụ nợ hoặc chuyển nhượng cho bên thứ ba tại ngày kết thúc
kỳ kế toán năm. Thường là không thể bỏ ra chi phí rất cao để thanh toán hoặc
chuyển nhượng nghĩa vụ nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Tuy nhiên, cách ước
tính về giá trị mà doanh nghiệp phải suy tính để thanh toán hoặc chuyển nhượng
nghĩa vụ nợ sẽ đưa ra được giá trị ước tính đáng tin cậy nhất về chi phí sẽ
phải dùng để thanh toán nghĩa vụ hiện tại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
34. Cách ước tính về kết quả và ảnh
hưởng tài chính đều được xác định thông qua đánh giá của Ban giám đốc doanh nghiệp,
được bổ sung thông qua kinh nghiệm từ các hoạt động tương tự và các bản báo cáo
của các chuyên gia độc lập. Các căn cứ có thể dựa trên bao gồm cả các sự kiện
xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
35. Có nhiều phương pháp đánh giá để
ghi nhận giá trị các khoản mục không chắc chắn là một khoản dự phòng. Khi các
khoản dự phòng được đánh giá là có liên quan đến nhiều khoản mục, thì nghĩa vụ
nợ sẽ được tính theo tất cả các kết quả có thể thu được với các xác suất có thể
xảy ra (phương pháp giá trị ước tính). Do đó, khoản dự phòng sẽ phụ thuộc vào
xác suất phát sinh khoản lỗ đã ước tính là bao nhiêu, ví dụ: 60% hay 90%. Nếu
các kết quả ước tính đều tương đương nhau và liên tục trong một giới hạn nhất
định và mỗi điểm ở trong giới hạn đó đều có khả năng xảy ra như nhau thì sẽ
chọn điểm ở giữa trong giới hạn đó.
Ví dụ
Một doanh nghiệp bán hàng cho
khách hàng có kèm giấy bảo hành sửa chữa các hỏng hóc do lỗi sản xuất được phát
hiện trong vòng sáu tháng sau khi mua. Nếu tất cả các sản phẩm bán ra đều có
lỗi hỏng hóc nhỏ, thì tổng chi phí sửa chữa là 1 triệu đồng. Nếu tất cả các sản
phẩm bán ra đều có lỗi hỏng hóc lớn, thì tổng chi phí sửa chữa là 4 triệu đồng.
Kinh nghiệm cho thấy trong năm tới, 75% hàng hóa bán ra không bị hỏng hóc, 20%
hàng hóa bán ra sẽ hỏng hóc nhỏ và 5% hàng hóa bán ra sẽ có hỏng hóc lớn. Theo
quy định tại đoạn 20, doanh nghiệp phải đánh giá xác suất xảy ra cho từng mức
chi phí sửa chữa cho toàn bộ các nghĩa vụ bảo hành.
Giá trị ước tính chi phí sửa chữa
trong trường hợp trên sẽ là: (75% x 0) + (20% x 1 triệu) + (5% x 4 triệu) = 0,4
triệu đồng.
36. Khi đánh giá từng nghĩa vụ một
cách riêng rẽ, mỗi kết quả có nhiều khả năng xảy ra nhất sẽ là giá trị nợ phải
trả ước tính hợp lý nhất. Tuy nhiên, thậm chí trong trường hợp như thế, doanh
nghiệp cũng cần phải xét đến các kết quả khác nữa. Khi các kết quả khác hoặc là
hầu hết lớn hơn hoặc là hầu hết nhỏ hơn kết quả có nhiều khả năng xảy ra nhất,
thì giá trị ước tính đáng tin cậy nhất sẽ là giá trị cao hơn hoặc thấp hơn đó.
Ví dụ, doanh nghiệp buộc phải sửa chữa một hỏng hóc nghiêm trọng trong một
thiết bị lớn đã bán cho khách hàng, và kết quả có khả năng xảy ra nhất là sẽ
tốn 1 triệu đồng để sửa chữa thành công lần đầu, nhưng nếu có khả năng phải sửa
chữa các lần tiếp theo thì phải đưa ra một khoản dự phòng có giá trị lớn hơn.
37. Khoản dự phòng phải được ghi nhận
trước thuế, vì các ảnh hưởng về thuế của khoản dự phòng và những thay đổi trong
các kết quả đó đã được quy định trong Chuẩn mực kế toán số 17 “Thuế thu nhập
doanh nghiệp”.
Rủi ro và các yếu tố không chắc
chắn
38. Rủi ro và các yếu tố không
chắc chắn tồn tại xung quanh các sự kiện và các trường hợp phải được xem xét
khi xác định giá trị ước tính hợp lý nhất cho một khoản dự phòng.
39. Rủi ro thể hiện sự giảm sút kết
quả. Việc điều chỉnh rủi ro có thể làm tăng giá trị các khoản nợ đã được ghi
nhận. Doanh nghiệp cần phải thận trọng khi đưa ra những đánh giá trong các điều
kiện không chắc chắn để không làm sai lệch tăng thu nhập hay tài sản và cũng
không làm sai lệch giảm chi phí và các khoản nợ. Tuy nhiên, tình trạng không
chắc chắn không có nghĩa là tạo ra các khoản dự phòng quá mức hoặc khai khống
các khoản nợ một cách cố ý. Ví dụ: Nếu các khoản chi phí dự tính cho một rủi ro
nào đó được ước tính trên cơ sở thận trọng, thì không nên chủ quan xem kết quả
đó là có khả năng xảy ra hơn các trường hợp thực tế khác. Doanh nghiệp cần phải
chú ý để tránh các bước đánh giá trùng lặp đối với rủi ro và sự không chắc chắn
dẫn đến làm tăng các khoản dự phòng.
40. Việc thuyết minh yếu tố không
chắc chắn đối với giá trị của các khoản chi trả được quy định tại đoạn 80 (b).
Giá trị hiện tại
41. Nếu ảnh hưởng về giá trị
thời gian của tiền là trọng yếu, thì giá trị của một khoản dự phòng cần được
xác định là giá trị hiện tại của khoản chi phí dự tính để thanh toán nghĩa vụ
nợ.
42. Phụ thuộc vào giá trị thời gian
của tiền, các khoản dự phòng liên quan đến các luồng tiền ra phát sinh ngay sau
ngày kết thúc kỳ kế toán năm có giá trị thực cao hơn các khoản dự phòng có cùng
giá trị liên quan đến các luồng tiền ra phát sinh muộn hơn. Do đó các khoản dự
phòng đều phải được chiết khấu khi giá trị thời gian của tiền có ảnh hưởng
trọng yếu.
43. Tỷ lệ chiết khấu phải là tỷ
lệ trước thuế và phản ảnh rõ những ước tính trên thị trường hiện tại về giá trị
thời gian của tiền và rủi ro cụ thể của khoản nợ đó. Tỷ lệ chiết khấu không
được phản ánh rủi ro đã tính đến của giá trị ước tính luồng tiền trong tương
lai.
Các sự kiện xảy ra trong tương lai
44. Những sự kiện xảy ra trong
tương lai có thể ảnh hưởng đến giá trị đã ước tính để thanh toán nghĩa vụ nợ
thì phải được phản ánh vào giá trị của khoản dự phòng khi có đủ dấu hiệu cho
thấy các sự kiện đó sẽ xảy ra.
45. Những sự kiện dự tính sẽ xảy ra
trong tương lai có thể rất quan trọng khi đánh giá các khoản dự phòng. Ví dụ,
doanh nghiệp có thể cho rằng chi phí thanh lý tài sản vào cuối thời gian sử
dụng của tài sản sẽ giảm do những thay đổi về công nghệ trong tương lai. Giá
trị được ghi nhận đã phản ánh cách ước tính hợp lý của các nhà nghiên cứu có
trình độ kỹ thuật và khách quan có tính đến các bằng chứng về công nghệ tại
thời điểm thanh lý. Do vậy, việc giảm giá trị dự phòng bằng một khoản tương
đương với chi phí tiết kiệm được là hợp lý khi các khoản chi phí này được cắt giảm
do kinh nghiệm đã thu được khi áp dụng công nghệ hiện có của hoạt động thanh lý
có nhiều phức tạp hoặc có quy mô lớn hơn so với hoạt động đã tiến hành trước
đây. Tuy nhiên, doanh nghiệp khó có thể đoán trước được sự phát triển của kỹ
thuật công nghệ mới áp dụng cho việc thanh lý tài sản, trừ khi có đầy đủ bằng
chứng khách quan.
46. Khi đánh giá nghĩa vụ nợ phải xét
đến ảnh hưởng có thể xảy ra của các quy định mới nếu có đủ bằng chứng khách
quan cho thấy quy định này chắc chắn được thông qua. Do có nhiều trường hợp
phát sinh nên không thể xác định được từng sự kiện riêng biệt để đưa ra đầy đủ
bằng chứng khách quan cho mọi trường hợp. Bằng chứng được yêu cầu gồm cả quy
định cần phải áp dụng và xem xét quy định này có thông qua chắc chắn và được
đem ra áp dụng vào thời điểm thích hợp hay không. Trong một số trường hợp sẽ
không đưa ra được bằng chứng khách quan, đầy đủ cho đến khi quy định mới được
thông qua.
Thanh lý tài sản dự tính
47. Lãi từ hoạt động thanh lý
tài sản dự tính không được xét đến khi xác định giá trị của khoản dự phòng.
48. Không được tính các khoản lãi từ
hoạt động thanh lý tài sản khi xác định giá trị khoản dự phòng, ngay cả khi
hoạt động thanh lý dự tính gắn liền với sự kiện làm phát sinh khoản dự phòng
đó. Thay vào đó, doanh nghiệp phải ghi nhận các khoản lãi từ hoạt động thanh lý
tài sản đã dự tính tại thời điểm quy định trong các Chuẩn mực kế toán liên
quan.
Các khoản bồi hoàn
49. Khi một phần hay toàn bộ
chi phí để thanh toán một khoản dự phòng dự tính được bên khác bồi hoàn thì
khoản bồi hoàn này chỉ được ghi nhận khi doanh nghiệp chắc chắn sẽ nhận được
khoản bồi hoàn đó. Khoản bồi hoàn này phải được ghi nhận như một tài sản riêng
biệt. Giá trị ghi nhận của khoản bồi hoàn không được vượt quá giá trị khoản dự
phòng.
50. Trong Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, chi phí liên quan đến khoản dự phòng có thể được trình bày
theo giá trị sau khi trừ giá trị khoản bồi hoàn được ghi nhận.
51. Trong một số trường hợp, doanh
nghiệp có thể tìm kiếm một bên thứ ba để thanh toán một phần hay toàn bộ chi
phí cho khoản dự phòng (ví dụ, thông qua các hợp đồng bảo hiểm, các điều khoản
bồi thường hoặc các giấy bảo hành của nhà cung cấp). Bên thứ ba có thể thanh
toán trực tiếp hoặc hoàn trả lại các khoản doanh nghiệp đã thanh toán.
52. Hầu hết các trường hợp, doanh
nghiệp đều phải chịu và phải thanh toán toàn bộ các nghĩa vụ nợ nếu bên thứ ba
không có khả năng bồi hoàn do bất kỳ nguyên nhân nào. Trường hợp này, phải ghi
nhận khoản dự phòng cho toàn bộ giá trị của khoản nợ, và phải ghi nhận khoản
bồi hoàn đã dự tính là tài sản khi chắc chắn sẽ nhận được khoản bồi hoàn đó nếu
doanh nghiệp thanh toán khoản nợ.
53. Có trường hợp, doanh nghiệp không
phải chịu các khoản chi phí chưa rõ ràng nếu bên thứ ba không thực hiện thanh
toán. Trường hợp doanh nghiệp không phải chịu các khoản chi phí thì các khoản
chi phí này không được đưa vào khoản dự phòng.
54. Theo quy định trong đoạn 25, một
khoản nợ khi doanh nghiệp phải chịu nghĩa vụ pháp lý chung hoặc riêng sẽ được
ghi nhận là nợ tiềm tàng trong phạm vi dự tính nghĩa vụ sẽ được bên thứ ba
thanh toán.
Thay đổi các khoản dự phòng
55. Các khoản dự phòng phải
được xem xét lại và điều chỉnh tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm để phản ánh ước
tính hợp lý nhất ở thời điểm hiện tại. Nếu doanh nghiệp chắc chắn không phải
chịu sự giảm sút về lợi ích kinh tế do không phải chi trả nghĩa vụ nợ thì khoản
dự phòng đó phải được hoàn nhập.
56. Khi sử dụng phương pháp chiết
khấu, giá trị ghi sổ của một khoản dự phòng tăng lên trong mỗi kỳ kế toán năm
để phản ánh ảnh hưởng của yếu tố thời gian. Phần giá trị tăng lên này phải được
ghi nhận là chi phí đi vay.
Sử dụng các khoản dự phòng
57. Chỉ nên sử dụng một khoản
dự phòng cho những chi phí mà khoản dự phòng đó đã được lập từ ban đầu.
58. Chỉ những khoản chi phí liên quan
đến khoản dự phòng đã được lập ban đầu mới được bù đắp bằng khoản dự phòng đó.
Việc sử dụng khoản dự phòng cho các chi phí không liên quan đến khoản dự phòng
đó hoặc cho các chi phí liên quan đến khoản dự phòng được lập cho mục đích khác
có thể không thể hiện ảnh hưởng của hai sự kiện khác nhau.
Áp dụng nguyên
tắc ghi nhận và xác định giá trị
Các khoản lỗ hoạt động trong tương
lai
59. Doanh nghiệp không được ghi
nhận khoản dự phòng cho các khoản lỗ hoạt động trong tương lai.
60. Khoản lỗ hoạt động trong tương
lai là khoản không thỏa mãn định nghĩa về một khoản nợ phải trả quy định trong
đoạn 07 và điều kiện ghi nhận các khoản dự phòng ở đoạn 11.
61. Mỗi ước tính về khoản lỗ hoạt
động xảy ra trong tương lai đều là dấu hiệu về sự tổn thất của một số tài sản
dùng trong kinh doanh. Doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra việc tổn thất đối
với những tài sản này.
Các hợp đồng có rủi ro lớn
62. Nếu doanh nghiệp có hợp
đồng có rủi ro lớn, thì nghĩa vụ nợ hiện tại theo hợp đồng phải được ghi nhận
và đánh giá như một khoản dự phòng.
63. Nhiều hợp đồng (Ví dụ: Đơn mua
hàng thường xuyên) có thể bị hủy bỏ mà không phải thanh toán bồi thường, tức là
không phát sinh nghĩa vụ nợ. Các hợp đồng có quy định rõ quyền và nghĩa vụ đối
với từng bên tham gia ký kết hợp đồng thì khi phát sinh sự kiện rủi ro, hợp
đồng đó sẽ thuộc phạm vi chi phối của chuẩn mực này và khoản nợ phải trả phát
sinh được ghi nhận. Những hợp đồng thông thường mà không có rủi ro lớn thì
không thuộc phạm vi áp dụng của chuẩn mực này.
64. Chuẩn mực này quy định hợp đồng
có rủi ro lớn là hợp đồng mà trong đó, chi phí bắt buộc phải trả cho các nghĩa
vụ liên quan đến hợp đồng vượt quá lợi ích kinh tế dự tính thu được từ hợp đồng
đó. Các chi phí bắt buộc phải trả theo điều khoản của hợp đồng phản ánh chi phí
thấp nhất nếu từ bỏ hợp đồng. Mức chi phí đó sẽ thấp hơn mức chi phí để thực
hiện hợp đồng, kể cả các khoản bồi thường hoặc đền bù phát sinh do việc không
thực hiện được hợp đồng.
65. Trước khi lập một khoản dự phòng
riêng biệt cho một hợp đồng có rủi ro lớn, doanh nghiệp phải ghi nhận bất kỳ sự
giảm sút giá trị nào của tài sản có liên quan đến hợp đồng đó.
Tái cơ cấu doanh nghiệp
66. Ví dụ về những sự kiện nằm trong
định nghĩa về "tái cơ cấu doanh nghiệp":
a) Bán hoặc chấm dứt một dây chuyền
sản xuất sản phẩm;
b) Đóng cửa cơ sở kinh doanh ở một
địa phương, một quốc gia khác hoặc chuyển đổi hoạt động kinh doanh từ địa
phương này, quốc gia này sang một địa phương hoặc một quốc gia khác;
c) Thay đổi cơ cấu bộ máy quản lý, ví
dụ loại bỏ một cấp quản lý;
d) Hoạt động tái cơ cấu cơ bản sẽ gây
ra tác động lớn đến bản chất và mục tiêu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
67. Khoản dự phòng cho chi phí tái cơ
cấu doanh nghiệp chỉ được ghi nhận khi các điều kiện chung đối với khoản dự
phòng như quy định trong đoạn 11 được thỏa mãn. Các đoạn 69 - 78 chỉ rõ làm thế
nào để áp dụng các điều kiện chung cho hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp.
68. Khi tiến hành tái cơ cấu
doanh nghiệp thì nghĩa vụ liên đới chỉ phát sinh khi:
a) Có kế hoạch chính thức, cụ
thể để xác định rõ việc tái cơ cấu doanh nghiệp, trong đó phải thỏa mãn ít nhất
5 nội dung sau:
(i) Thay đổi toàn bộ hoặc một
phần hoạt động kinh doanh;
(ii) Các vị trí quan trọng bị
ảnh hưởng;
(iii) Vị trí, nhiệm vụ và số
lượng nhân viên ước tính sẽ được nhận bồi thường khi họ buộc phải thôi việc;
(iv) Các khoản chi phí sẽ phải
chi trả; và
(v) Khi kế hoạch được thực
hiện.
b) Đưa danh sách chủ thể chắc
chắn bị ảnh hưởng; thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc thông báo các vấn đề quan
trọng đến những chủ thể bị ảnh hưởng của việc tái cơ cấu.
69. Bằng chứng cho thấy doanh nghiệp
đã tiến hành kế hoạch tái cơ cấu. Ví dụ: Tháo dỡ nhà xưởng, bán tài sản hoặc
thông báo công khai về những vấn đề quan trọng của kế hoạch. Thông báo công
khai về một kế hoạch tái cơ cấu cụ thể sẽ dẫn đến một nghĩa vụ nợ pháp lý khi
kế hoạch đó được thực hiện theo dự tính và đầy đủ chi tiết (tức là phải chỉ rõ
những vấn đề quan trọng của kế hoạch) từ đó đưa ra dự tính chắc chắn về những
chủ thể có liên quan như khách hàng, các nhà cung cấp, các nhân viên (hoặc
những người đại diện cho họ) để doanh nghiệp có thể tiến hành tái cơ cấu.
70. Để kế hoạch có đủ chi tiết liên
quan đến nghĩa vụ nợ khi thông báo đến những đối tượng bị ảnh hưởng, thì phải
lập và thực hiện kế hoạch càng sớm càng tốt, phải hoàn tất kế hoạch trong
khoảng thời gian dự tính. Nếu doanh nghiệp dự tính vẫn còn một khoảng thời gian
dài trước khi tiến hành tái cơ cấu hoặc quá trình tái cơ cấu phải mất một thời
gian dài bất hợp lý, thì không thể chắc chắn là kế hoạch sẽ được thực hiện đúng
thời gian cho phép.
71. Nếu quyết định tái cơ cấu của Ban
Giám đốc đưa ra trước ngày kết thúc kỳ kế toán năm thì không dẫn đến nghĩa vụ
nợ liên đới tại ngày đó, trừ khi trước ngày kết thúc kỳ kế toán năm doanh
nghiệp đã:
a) Bắt đầu thực hiện kế hoạch tái cơ
cấu; hoặc
b) Thông báo những vấn đề quan trọng
của kế hoạch tái cơ cấu cho những đối tượng bị ảnh hưởng theo một cách cụ thể,
đầy đủ để họ có được dự tính chắc chắn về việc doanh nghiệp sẽ tiến hành tái cơ
cấu.
Nếu doanh nghiệp bắt đầu thực hiện kế
hoạch tái cơ cấu, hoặc thông báo những vấn đề quan trọng của kế hoạch đó tới
những đối tượng bị ảnh hưởng sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm thì việc trình
bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính được thực hiện theo quy định tại
Chuẩn mực kế toán số 23 “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán
năm”. Nếu việc tái cơ cấu là trọng yếu mà không được trình bày trong báo cáo
tài chính thì có thể ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định kinh tế của người sử
dụng báo cáo tài chính.
72. Nghĩa vụ nợ liên đới không chỉ
được tạo ra từ quyết định của Ban Giám đốc. Nghĩa vụ nợ liên đới có thể là kết
quả của các sự kiện đã xảy ra: Ví dụ, thỏa thuận với đại diện của người làm
công về các khoản thanh toán khi họ thôi việc, hoặc thỏa thuận với người mua
khi nhượng bán một bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp. Một khi đã đạt được sự
chấp thuận có thể đã được kết luận chỉ chờ chấp thuận của Hội đồng quản trị và
được thông báo đến chủ thể đối tác thì lúc đó doanh nghiệp có nghĩa vụ thực
hiện tái cơ cấu nếu thỏa mãn các điều kiện quy định tại đoạn 68.
73. Không có nghĩa vụ nợ phát
sinh cho tới khi doanh nghiệp ký cam kết nhượng bán, tức là khi doanh nghiệp có
hợp đồng nhượng bán hiện tại.
74. Khi doanh nghiệp quyết định
nhượng bán một bộ phận kinh doanh và thông báo công khai quyết định đó, thì vẫn
chưa được coi là cam kết cho đến khi xác định được người mua và hợp đồng nhượng
bán được ký kết. Từ khi quyết định đến khi ký kết hợp đồng nhượng bán ràng
buộc, doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện các hoạt động khác nếu không tìm được
người mua với điều khoản phù hợp. Khi công việc nhượng bán một bộ phận kinh
doanh chỉ là một phần của việc tái cơ cấu, thì tài sản hoạt động phải được xem
xét lại xem có tổn thất không và nghĩa vụ nợ liên đới có thể phát sinh từ các
phần khác của việc tái cơ cấu trước khi một hợp đồng hiện tại được ký kết.
75. Một khoản dự phòng cho việc
tái cơ cấu chỉ được dự tính cho những chi phí trực tiếp phát sinh từ hoạt động
tái cơ cấu, đó là những chi phí thỏa mãn cả hai điều kiện:
a) Cần phải có cho hoạt động
tái cơ cấu; và
b) Không liên quan đến hoạt
động thường xuyên của doanh nghiệp.
76. Một khoản dự phòng cho việc tái
cơ cấu không bao gồm các chi phí như:
a) Đào tạo lại hoặc thuyên chuyển
nhân viên hiện có;
b) Tiếp thị; hoặc
c) Đầu tư vào những hệ thống mới và
các mạng lưới phân phối.
Những chi phí này liên quan đến hoạt
động trong tương lai của doanh nghiệp và không phải là các khoản nợ phải trả
cho việc tái cơ cấu tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Các chi phí này phải được
ghi nhận theo nguyên tắc ghi nhận các chi phí không liên quan tới việc tái cơ
cấu.
77. Những khoản lỗ từ hoạt động kinh
doanh trong tương lai có thể xác định được tính đến ngày tái cơ cấu thì không
được bao gồm trong khoản dự phòng, trừ khi chúng liên quan đến một hợp đồng có
rủi ro lớn như đã quy định trong đoạn 07.
78. Lãi dự tính thu được từ hoạt động
thanh lý tài sản, ngay cả khi việc thanh lý tài sản được xem như một phần của
hoạt động tái cơ cấu, không được xét đến khi xác định mức dự phòng cho việc tái
cơ cấu, như đã quy định trong đoạn 47.
Trình bày báo cáo tài chính
79. Doanh nghiệp phải trình bày
trong báo cáo tài chính từng loại dự phòng theo các khoản mục:
a) Số dư đầu kỳ và cuối kỳ;
b) Số dự phòng tăng do các
khoản dự phòng trích lập bổ sung trong kỳ, kể cả việc tăng các khoản dự phòng
hiện có;
c) Số dự phòng giảm trong kỳ do
phát sinh các khoản chi phí liên quan đến khoản dự phòng đó đã được lập từ ban
đầu;
d) Số dự phòng không sử dụng
đến được ghi giảm (hoàn nhập) trong kỳ; và
e) Số dự phòng tăng trong kỳ do
giá trị hiện tại của khoản dự phòng tăng lên theo thời gian và do ảnh hưởng của
việc thay đổi tỷ lệ chiết khấu dòng tiền.
Doanh nghiệp không phải trình
bày thông tin so sánh về các khoản dự phòng.
80. Đối với mỗi loại dự phòng
có giá trị trọng yếu, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin sau:
a) Tóm tắt bản chất của nghĩa vụ
nợ và thời gian chi trả dự tính;
b) Dấu hiệu cho thấy có sự
không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian của các khoản chi trả. Khi cần đưa ra
thông tin đầy đủ thì doanh nghiệp phải trình bày những giả định chính liên quan
đến các sự kiện xảy ra trong tương lai, như đã quy định trong đoạn 44; và
c) Giá trị của khoản bồi hoàn
dự tính nhận được nếu giá trị của tài sản đã được ghi nhận liên quan đến khoản
bồi hoàn dự tính đó.
81. Trừ khi khó xảy ra khả năng
phải chi trả, doanh nghiệp phải trình bày tóm tắt bản chất của khoản nợ tiềm
tàng tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm cùng với các thông tin sau:
a) Ước tính về ảnh hưởng tài
chính của khoản nợ tiềm tàng này theo quy định ở các đoạn 32 - 48;
b) Dấu hiệu không chắc chắn
liên quan đến giá trị hoặc thời gian của các khoản chi trả có thể xảy ra; và
c) Khả năng nhận được các khoản
bồi hoàn.
82. Khi xác định các khoản dự phòng
hoặc các khoản nợ tiềm tàng có thể tập hợp thành một loại để trình bày báo cáo
tài chính thì cần phải cân nhắc xem liệu bản chất của các khoản mục đó có tương
đồng với nhau đủ để trình bày chung trong một khoản mục trên báo cáo mà vẫn
thỏa mãn quy định ở các đoạn 80 (a), (b) và 81 (a), (b). Ví dụ, hoàn toàn có
thể nhóm chung các khoản dự phòng liên quan đến việc bảo hành các sản phẩm khác
nhau, nhưng lại không thể nhóm chung dự phòng bảo hành thông thường và các
khoản phải trả liên quan đến vụ kiện.
83. Khi một khoản dự phòng và một
khoản nợ tiềm tàng phát sinh từ cùng một tình huống thì doanh nghiệp phải trình
bày theo quy định ở đoạn 79 - 81 đồng thời chỉ rõ mối liên hệ giữa khoản dự
phòng và nợ tiềm tàng đó.
84. Khi có thể thu được một số
lợi ích kinh tế thì doanh nghiệp phải trình bày tóm tắt về bản chất của các tài
sản tiềm tàng tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, và khi có thể, trình bày ước
tính về ảnh hưởng tài chính của chúng theo các nguyên tắc đã quy định tại đoạn
32 - 48 đối với các khoản dự phòng.
85. Việc trình bày các tài sản tiềm
tàng trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính phải tránh đưa ra các dấu hiệu sai
lệch về khả năng có thể xảy ra khoản thu nhập phát sinh.
86. Nếu không thể trình bày
được thông tin nào quy định trong đoạn 81 và 84, doanh nghiệp phải nêu rõ trong
Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
87. Trong một số trường hợp,
việc trình bày một số hay toàn bộ các thông tin như quy định trong các đoạn 79
- 84 có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vị thế của doanh nghiệp trong việc
tranh chấp với các chủ thể khác liên quan đến nội dung của khoản dự phòng, tài
sản và nợ tiềm tàng thì doanh nghiệp phải trình bày bản chất chung của vấn đề
đang tranh chấp và lý do không trình bày những thông tin này./.
Chuẩn
mực số 19
HỢP
ĐỒNG BẢO HIỂM
(Ban
hành và công bố theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính)
QUY ĐỊNH
CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực này là quy định
và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp đánh giá và ghi nhận các yếu tố của
hợp đồng bảo hiểm trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, gồm:
a) Phương pháp kế toán hợp đồng bảo
hiểm trong các doanh nghiệp bảo hiểm;
b) Trình bày và giải thích số liệu
trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng bảo
hiểm.
02. Chuẩn mực này áp dụng đối với:
a) Kế toán hợp đồng bảo hiểm (bao gồm
cả hợp đồng nhận tái và nhượng tái bảo hiểm);
b) Các công cụ tài chính với đặc điểm
là có phần không đảm bảo gắn liền với Hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo
hiểm phát hành.
03. Chuẩn mực này không áp dụng cho kế
toán các hoạt động khác của doanh nghiệp bảo hiểm, như: Kế toán tài sản tài
chính do các doanh nghiệp bảo hiểm sở hữu và kế toán các công cụ nợ tài chính
do các doanh nghiệp bảo hiểm phát hành nhưng không gắn liền với hợp đồng bảo
hiểm.
04. Chuẩn mực này không áp dụng đối với:
a) Giấy bảo hành sản phẩm, hàng hóa;
b) Tài sản và các khoản nợ phải trả
cho người lao động;
c) Các quyền và nghĩa vụ mang tính
hợp đồng liên quan đến việc sử dụng hoặc quyền được sử dụng trong tương lai một
khoản phi tài chính (Ví dụ: Phí đăng ký, phí bản quyền, tiền chi trả hợp đồng
phát sinh đột xuất và các khoản tương tự khác), cũng như đảm bảo giá trị còn
lại của bên thuê trong một hợp đồng thuê tài chính (quy định tại Chuẩn mực kế
toán số 06 - "Thuê tài sản"; Chuẩn mực kế toán số 14 - "Doanh
thu và thu nhập khác" và Chuẩn mực kế toán số 04 - "TSCĐ vô
hình");
d) Các cam kết bảo lãnh tài chính do
doanh nghiệp cam kết thực hiện hoặc giữ lại để chuyển giao cho một bên khác về
tài sản tài chính hoặc công cụ nợ tài chính thuộc phạm vi điều chỉnh của chuẩn
mực kế toán "Công cụ tài chính" (Các cam kết tài chính có thể được
thể hiện dưới các hình thức như: Các bảo đảm tài chính, thư tín dụng);
e) Các khoản phải thu hay phải trả
tiềm tàng trong hoạt động hợp nhất kinh doanh (quy định tại Chuẩn mực kế toán
số 11 - Hợp nhất kinh doanh);
f) Các hợp đồng bảo hiểm gốc mà doanh
nghiệp bảo hiểm là bên mua bảo hiểm.
05. Các thuật ngữ trong chuẩn mực
này được hiểu như sau:
Doanh nghiệp bảo hiểm: Là bên tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm, có nghĩa vụ phải trả tiền
bồi thường cho chủ hợp đồng theo quy định của hợp đồng trong trường hợp có sự
kiện được bảo hiểm xảy ra.
Hợp đồng bảo hiểm: Là một hợp đồng mà doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận một khoản tiền
(gọi là phí bảo hiểm) và chấp nhận rủi ro bảo hiểm trọng yếu từ khách hàng (chủ
hợp đồng) bằng các thỏa thuận bồi thường cho chủ hợp đồng nếu có sự kiện xảy ra
trong tương lai gây tổn thất tới chủ hợp đồng.
Hợp đồng bảo hiểm gốc: Là hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm ký trực tiếp với tổ
chức, cá nhân mua bảo hiểm mà không phải là hợp đồng tái bảo hiểm.
Chủ hợp đồng: Là bên có quyền được nhận khoản bồi thường theo quy định tại hợp đồng
bảo hiểm trong trường hợp một sự kiện được bảo hiểm xảy ra.
Hợp đồng tái bảo hiểm: Là hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm phát hành để
bồi thường cho doanh nghiệp nhượng tái đối với những tổn thất của một hay nhiều
hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp nhượng tái phát hành.
Doanh nghiệp nhượng tái bảo
hiểm: Là doanh nghiệp bảo hiểm gốc chuyển giao
rủi ro bằng hình thức tái bảo hiểm.
Rủi ro bảo hiểm: Là những rủi ro ngoài rủi ro tài chính được chuyển từ chủ hợp đồng bảo
hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm.
Khoản nợ bảo hiểm: Là các nghĩa vụ thuần theo hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp bảo
hiểm.
Tài sản bảo hiểm: Là giá trị quyền thuần theo hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp bảo
hiểm.
Khoản đặt cọc: Là một phần của hợp đồng nhưng không được hạch toán là công cụ phái
sinh theo quy định của chuẩn mực kế toán "Công cụ tài chính" và sẽ
thuộc phạm vi của chuẩn mực kế toán "Công cụ tài chính" nếu nó là một
công cụ riêng biệt.
Các nhân tố được đảm bảo: Là nghĩa vụ phải trả các lợi ích được đảm bảo, đã ghi trong nội dung
hợp đồng.
Các lợi ích được đảm bảo: Là các khoản thanh toán hoặc các lợi ích khác mà chủ hợp đồng hay nhà
đầu tư được hưởng một cách vô điều kiện mà theo hợp đồng không nằm trong quyền
quyết định của doanh nghiệp bảo hiểm.
Tài sản tái bảo hiểm: Là quyền thuần theo hợp đồng của nhà nhượng tái trong hợp đồng tái bảo
hiểm.
Phần không đảm bảo: Là một quyền dựa trên hợp đồng để nhận một số các lợi ích như một
phần bổ sung cho các lợi ích được đảm bảo:
a) Các lợi ích này phải là một phần
đáng kể của toàn bộ lợi ích thỏa thuận trong hợp đồng;
b) Giá trị và thời điểm nhận được
các lợi ích này theo hợp đồng tùy thuộc vào ý muốn của bên phát hành; và
c) Các lợi ích theo hợp đồng này
dựa trên:
(i) Mức độ hiệu quả của một nhóm
các hợp đồng cụ thể hoặc của một loại hợp đồng cụ thể;
(ii) Lãi từ những khoản đầu tư đã
hoặc chưa thực hiện từ một nhóm tài sản cụ thể do bên phát hành sở hữu; hoặc
(iii) Lợi nhuận hay số thua lỗ của
một công ty, một quỹ hay bất kỳ một đơn vị nào khác phát hành hợp đồng.
Công khai: Là việc hạch toán và có thể cung cấp thông tin về các bộ phận của một
hợp đồng nếu chúng là những hợp đồng riêng rẽ.
Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ được thanh
toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá.
Rủi ro tài chính: Là rủi ro xảy ra khi có sự thay đổi trong tương lai của một hay các
yếu tố như: Lãi suất, giá của công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái,
chỉ số giá cả, tỷ suất tín dụng, chỉ số tín dụng hoặc các biến số khác, kể cả
các biến số phi tài chính mà các biến số này không được quy định cụ thể trong
hợp đồng.
Công cụ tài chính: Là một hợp đồng trong đó một doanh nghiệp trong hợp đồng tạo ra một
tài sản tài chính, đồng thời một doanh nghiệp khác trong hợp đồng lại tạo ra
một khoản nợ tài chính hay một công cụ vốn tự có.
Công cụ phái sinh: Là công cụ tài chính mà giá trị của nó thay đổi do có sự thay đổi của
một đối tượng cơ sở, đối tượng này không đòi hỏi hay chỉ đòi hỏi một khoản đầu
tư ròng ban đầu rất nhỏ so với các hợp đồng khác, và sẽ được thanh toán vào một
thời điểm trong tương lai.
Các sự kiện được bảo hiểm: Là những sự kiện có thể xảy ra rủi ro trong tương lai được ghi trong
hợp đồng bảo hiểm.
Kiểm tra tính đầy đủ của khoản
nợ: Là việc đánh giá nhằm xác định xem giá trị
ghi sổ của một khoản nợ bảo hiểm có cần phải được tăng lên hay không (hoặc giá
trị ghi sổ của những chi phí khai thác chờ phân bổ hoặc những tài sản vô hình
có liên quan có cần phải được giảm đi hay không) dựa trên việc xem xét các dòng
tiền trong tương lai.
NỘI DUNG
CHUẨN MỰC
Công cụ phái
sinh
06. Chuẩn mực kế toán "Công cụ
tài chính" quy định các doanh nghiệp phải tách và xác định công cụ phái
sinh từ hợp đồng bảo hiểm gốc theo giá trị hợp lý, và ghi nhận những khoản
chênh lệch do thay đổi giá trị hợp lý vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
năm tài chính. Chuẩn mực kế toán "Công cụ tài chính" áp dụng cho các
công cụ phái sinh gắn liền với một hợp đồng bảo hiểm cụ thể, trừ khi chính công
cụ phái sinh này là một hợp đồng bảo hiểm.
07. Chuẩn mực kế toán "Công cụ
tài chính" quy định trường hợp ngoại lệ là: Doanh nghiệp bảo hiểm không
cần phải tách công cụ phái sinh từ hợp đồng bảo hiểm gốc và xác định giá trị
hợp lý của giá hoàn lại khi bên mua bảo hiểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm (đây là
khoản cố định hoặc là khoản cố định gộp với một khoản lãi nào đó), thậm chí giá
trị hiện tại của khoản nợ bảo hiểm khác với giá trị ghi sổ của nó. Tuy nhiên,
chuẩn mực kế toán "Công cụ tài chính" áp dụng cho quyền chọn và chấm
dứt hợp đồng bảo hiểm nếu nhận giá trị hoàn lại gắn liền trong hợp đồng bảo
hiểm và giá trị hoàn lại này dao động theo sự thay đổi của biến số tài chính
(Ví dụ: Chỉ số chứng khoán, giá cả hàng hóa hay chỉ số giá cả), hoặc do sự thay
đổi của biến số phi tài chính mà không phải do bất kỳ một bên nào trong hợp
đồng. Quy định này cũng áp dụng đối với khả năng thực hiện quyền chọn hoặc
quyền chấm dứt hợp đồng do sự thay đổi của các biến số trên (Ví dụ: Quyền chọn
bán có thể thực hiện được nếu có một chỉ số chứng khoán đạt được một mức độ cụ
thể nào đó).
08. Đoạn 07 có thể áp dụng đối với
quyền chấm dứt một công cụ tài chính có đặc điểm không đảm bảo.
Công khai khoản
tiền đặt cọc
09. Một số hợp đồng bảo hiểm bao gồm
cả phần bảo hiểm và phần đặt cọc, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền lựa chọn công
khai hay không công khai khoản tiền đặt cọc theo quy định sau:
a) Khoản tiền đặt cọc phải công khai
nếu thỏa mãn cả hai điều kiện sau:
(i) Doanh nghiệp bảo hiểm có thể xác
định riêng rẽ được khoản tiền đặt cọc bao gồm bất kỳ quyền chấm dứt nào đi kèm
và không xét đến phần bảo hiểm;
(ii) Chính sách kế toán của doanh
nghiệp bảo hiểm không yêu cầu phải ghi nhận tất cả quyền và nghĩa vụ phát sinh
từ khoản tiền đặt cọc này như ví dụ tại đoạn 10.
b) Không bắt buộc phải công khai
trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm xác định được khoản tiền đặt cọc một
cách riêng rẽ như quy định tại điểm (a/i) nhưng chính sách kế toán đòi hỏi
doanh nghiệp bảo hiểm phải ghi nhận tất cả các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ
khoản tiền đặt cọc, không tính đến cơ sở được sử dụng để tính toán những quyền
và nghĩa vụ đó.
c) Không phải công khai trong trường
hợp doanh nghiệp bảo hiểm không thể xác định được khoản tiền đặt cọc một cách
riêng rẽ như quy định tại điểm (a/i).
10. Ví dụ trường hợp các chính sách
kế toán của doanh nghiệp bảo hiểm không yêu cầu phải ghi nhận tất cả nghĩa vụ
phát sinh từ khoản tiền đặt cọc:
Doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm nhận
khoản tiền đặt cọc để thanh toán tổn thất trong tương lai từ các doanh nghiệp
nhận tái bảo hiểm nhưng theo hợp đồng thì doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm phải
có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền đặt cọc này trong những năm tới. Nếu chính
sách kế toán của doanh nghiệp nhượng tái cho phép họ ghi nhận khoản đặt cọc này
là thu nhập, mà không ghi nhận là khoản phải trả thì bắt buộc phải công khai.
11. Để đáp ứng yêu cầu công khai báo
cáo tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phải áp dụng:
a) Chuẩn mực này đối với phần bảo
hiểm;
b) Chuẩn mực "Công cụ tài
chính" đối với khoản tiền đặt cọc.
Đánh giá và ghi
nhận
Áp dụng chính
sách kế toán
12. Doanh nghiệp bảo hiểm phải áp
dụng các chính sách kế toán:
a) Không được trích lập và ghi nhận
khoản dự phòng để bồi thường trong tương lai, nếu các yêu cầu đòi bồi thường
phát sinh từ các hợp đồng này không tồn tại tại thời điểm khóa sổ lập báo cáo
tài chính (Ví dụ: Dự phòng dao động lớn hay dự phòng đảm bảo cân đối);
b) Phải kiểm tra tính đầy đủ của các
khoản nợ phải trả quy định trong đoạn 13-17.
c) Xóa bỏ một khoản nợ bảo hiểm (hoặc
một phần của khoản nợ bảo hiểm) ra khỏi Bảng cân đối kế toán khi nó đã được
thanh toán, được hủy bỏ hay hết hạn.
d) Doanh nghiệp bảo hiểm không được
bù trừ:
(i) Các tài sản tái bảo hiểm với các
khoản nợ bảo hiểm liên quan; hoặc
(ii) Thu nhập hay chi phí của những
hợp đồng tái bảo hiểm với các chi phí hay thu nhập của các hợp đồng bảo hiểm
liên quan;
đ) Cần phải xem xét, đánh giá mức độ
giảm giá của các tài sản tái bảo hiểm như quy định tại đoạn 18.
Kiểm tra tính
đầy đủ của các khoản nợ bảo hiểm
13. Tại thời điểm khóa sổ lập báo
cáo tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giá việc ghi nhận các khoản nợ
bảo hiểm đã đầy đủ hay chưa, bằng cách ước tính giá trị hiện tại của các luồng
tiền phát sinh trong tương lai theo quy định trong hợp đồng bảo hiểm. Nếu đánh
giá đó cho thấy giá trị ghi sổ của những khoản nợ bảo hiểm (sau khi trừ đi những
chi phí khai thác chờ phân bổ và các tài sản vô hình có liên quan như quy định
trong đoạn 27 và 28) là không đủ so với các luồng tiền ước tính trong tương
lai, thì toàn bộ số thiếu hụt này sẽ được phản ánh vào Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh.
14. Doanh nghiệp bảo hiểm phải kiểm
tra tính đầy đủ của các khoản nợ bảo hiểm xem có thỏa mãn những yêu cầu tối
thiểu dưới đây hay không:
a) Kiểm tra, xem xét các ước tính
hiện tại của tất cả các luồng tiền theo hợp đồng và các luồng tiền có liên quan
(các chi phí giải quyết khiếu nại) cũng như các luồng tiền phát sinh từ những
quyền lựa chọn và đảm bảo đi kèm.
b) Nếu qua kiểm tra cho thấy việc
tính toán các khoản nợ là không đầy đủ thì toàn bộ số thiếu hụt này sẽ được
hạch toán vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Khi lập báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh nộp cho cơ quan quản lý bảo hiểm (Bộ Tài chính), các doanh nghiệp
bảo hiểm phải tuân theo quy định của các cơ chế tài chính đối với chi phí khai
thác.
15. Trường hợp chính sách kế toán của
doanh nghiệp bảo hiểm không quy định phải kiểm tra tính đầy đủ của khoản nợ xem
có thỏa mãn những yêu cầu tối thiểu trong đoạn 14 hay không, doanh nghiệp bảo
hiểm phải:
a) Xác định khoản chênh lệch giữa giá
trị ghi sổ của các khoản nợ bảo hiểm tương ứng với giá trị ghi sổ của:
(i) Những chi phí khai thác có liên
quan chờ phân bổ; và
(ii) Bất kì một tài sản vô hình nào
có liên quan như các tài sản có được từ hợp nhất doanh nghiệp hay chuyển nhượng
hợp đồng bảo hiểm như quy định tại đoạn 27 và 28. Tuy nhiên, các tài sản tái
bảo hiểm liên quan không được xem xét vì chúng đã được hạch toán một cách riêng
rẽ như quy định tại đoạn 18.
b) Xác định xem số liệu được nêu
trong đoạn (a) có thấp hơn giá trị ghi sổ của nó hay không, nếu các khoản nợ
bảo hiểm tương ứng thuộc phạm vi của Chuẩn mực kế toán "Các khoản dự
phòng, tài sản và nợ tiềm tàng". Trường hợp phát sinh chênh lệch nhỏ hơn,
doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải ghi nhận toàn bộ khoản chênh lệch đó vào Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh và ghi giảm giá trị ghi sổ của những chi phí khai
thác hợp đồng chờ phân bổ hoặc các tài sản vô hình có liên quan hoặc ghi tăng
giá trị ghi sổ của những khoản nợ bảo hiểm tương ứng.
16. Nếu việc kiểm tra tính đầy đủ của
khoản nợ bảo hiểm thỏa mãn được những yêu cầu tối thiểu quy định tại đoạn 14 thì
việc kiểm tra sẽ được áp dụng ở mức độ tổng thể. Ngược lại nếu việc kiểm tra
tính đầy đủ của khoản nợ bảo hiểm không thỏa mãn những yêu cầu tối thiểu, thì
cách tính trong đoạn 15 được sử dụng ở mức độ của từng nhóm hợp đồng có mức độ
rủi ro tương tự và coi như một nhóm danh mục đơn lẻ.
17. Số liệu tính được theo quy định
tại đoạn 15(b) (Ví dụ: Kết quả của việc áp dụng Chuẩn mực "Các khoản dự
phòng, tài sản và nợ tiềm tàng") sẽ phản ảnh tỷ suất lợi nhuận đầu tư
trong tương lai như quy định tại đoạn 24 - 26 khi số liệu tính được theo quy
định tại đoạn 15(a) cũng phản ánh những tỷ suất lợi nhuận đó.
Sự giảm giá trị
của các tài sản tái bảo hiểm
18. Nếu như các tài sản tái bảo hiểm
của doanh nghiệp nhượng tái bị giảm giá trị thì có thể giảm giá trị ghi sổ một
cách thích hợp và ghi nhận sự giảm giá trị trong báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh. Một tài sản tái bảo hiểm bị giảm giá trị khi:
a) Có bằng chứng chắc chắn là kết quả
của một sự kiện phát sinh sau khi ghi nhận tài sản tái bảo hiểm, theo đó doanh
nghiệp nhượng tái có thể không thu hồi được toàn bộ số phải thu theo điều khoản
của hợp đồng tái bảo hiểm;
b) Có thể đo lường được một cách đáng
tin cậy những ảnh hưởng của sự kiện đó đối với số phải thu của doanh nghiệp
nhượng tái từ doanh nghiệp nhận tái.
Những thay đổi
trong chính sách kế toán
19. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể
thay đổi các chính sách kế toán đối với hợp đồng bảo hiểm khi và chỉ khi những
thay đổi này làm cho các báo cáo tài chính trở nên thích hợp hơn đối với yêu
cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo mà không làm giảm độ tin
cậy hoặc tăng độ tin cậy mà không giảm tính thích hợp đối với những yêu cầu
này. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể đánh giá mức độ tin cậy và thích hợp dựa trên
những tiêu chuẩn trong Chuẩn mực kế toán số 29 - "Thay đổi chính sách kế
toán, ước tính kế toán và các sai sót".
20. Để lý giải cho việc thay đổi
chính sách kế toán đối với các hợp đồng bảo hiểm, Doanh nghiệp bảo hiểm phải
chứng minh được những thay đổi này sẽ làm cho các báo cáo tài chính phù hợp hơn
với các quy định trong Chuẩn mực số 29, nhưng những thay đổi này không nhất
thiết phải hoàn toàn tuân theo những quy định đó, cụ thể các nội dung sau:
a) Lãi suất thị trường hiện hành
(đoạn 21);
b) Tiếp tục thực hiện các chính sách
kế toán hiện hành (đoạn 22);
c) Thận trọng (đoạn 23);
d) Tỷ suất đầu tư trong tương lai
(đoạn 24 - 26).
Lãi suất thị
trường hiện hành
21. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép,
nhưng không bắt buộc phải thay đổi các chính sách kế toán để tính lại các khoản
nợ bảo hiểm theo lãi suất thị trường hiện hành và ghi nhận những thay đổi của
các khoản nợ đó trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Tại thời điểm đó,
họ cũng có thể áp dụng các chính sách kế toán mà có yêu cầu các ước tính hiện
tại và các giả định khác để xác định các khoản nợ bảo hiểm theo công thức đã
định sẵn. Không áp dụng các chính sách kế toán này một cách nhất quán cho tất
cả các khoản nợ tương tự khác vì Chuẩn mực kế toán số 29 đã có hướng dẫn khác
cho các khoản nợ này. Nếu như doanh nghiệp bảo hiểm lựa chọn cách xác định nợ bảo
hiểm theo cách này, họ sẽ tiếp tục sử dụng lãi suất thị trường hiện hành (nếu
có thể và các ước tính, giả định hiện hành khác - nếu có) một cách nhất quán
trong tất cả các kỳ báo cáo và cho tất cả các khoản nợ này cho tới khi chúng
được thanh toán.
Tiếp tục thực
hiện các chính sách kế toán hiện hành
22. Nếu sự thay đổi chính sách kế
toán không thỏa mãn các quy định nêu tại đoạn 19, doanh nghiệp bảo hiểm có thể
tiếp tục thực hiện các chính sách kế toán hiện hành như
a) Xác định khoản nợ bảo hiểm trên cơ
sở không chiết khấu.
b) Xác định các quyền theo hợp đồng
đối với các khoản phí quản lý đầu tư trong tương lai với giá trị vượt quá giá
trị hợp lý của chúng, như những giá trị này được tính toán bằng cách so sánh
với mức phí của các doanh nghiệp cung cấp những dịch vụ tương tự trên thị
trường. Hầu như chắc chắn rằng những giá trị hợp lý tại thời điểm ban đầu sẽ
bằng với các chi phí gốc, chỉ trừ khi các khoản phí quản lý đầu tư chứng khoán
trong tương lai và các chi phí có liên quan không phù hợp với những chi phí
tương tự trên thị trường.
c) Sử dụng các chính sách kế toán
không đồng nhất cho các hợp đồng bảo hiểm (các chi phí khai thác chờ phân bổ và
các tài sản vô hình có liên quan) của các công ty con, trừ các trường hợp đã
được quy định trong đoạn 21. Nếu các chính sách kế toán này không đồng nhất,
doanh nghiệp bảo hiểm phải thay đổi các chính sách này nếu như sự thay đổi đó
không làm các chính sách kế toán thay đổi nhiều hơn và vẫn thỏa mãn các yêu cầu
khác trong chuẩn mực này.
Thận trọng
23. Trường hợp đang áp dụng nguyên
tắc kế toán thận trọng, doanh nghiệp bảo hiểm không nhất thiết phải thay đổi
các chính sách kế toán đối với các hợp đồng bảo hiểm để làm giảm sự thận trọng
đó. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp bảo hiểm đã và đang áp dụng các chính sách đối
với hợp đồng bảo hiểm với một mức độ thận trọng vừa đủ thì không cần thiết phải
tăng thêm mức độ thận trọng này.
Tỷ suất đầu tư
trong tương lai
24. Doanh nghiệp bảo hiểm không nhất
thiết phải thay đổi các chính sách kế toán cho các hợp đồng bảo hiểm để tính
toán lại tỷ suất đầu tư trong tương lai. Tuy nhiên có một giả định là báo cáo
tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm có thể sẽ giảm độ hợp lý và tin cậy nếu như
họ sử dụng chính sách kế toán để phản ánh tỷ suất đầu tư trong tương lai nhằm
tính toán các hợp đồng bảo hiểm, trừ khi những tỷ suất đó phản ánh khoản phải
thanh toán theo hợp đồng.
Ví dụ về các chính sách kế toán phản
ánh những tỷ suất đầu tư trong tương lai:
a) Sử dụng tỷ lệ chiết khấu phản ảnh
tiền lãi được ước tính trên tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm; hoặc
b) Đưa ra dự kiến mức hoàn vốn trên
các tài sản này với một tỷ lệ hoàn vốn ước tính, chiết khấu các khoản hoàn vốn
dự kiến đó bằng các tỷ lệ khác nhau và bao gồm cả những kết quả tính toán nợ
bảo hiểm.
25. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể khắc
phục giả định nêu ở đoạn 24 chỉ khi các sự thay đổi khác trong chính sách kế
toán với mức tăng tính hợp lý và độ tin cậy của các báo cáo tài chính lớn hơn
mức giảm tính hợp lý và độ tin cậy gây ra bởi tỷ suất đầu tư tương lai.
Ví dụ: Các chính sách kế toán hiện tại
của doanh nghiệp bảo hiểm đối với các hợp đồng bảo hiểm bao hàm các giả định
quá thận trọng được đặt ra tại thời điểm ban đầu và một tỷ lệ chiết khấu theo
quy định mà không cần tham khảo thực trạng thị trường, bỏ qua một số quyền chọn
cũng như bảo đảm đi kèm. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm có thể làm
cho báo cáo tài chính trở lên hợp lý hơn mà không làm giảm độ tin cậy bằng cách
chuyển sang một số thay đổi, có sự chú ý hơn cho mục đích đầu tư và được sử
dụng một cách rộng rãi hơn, liên quan đến:
a) Các ước tính và giả định hiện
hành;
b) Sự điều chỉnh hợp lý (nhưng không
quá thận trọng) để phản ánh rủi ro và tính không chắc chắn;
c) Việc xác định phản ánh cả giá trị
thực và giá trị thời gian của quyền lựa chọn và đảm bảo đính kèm;
d) Tỷ lệ chiết khấu thị trường hiện
hành, thậm chí tỷ lệ chiết khấu đó phản ánh tỷ lệ lãi ước tính trên tài sản của
doanh nghiệp bảo hiểm.
26. Trong một số phương pháp tính
toán, tỷ lệ chiết khấu được dùng để xác định giá trị hiện tại của khoản lợi
nhuận trong tương lai. Khoản lợi nhuận này được quy về từng giai đoạn khác nhau
theo một công thức. Trong những phương pháp đó, có phương pháp tỷ lệ chiết khấu
tác động đến việc tính toán các khoản nợ một cách gián tiếp. Cụ thể phương pháp
sử dụng tỷ lệ chiết khấu không hợp lý có thể có những tác động nhất định hoặc
là không có tác động gì đối với việc tính toán các khoản nợ tại thời điểm ban
đầu. Tuy nhiên, trong những phương pháp khác, tỷ lệ chiết khấu xác định việc
tính toán các khoản nợ một cách trực tiếp, thì việc sử dụng tỷ lệ chiết khấu
dựa trên tài sản có ảnh hưởng đáng kể hơn, nên hầu như doanh nghiệp bảo hiểm sẽ
không thể khắc phục được giả định nêu trong đoạn 24.
Các hợp đồng
bảo hiểm thu được từ hợp nhất kinh doanh hay chuyển giao có tính mua lại hợp
đồng bảo hiểm
27. Theo Chuẩn mực kế toán số 11-
"Hợp nhất kinh doanh", trong ngày hợp nhất doanh nghiệp bảo hiểm có
thể tính toán giá trị hợp lý các khoản nợ bảo hiểm ước tính và các tài sản bảo
hiểm được thu nhận trong hợp nhất kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm
được phép nhưng không bắt buộc sử dụng cách trình bày để tách biệt giá trị hợp
lý của các hợp đồng bảo hiểm thu nhận được thành 2 phần:
a) Nợ được xác định giá trị dựa trên
cơ sở các chính sách kế toán của doanh nghiệp bảo hiểm đối với các hợp đồng bảo
hiểm mà họ phát hành; và
b) Tài sản vô hình đại diện cho sự
khác biệt giữa:
i) Giá trị hợp lý của các quyền bảo
hiểm trong hợp đồng được thu nhận và các nghĩa vụ bảo hiểm ước tính;
ii) Giá trị khoản nợ nêu tại điểm a.
Sau đó việc tính toán tài sản này sẽ
phải nhất quán với tính toán của khoản nợ bảo hiểm có liên quan.
28. Doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển
nhượng hợp đồng bảo hiểm có thể dùng phương thức trình bày chi tiết hơn như đã
mô tả trong đoạn 27.
29. Các tài sản vô hình quy định tại
đoạn 27, 28 không thuộc phạm vi của Chuẩn mực "Tổn thất tài sản" và
Chuẩn mực "Tài sản cố định vô hình". Tuy nhiên, Chuẩn mực "Tổn
thất tài sản" và Chuẩn mực "Tài sản cố định vô hình" được áp
dụng cho các khách hàng liên quan đến các hợp đồng tương lai mà các quyền hoặc
nghĩa vụ bảo hiểm trong hợp đồng không hiện hữu tại ngày hợp nhất kinh doanh
hoặc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm.
Phần không đảm
bảo
Phần không đảm bảo trong hợp đồng
bảo hiểm
30. Một số hợp đồng bảo hiểm có phần
đảm bảo và phần không đảm bảo. Đối với các hợp đồng này doanh nghiệp bảo hiểm
áp dụng quy định sau:
a) Có thể, nhưng không nhất thiết
phải hạch toán riêng phần đảm bảo và phần không đảm bảo. Nếu doanh nghiệp bảo
hiểm không ghi nhận một cách riêng rẽ, thì có thể xác định toàn bộ hợp đồng bảo
hiểm như một khoản nợ phải trả. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm phân loại một cách
riêng rẽ, thì có thể xác định phần có đảm bảo như một khoản nợ phải trả.
b) Trường hợp ghi nhận riêng rẽ phần
không đảm bảo và phần có đảm bảo, doanh nghiệp bảo hiểm có thể ghi nhận phần
không đảm bảo là một khoản nợ phải trả, (hoặc là một phần riêng biệt của nguồn
vốn chủ sở hữu). Chuẩn mực này không quy định phương pháp xác định phần không
đảm bảo là một khoản nợ hay vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp bảo hiểm có thể chia
thành phần thuộc khoản nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu và phải áp dụng một cách
nhất quán, mà không được xác định phần này như là một phần trung gian ở giữa nợ
phải trả hoặc vốn chủ sở hữu.
c) Có thể ghi nhận tất cả các khoản
phí bảo hiểm nhận được như là doanh thu mà không phải tách riêng bất kỳ phần
nào có liên quan đến vốn chủ sở hữu. Kết quả của sự thay đổi phần có đảm bảo và
phần không đảm bảo khi được phân loại là khoản nợ phải trả sẽ được ghi nhận
trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Nếu một phần hoặc toàn bộ phần
không đảm bảo được phân loại trong vốn chủ sở hữu, thì một phần của lãi hoặc lỗ
sẽ được tính cho phần không đảm bảo (cũng giống cách tính lợi ích của cổ đông
thiểu số) thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể ghi nhận một phần của lãi hoặc lỗ
quy cho bất kỳ một phần nào của vốn chủ sở hữu thuộc phần không đảm bảo như một
khoản phân phối lãi hoặc lỗ chứ không phải thu nhập hay chi phí (quy định tại
Chuẩn mực kế toán số 21 "Trình bày báo cáo tài chính").
d) Có thể áp dụng Chuẩn mực
"Công cụ tài chính", nếu trong hợp đồng bảo hiểm có công cụ phái sinh
thuộc phạm vi của Chuẩn mực “Công cụ tài chính”.
e) Có thể tiếp tục áp dụng các chính
sách kế toán hiện hành cho những hợp đồng đối với những vấn đề không được quy
định trong các đoạn 12 - 18 và 30 (a), 30 (d) trừ khi doanh nghiệp bảo hiểm
thay đổi các chính sách kế toán theo quy định tại các đoạn 19 - 26.
Phần không đảm bảo trong các công
cụ tài chính của hợp đồng bảo hiểm
31. Các quy định trong đoạn 30 cũng
được áp dụng cho một công cụ tài chính có phần không đảm bảo, ngoài ra:
a) Nếu doanh nghiệp bảo hiểm phân
loại toàn bộ phần không đảm bảo là một khoản nợ phải trả, họ có thể áp dụng
việc kiểm tra tính đầy đủ của các khoản nợ phải trả theo quy định tại các đoạn
từ 14 - 17 cho toàn bộ hợp đồng (Bao gồm cả phần có đảm bảo và phần không đảm
bảo). Doanh nghiệp bảo hiểm không cần phải xác định giá trị phần có đảm bảo do
đã áp dụng Chuẩn mực “Công cụ tài chính”.
b) Nếu doanh nghiệp bảo hiểm phân
loại một phần hay toàn bộ phần không đảm bảo như một phần riêng biệt của vốn chủ
sở hữu thì khoản nợ được ghi nhận cho toàn bộ hợp đồng không được nhỏ hơn giá
trị của phần có đảm bảo theo quy định của Chuẩn mực "Công cụ tài
chính". Giá trị này bao gồm giá trị của quyền chọn có thể thực hiện đối
với quyền chấm dứt hợp đồng nhưng không nhất thiết phải bao gồm cả giá trị thời
gian nếu như đã miễn trừ quyền chọn không phải đánh giá theo giá trị hợp lý
(Theo đoạn 08). Doanh nghiệp bảo hiểm không phải công khai giá trị phần có đảm
bảo theo quy định của Chuẩn mực "Công cụ tài chính" và cũng không cần
phải trình bày khoản này một cách riêng rẽ. Ngoài ra doanh nghiệp bảo hiểm
không nhất thiết phải xác định khoản này nếu toàn bộ khoản nợ phải trả đã được
ghi nhận rõ ràng.
c) Mặc dù những hợp đồng này là các
công cụ tài chính, song doanh nghiệp bảo hiểm có thể hạch toán các khoản thu
phí của những hợp đồng này vào doanh thu và ghi nhận phần tăng lên đối với giá
trị ghi sổ của khoản nợ phải trả là chi phí.
Trình bày báo
cáo tài chính
Giải thích các khoản được ghi nhận
32. Doanh nghiệp bảo hiểm phải
trình bày rõ ràng các thông tin giúp người sử dụng nhận biết và giải thích các
số liệu phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm trong báo cáo tài chính.
33. Để tuân thủ quy định tại đoạn 32,
doanh nghiệp bảo hiểm phải trình bày rõ ràng:
a) Các chính sách kế toán đối với các
hợp đồng bảo hiểm và các tài sản, các khoản nợ phải trả, doanh thu và chi phí
có liên quan.
b) Tài sản, các khoản nợ phải trả,
doanh thu và chi phí được ghi nhận (và các luồng tiền nếu Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ lập theo phương pháp trực tiếp) phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm.
Trong trường hợp nhượng tái bảo hiểm, doanh nghiệp phải trình bày:
(i) Các khoản lãi hay lỗ được ghi
nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ hoạt động nhượng tái bảo
hiểm;
(ii) Nếu doanh nghiệp nhượng tái giữ
lại và phân bổ dần các khoản lãi hay lỗ phát sinh từ nhượng tái bảo hiểm, thì
phải trình bày khoản phân bổ trong kỳ và khoản chờ phân bổ vào đầu và cuối kỳ.
c) Quy trình được sử dụng để xác định
những giả định có ảnh hưởng lớn nhất đối với việc đánh giá các khoản được ghi
nhận như đã nêu trong đoạn (33/b). Trường hợp có thể, doanh nghiệp bảo hiểm nên
trình bày số liệu liên quan đến các giả định này.
d) Ảnh hưởng của những thay đổi trong
các giả định được sử dụng để đánh giá các tài sản bảo hiểm và các khoản nợ bảo
hiểm, trình bày riêng những ảnh hưởng của từng sự thay đổi mà có ảnh hưởng
trọng yếu lên các báo cáo tài chính.
e) Đối chiếu các thay đổi của các
khoản nợ bảo hiểm, các tài sản liên quan đến tái bảo hiểm, và các chi phí khai
thác có liên quan chờ phân bổ (nếu có).
Giá trị, thời gian và tính không
chắc chắn của các luồng tiền trong tương lai của hợp đồng bảo hiểm
34. Doanh nghiệp bảo hiểm phải
trình bày rõ ràng mọi thông tin để giúp cho người sử dụng hiểu được giá trị,
thời gian và tính không chắc chắn của luồng tiền trong tương lai của các hợp
đồng bảo hiểm.
35. Để thực hiện theo quy định tại
đoạn 34, doanh nghiệp bảo hiểm phải trình bày rõ ràng:
a) Các mục tiêu trong việc quản lý
rủi ro phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm và các chính sách trong việc làm giảm
bớt các rủi ro này;
b) Các điều khoản và điều kiện của
hợp đồng có ảnh hưởng trọng yếu đến giá trị, thời gian và tính không chắc chắn
của luồng tiền trong tương lai của các hợp đồng bảo hiểm;
c) Thông tin về rủi ro bảo hiểm (cả
trước và sau khi rủi ro được chia sẻ bằng tái bảo hiểm), bao gồm thông tin về:
(i) Tính nhạy cảm của lãi hay lỗ và
vốn chủ sở hữu đối với những thay đổi của các biến số có ảnh hưởng trọng yếu
lên chúng;
(ii) Sự tập trung của rủi ro bảo
hiểm;
(iii) Các khoản chi trả bồi thường
thực tế so với những ước tính trước đó (ví dụ Bảng thống kê bồi thường). Việc
lập bảng thống kê bồi thường nên bắt đầu từ giai đoạn đầu từ khi phát sinh
khoản khiếu nại chính thức đầu tiên mà chưa biết được chắc chắn số tiền và thời
gian của các khoản chi trả bảo hiểm. Tuy nhiên, không nhất thiết phải quay
ngược thời gian tới hơn 10 năm. Doanh nghiệp bảo hiểm không cần công khai những
thông tin về các khoản khiếu nại nếu không chắc chắn về giá trị và thời điểm
của các khoản phải trả về bồi thường được giải quyết trong vòng 1 năm.
d) Thông tin về rủi ro lãi suất và
rủi ro tín dụng theo quy định của Chuẩn mực "Công cụ tài chính" sẽ
yêu cầu trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm nằm trong phạm vi của chuẩn mực đó;
e) Thông tin về rủi ro lãi suất và
rủi ro thị trường của các công cụ tài chính phái sinh thuộc hợp đồng bảo hiểm
gốc nếu doanh nghiệp bảo hiểm không buộc phải, hay không đánh giá công cụ tài
chính theo giá trị hợp lý./.
Chuẩn mực số 30
LÃI
TRÊN CỔ PHIẾU
(Ban
hành và công bố theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính)
QUY ĐỊNH
CHUNG
01. Mục đích của Chuẩn mực này là quy định và hướng
dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán trong việc xác định và trình bày lãi
trên cổ phiếu nhằm so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp cổ phần
trong cùng một kỳ báo cáo và hiệu quả hoạt động của cùng một doanh nghiệp qua
các kỳ báo cáo.
02. Chuẩn mực này được áp dụng cho
việc tính và công bố lãi trên cổ phiếu tại các doanh nghiệp sau:
- Đang có cổ phiếu phổ thông hoặc cổ
phiếu phổ thông tiềm năng được giao dịch công khai trên thị trường; và
- Đang trong quá trình phát hành cổ
phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu phổ thông tiềm năng ra công chúng.
03. Trường hợp doanh nghiệp phải lập
cả báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất thì chỉ phải trình bày
thông tin về lãi trên cổ phiếu theo quy định của chuẩn mực này trên báo cáo tài
chính hợp nhất.
Trường hợp doanh nghiệp không phải
lập báo cáo tài chính hợp nhất thì chỉ trình bày thông tin về lãi trên cổ phiếu
trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh riêng của mình.
04. Các thuật ngữ trong chuẩn mực
này được hiểu như sau:
Suy giảm: Là sự giảm lãi trên cổ
phiếu hoặc tăng lỗ trên cổ phiếu do ảnh hưởng của việc giả định có sự chuyển
đổi các công cụ có thể chuyển đổi, việc thực hiện quyền chọn, chứng quyền hoặc
việc phát hành cổ phiếu phổ thông sau khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định.
Suy giảm ngược: Là sự tăng lãi trên
cổ phiếu hoặc giảm lỗ trên cổ phiếu do ảnh hưởng của việc giả định có sự chuyển
đổi các công cụ có thể chuyển đổi, việc thực hiện quyền chọn, chứng quyền hoặc
việc phát hành cổ phiếu phổ thông sau khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định.
Thỏa thuận cổ phiếu có điều kiện: Là
thỏa thuận về phát hành cổ phiếu phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định.
Cổ phiếu phổ thông: Là công cụ vốn
mang lại cho người sở hữu quyền lợi tài chính sau tất cả các công cụ vốn khác.
Cổ phiếu phổ thông tiềm năng: Là công
cụ tài chính hoặc một hợp đồng khác cho phép người sở hữu có được cổ phiếu phổ
thông.
Cổ phiếu phổ thông phát hành có điều
kiện: Là cổ phiếu phổ thông có thể được phát hành, thu ít tiền hoặc không thu
tiền mặt hoặc dựa trên việc thỏa mãn một số điều kiện nhất định của thỏa thuận
cổ phiếu có điều kiện.
Quyền chọn mua, chứng quyền và các
công cụ tương đương: Là các công cụ tài chính mang lại cho người sở hữu quyền
được mua cổ phiếu phổ thông theo một giá nhất định và trong một khoảng thời
gian xác định trước.
Quyền chọn bán: Là hợp đồng cho phép
người sở hữu quyền được bán cổ phiếu phổ thông theo một giá nhất định và trong một
khoảng thời gian xác định trước.
05. Người nắm giữ cổ phiếu phổ thông
được hưởng cổ tức trong kỳ sau khi các loại cổ phiếu khác đã được chia cổ tức
(Ví dụ: Cổ phiếu ưu đãi cổ tức). Cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp có quyền
như nhau trong việc nhận cổ tức.
06. Ví dụ về cổ phiếu phổ thông tiềm
năng gồm:
a) Khoản nợ tài chính hoặc công cụ
vốn, bao gồm cả cổ phiếu ưu đãi, có thể chuyển đổi sang cổ phiếu phổ thông;
b) Quyền chọn và chứng quyền;
c) Cổ phiếu được phát hành dựa trên
việc thỏa mãn một số điều kiện nhất định theo thỏa thuận mang tính hợp đồng. Ví
dụ: Việc mua doanh nghiệp hoặc các tài sản khác.
NỘI DUNG
CHUẨN MỰC
Xác định
Lãi cơ bản trên cổ
phiếu
07. Doanh nghiệp phải tính lãi cơ bản
trên cổ phiếu theo các khoản lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ
phiếu phổ thông của công ty mẹ.
08. Lãi cơ bản trên cổ phiếu được
tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ
thông của công ty mẹ (tử số) cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu
phổ thông đang lưu hành trong kỳ (mẫu số).
09. Lãi cơ bản trên cổ phiếu cung cấp
số liệu đánh giá lợi ích từ kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
mà mỗi cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ mang lại.
Lợi nhuận hoặc lỗ
để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu
10. Để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu,
số phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ là các khoản
lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế phân bổ cho công ty mẹ sau khi được điều chỉnh bởi
cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, những khoản chênh lệch phát sinh do thanh toán cổ
phiếu ưu đãi và những tác động tương tự của cổ phiếu ưu đãi đã được phân loại
vào vốn chủ sở hữu.
11. Các khoản thu nhập và chi phí
phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ đã được ghi nhận
trong kỳ báo cáo, bao gồm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, cổ tức của cổ
phiếu ưu đãi đã được phân loại vào nợ phải trả, được sử dụng để xác định lợi
nhuận hoặc lỗ trong kỳ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công
ty mẹ.
12. Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được
trừ khỏi lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu, gồm:
a) Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không
lũy kế được thông báo trong kỳ báo cáo; và
b) Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lũy kế
phát sinh trong kỳ báo cáo (kể cả trường hợp chưa được thông báo). Giá trị cổ
tức ưu đãi trong kỳ không bao gồm cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lũy kế liên quan
tới các kỳ trước đã được chi trả hay được thông báo trong kỳ báo cáo.
13. Cổ phiếu ưu đãi có mức cổ tức
thấp để bù đắp lại việc doanh nghiệp bán cổ phiếu ưu đãi ở mức giá có chiết
khấu, hoặc có mức cổ tức cao để bù đắp cho nhà đầu tư do việc mua cổ phiếu ưu
đãi ở mức giá có phụ trội. Các khoản chiết khấu hoặc phụ trội khi phát hành lần
đầu cổ phiếu ưu đãi lãi suất tăng dần được phân bổ vào lợi nhuận giữ lại theo
phương pháp lãi thực và được coi như cổ tức ưu đãi khi tính lãi cơ bản trên cổ
phiếu.
14. Doanh nghiệp có thể mua lại cổ
phiếu ưu đãi từ người sở hữu. Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của
khoản thanh toán cho người sở hữu với giá trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi là lợi
ích của người sở hữu cổ phiếu ưu đãi và là khoản giảm trừ vào lợi nhuận chưa
phân phối của doanh nghiệp. Khoản chênh lệch này được trừ vào lợi nhuận hoặc lỗ
phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ.
15. Doanh nghiệp có thể khuyến khích
việc chuyển đổi trước thời hạn cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi bằng điều kiện
có lợi hơn điều kiện chuyển đổi ban đầu hoặc bằng số tiền thanh toán thêm.
Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá trị hợp lý của cổ phiếu phổ thông hoặc các
khoản thanh toán khác theo điều kiện chuyển đổi có lợi tại thời điểm thanh toán
với giá trị hợp lý của cổ phiếu phổ thông được phát hành theo điều kiện chuyển
đổi gốc là lợi ích của người sở hữu cổ phiếu ưu đãi. Khoản chênh lệch này được
trừ vào lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của
công ty mẹ.
16. Khoản chênh lệch lớn hơn giữa giá
trị ghi sổ của cổ phiếu ưu đãi với giá trị hợp lý của các khoản thanh toán được
cộng vào lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của
công ty mẹ.
Số lượng cổ phiếu
để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu
17. Số lượng cổ phiếu phổ thông được
sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu
phổ thông đang lưu hành trong kỳ.
18. Việc sử dụng số bình quân gia
quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ là do giá trị vốn cổ đông
thay đổi trong kỳ khi số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành tăng hoặc giảm. Số
bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ là số lượng cổ
phiếu phổ thông lưu hành đầu kỳ được điều chỉnh theo số cổ phiếu phổ thông được
mua lại hoặc được phát hành thêm nhân với hệ số thời gian. Hệ số thời gian là
tỷ số giữa số lượng ngày mà cổ phiếu được lưu hành trong kỳ chia cho tổng số
ngày trong kỳ.
19. Cổ phiếu phổ thông được tính vào
số bình quân gia quyền của cổ phiếu kể từ ngày có thể nhận được khoản thanh
toán cho cổ phiếu đó (thông thường là ngày phát hành). Ví dụ:
a) Cổ phiếu phổ thông phát hành thu
tiền được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi ghi nhận được tiền;
b) Cổ phiếu phổ thông được phát hành
thay cho việc trả cổ tức của cổ phiếu phổ thông hay cổ tức của cổ phiếu ưu đãi
được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu khi cổ tức được chuyển thành
cổ phiếu;
c) Cổ phiếu phổ thông được phát hành
bằng việc chuyển đổi một công cụ nợ thành cổ phiếu phổ thông được tính vào số
bình quân gia quyền của cổ phiếu khi ngừng tính lãi từ công cụ nợ đó;
d) Cổ phiếu phổ thông được phát hành
thay cho lãi và gốc của các công cụ tài chính khác được tính vào số bình quân
gia quyền của cổ phiếu khi ngừng tính lãi từ công cụ tài chính đó;
e) Cổ phiếu phổ thông được phát hành
để thanh toán khoản nợ phải trả của doanh nghiệp được tính vào số bình quân gia
quyền của cổ phiếu khi khoản nợ phải trả này được chuyển thành cổ phiếu;
f) Cổ phiếu phổ thông được phát hành
để thanh toán cho việc mua một tài sản phi tiền tệ được tính vào số bình quân
gia quyền của cổ phiếu khi tài sản đó được ghi nhận; và
g) Cổ phiếu phổ thông được phát hành
để thanh toán cho dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp được tính vào số bình quân
gia quyền của cổ phiếu khi dịch vụ đó được cung cấp.
Thời điểm tính cổ phiếu phổ thông
được xác định theo các điều khoản và điều kiện gắn kèm với việc phát hành cổ
phiếu, doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng bản chất của các hợp đồng liên quan
tới việc phát hành cổ phiếu.
20. Cổ phiếu phổ thông được phát hành
như một phần của giá phí hợp nhất kinh doanh được tính vào số bình quân gia
quyền của cổ phiếu kể từ ngày mua vì doanh nghiệp mua hợp nhất kết quả hoạt
động kinh doanh của đơn vị được mua vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
của mình kể từ ngày mua.
21. Cổ phiếu phổ thông được phát hành
khi thực hiện chuyển đổi một công cụ có thể chuyển đổi được sử dụng để tính lãi
cơ bản trên cổ phiếu kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.
22. Cổ phiếu phát hành có điều kiện
được coi như cổ phiếu đang lưu hành và được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ
phiếu kể từ ngày tất cả các điều kiện cần thiết đã được thỏa mãn (khi các sự
kiện đã xảy ra). Cổ phiếu có thể được phát hành sau một thời gian xác định
không được coi là cổ phiếu phát hành có điều kiện, vì điều kiện về thời gian
này chắc chắn sẽ xảy ra.
23. Cổ phiếu phổ thông đang lưu hành
có thể được thu hồi lại có điều kiện không được phản ánh như cổ phiếu đang lưu
hành và không được dùng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu cho tới ngày cổ phiếu
đó không còn bị ràng buộc bởi điều kiện thu hồi lại.
24. Số bình quân gia quyền cổ phiếu
phổ thông đang lưu hành trong kỳ hiện tại và tất cả các kỳ trình bày phải được
điều chỉnh cho các sự kiện (trừ việc chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng)
tạo ra sự thay đổi về số lượng cổ phiếu phổ thông mà không dẫn đến thay đổi về
nguồn vốn.
25. Cổ phiếu phổ thông có thể tăng
hoặc giảm mà không cần có sự thay đổi tương ứng về nguồn vốn. Ví dụ:
a) Vốn hóa hoặc phát hành cổ phiếu
thưởng (một số trường hợp là trả cổ tức bằng cổ phiếu);
b) Phát hành cổ phiếu phổ thông dưới
hình thức thưởng (Ví dụ: Thưởng bằng việc phát hành quyền cho các cổ đông hiện
tại);
c) Tách cổ phiếu; và
d) Gộp cổ phiếu.
26. Vốn hóa, phát hành cổ phiếu
thưởng hoặc tách cổ phiếu là việc phát hành cổ phiếu phổ thông cho cổ đông hiện
tại mà doanh nghiệp không thu về bất cứ một khoản tiền nào. Vì vậy, số lượng cổ
phiếu phổ thông đang lưu hành tăng lên mà không có sự gia tăng nguồn vốn. Số
lượng cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trước sự kiện này được điều chỉnh theo
tỷ lệ tương ứng với số lượng thay đổi của cổ phiếu phổ thông được lưu hành với
giả thuyết sự kiện này đã xảy ra ngay tại thời điểm đầu kỳ báo cáo. Ví dụ: Đối
với việc phát hành 2 cổ phiếu thưởng cho 1 cổ phiếu đang lưu hành, số lượng cổ
phiếu phổ thông đang lưu hành trước thời điểm phát hành được nhân với 3 để tính
tổng số cổ phiếu phổ thông, hoặc nhân với 2 để tính số cổ phiếu phổ thông tăng
thêm.
27. Việc gộp cổ phiếu phổ thông chỉ
dẫn đến giảm số lượng cổ phiếu phổ thông đang lưu hành mà không làm giảm nguồn
vốn. Tuy nhiên, nếu mua lại cổ phiếu theo giá trị hợp lý, thì việc giảm tương
ứng nguồn vốn sẽ dẫn đến giảm số lượng cổ phiếu phổ thông đang lưu hành.
Lãi suy giảm trên
cổ phiếu
28. Doanh nghiệp tính giá trị lãi suy
giảm trên cổ phiếu dựa trên số lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ
phiếu phổ thông của công ty mẹ.
29. Doanh nghiệp phải điều chỉnh lợi
nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và
số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành do ảnh hưởng của các cổ
phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm để tính lãi suy giảm trên cổ
phiếu.
30. Việc tính lãi suy giảm trên cổ
phiếu là nhằm đảm bảo tính nhất quán với lãi cơ bản trên cổ phiếu, cung cấp
thước đo lợi ích của mỗi cổ phiếu phổ thông trong kết quả hoạt động của doanh
nghiệp khi tính tới tác động của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động
suy giảm đang lưu hành trong kỳ. Việc làm này dẫn đến:
a) Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ
đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ tăng bằng khoản cổ tức và lãi ghi
nhận trong kỳ dành cho cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm và
được điều chỉnh các thay đổi về thu nhập hoặc chi phí do chuyển đổi cổ phiếu
phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm; và
b) Số bình quân gia quyền cổ phiếu
phổ thông đang lưu hành tăng bằng số bình quân gia quyền các cổ phiếu bổ sung
sẽ được lưu hành nếu như tất cả các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động
suy giảm đều được chuyển đổi.
Lợi nhuận (hoặc lỗ)
để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
31. Để tính lãi suy giảm trên cổ
phiếu doanh nghiệp cần điều chỉnh số lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế phân bổ cho cổ
đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ, theo quy định trong đoạn 10, cho
các tác động sau thuế của:
a) Các khoản cổ tức hoặc các khoản
khác liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm đã được
giảm trừ vào số lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông
của công ty mẹ theo quy định trong đoạn 10;
b) Bất kỳ khoản lãi nào được ghi nhận
trong kỳ liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm; và
c) Các thay đổi khác của thu nhập
hoặc chi phí do chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm.
32. Khi các cổ phiếu phổ thông tiềm
năng đã được chuyển thành cổ phiếu phổ thông thì sẽ không phát sinh các khoản
mục được xác định trong đoạn 31(a)-(c). Thay vào đó, lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ
cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ được phân bổ cho cả cổ
phiếu phổ thông mới. Vì vậy, lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ
phiếu phổ thông của công ty mẹ tính toán theo đoạn 10 được điều chỉnh cho các
khoản mục được xác định trong đoạn 31(a)-(c). Chi phí liên quan tới cổ phiếu
phổ thông tiềm năng bao gồm: Chi phí giao dịch và khoản chiết khấu được tính
theo phương pháp lãi suất thực tế.
33. Việc chuyển đổi cổ phiếu phổ
thông tiềm năng dẫn đến những thay đổi về thu nhập và chi phí của doanh nghiệp.
Ví dụ, giảm chi phí lãi vay liên quan tới cổ phiếu phổ thông tiềm năng và việc
làm tăng lợi nhuận hoặc giảm lỗ có thể dẫn tới việc tăng khoản lợi nhuận bắt
buộc phải phân phối. Để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu, lợi nhuận hoặc lỗ tính
cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ được điều chỉnh theo các
thay đổi mang tính hệ quả nêu trên của thu nhập và chi phí.
Số lượng cổ phiếu
để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
34. Để tính lãi suy giảm trên cổ
phiếu, số lượng cổ phiếu phổ thông là số bình quân gia quyền cổ
phiếu phổ thông (tính theo phương pháp được trình bày trong các đoạn 17
và 24) cộng (+) với số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông
sẽ được phát hành trong trường hợp tất cả các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có
tác động suy giảm đều được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông. Cổ phiếu
phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm được giả định chuyển đổi thành cổ
phiếu phổ thông tại thời điểm đầu kỳ báo cáo hoặc tại ngày phát hành cổ phiếu
phổ thông tiềm năng nếu ngày phát hành cổ phiếu này sau thời điểm đầu kỳ báo
cáo.
35. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng có
tác động suy giảm sẽ được xác định một cách độc lập cho mỗi kỳ báo cáo. Số cổ
phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm trong kỳ báo cáo từ đầu năm tới
ngày hiện tại không phải là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông tiềm
năng có tác động suy giảm trong mỗi lần tính giữa kỳ.
36. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng được
tính vào số bình quân trong kỳ mà nó lưu hành. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng bị
hủy hoặc tự hủy trong kỳ được dùng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu với tỷ lệ
tương ứng với thời gian mà chúng lưu hành. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng chuyển
thành cổ phiếu phổ thông trong kỳ được dùng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
từ ngày bắt đầu kỳ báo cáo cho đến ngày chuyển đổi, và kể từ ngày chuyển đổi cổ
phiếu phổ thông mới do chuyển đổi được dùng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu và
lãi suy giảm trên cổ phiếu.
37. Số cổ phiếu phổ thông sẽ được
phát hành do việc chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm
được xác định theo từng loại cổ phiếu phổ thông tiềm năng. Khi có nhiều cách
chuyển đổi, việc tính toán được thực hiện dựa trên giả định về tỷ lệ chuyển đổi
hoặc giá chuyển đổi có lợi nhất cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông tiềm
năng.
38. Công ty con, công ty liên doanh,
công ty liên kết có thể phát hành cổ phiếu phổ thông tiềm năng có thể chuyển
đổi thành cổ phiếu phổ thông của công ty mình, của công ty mẹ hoặc của bên góp
vốn liên doanh hay nhà đầu tư cho các bên không phải là công ty mẹ, bên góp vốn
liên doanh hoặc nhà đầu tư. Nếu những cổ phiếu phổ thông tiềm năng của công ty
con, công ty mẹ, công ty liên doanh hoặc công ty liên kết có tác động suy giảm
đến lãi cơ bản trên cổ phiếu của đơn vị báo cáo thì những cổ phiếu này được sử
dụng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu.
Cổ phiếu phổ thông
tiềm năng có tác động suy giảm
39. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng được
coi là có tác động suy giảm khi và chỉ khi, việc chuyển đổi chúng thành cổ
phiếu phổ thông sẽ làm giảm lãi hoặc tăng lỗ trên cổ phiếu.
40. Doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận
hoặc lỗ phân bổ cho công ty mẹ như số liệu kiểm soát để xác định xem cổ phiếu
phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm hay suy giảm ngược. Lợi nhuận hoặc lỗ
phân bổ cho công ty mẹ được điều chỉnh theo quy định trong đoạn 10.
41. Cổ phiếu phổ thông tiềm năng có
tác động suy giảm ngược khi việc chuyển đổi chúng thành cổ phiếu phổ thông làm
tăng lãi hoặc giảm lỗ trên cổ phiếu. Việc tính lãi suy giảm trên cổ phiếu không
giả định việc chuyển đổi, thực hiện hoặc phát hành cổ phiếu phổ thông tiềm năng
có tác động suy giảm ngược đối với lãi trên cổ phiếu.
42. Doanh nghiệp xem xét riêng từng
đợt phát hành hoặc từng loại cổ phiếu phổ thông tiềm năng khi xác định cổ phiếu
phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm hay suy giảm ngược. Thứ tự xem xét các
cổ phiếu phổ thông tiềm năng có thể ảnh hưởng tới kết luận cổ phiếu đó có tác
động suy giảm hay suy giảm ngược, do đó để tối đa hóa hiệu ứng suy giảm lãi cơ
bản trên cổ phiếu, từng đợt phát hành hay loại cổ phiếu phổ thông tiềm năng cần
được xem xét theo thứ tự từ suy giảm lớn nhất tới suy giảm nhỏ nhất. Như vậy cổ
phiếu phổ thông tiềm năng có tác động suy giảm với “mức lãi trên mỗi cổ phiếu
tăng thêm” thấp nhất được tính trước những cổ phiếu phổ thông tiềm năng có “mức
lãi trên mỗi cổ phiếu tăng thêm” lớn hơn. Quyền chọn, chứng quyền được tính
trước vì chúng không làm thay đổi lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ
phiếu phổ thông.
Quyền chọn mua,
chứng quyền và các công cụ tương đương
43. Để tính lãi suy
giảm trên cổ phiếu doanh nghiệp cần phải giả định các quyền chọn mua, chứng
quyền có tác động suy giảm đều được thực hiện. Số tiền giả định thu được từ các
công cụ này được phản ánh như khoản thu từ việc phát hành cổ phiếu phổ
thông ở mức giá thị trường trung bình trong kỳ. Phần chênh lệch giữa số lượng
cổ phiếu phổ thông đã phát hành và số lượng cổ phiếu phổ thông có
thể được phát hành ở mức giá thị trường bình quân của cổ phiếu phổ thông trong
kỳ được coi là cổ phiếu phổ thông được phát hành không điều kiện.
44. Quyền chọn mua, chứng quyền có
tác động suy giảm khi chúng tác động làm cho giá cổ phiếu phổ thông phát hành
thấp hơn giá thị trường bình quân của cổ phiếu phổ thông trong kỳ. Giá trị suy
giảm là giá bình quân của cổ phiếu phổ thông trong kỳ trừ đi giá phát hành. Để
tính lãi suy giảm trên cổ phiếu, cổ phiếu phổ thông tiềm năng bao gồm cả hai
yếu tố sau đây:
a) Hợp đồng phát hành một số lượng
nhất định cổ phiếu phổ thông theo giá thị trường bình quân trong kỳ. Doanh
nghiệp bỏ qua những cổ phiếu phổ thông này khi tính lãi suy giảm trên cổ phiếu
vì chúng được coi là đã được định giá một cách hợp lý và không có tác động suy
giảm hay suy giảm ngược.
b) Hợp đồng phát hành số cổ phiếu phổ
thông còn lại không điều kiện. Những cổ phiếu phổ thông này không tạo ra tiền
và không có tác động tới lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho các cổ phiếu phổ thông
đang lưu hành. Vì vậy, những cổ phiếu này có tác động suy giảm và được cộng vào
số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu.
45. Quyền chọn và chứng quyền có tác
động suy giảm chỉ khi giá thị trường bình quân của cổ phiếu phổ thông trong kỳ
lớn hơn giá thực hiện quyền chọn hoặc chứng quyền (trường hợp thực hiện công cụ
có lãi). Doanh nghiệp không phải điều chỉnh lại số lãi trên cổ phiếu đã báo cáo
trước đây để phản ánh sự thay đổi của giá cổ phiếu phổ thông.
46. Quyền chọn mua cổ phiếu dành cho
nhân viên với các điều khoản cố định hoặc xác định được và các cổ phiếu thưởng
chưa trao cho nhân viên được coi như các quyền chọn khi tính lãi suy giảm trên
cổ phiếu, mặc dù việc trao cổ phiếu là chưa chắc chắn. Những công cụ này được
coi như đã lưu hành vào ngày phát sinh. Quyền chọn mua cổ phiếu dành cho nhân viên
dựa trên kết quả hoạt động được phản ánh như cổ phiếu phát hành có điều kiện vì
khi phát hành những cổ phiếu đó ngoài điều kiện về mặt thời gian còn phụ thuộc
vào việc thỏa mãn một số điều kiện cụ thể.
Công cụ tài chính
có thể chuyển đổi
47. Tác động suy giảm của công cụ tài
chính có thể chuyển đổi đối với lãi suy giảm trên cổ phiếu được quy định tại
đoạn 31 và 34.
48. Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi
có tác động suy giảm ngược khi cổ tức của các cổ phiếu đó (được công bố hoặc
lũy kế trong kỳ) tính trên mỗi cổ phiếu phổ thông nhận được do chuyển đổi lớn
hơn lãi cơ bản trên cổ phiếu. Tương tự, khoản nợ có khả năng chuyển đổi có tác
động suy giảm ngược khi lãi sau thuế và các khoản thay đổi khác trong thu nhập
và chi phí tính trên mỗi cổ phiếu phổ thông nhận được thông qua chuyển đổi lớn
hơn lãi cơ bản trên cổ phiếu.
49. Việc mua lại hoặc khuyến khích
chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi có thể chỉ ảnh hưởng một phần
trong số cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi lưu hành trước kia. Khi đó, các
khoản thanh toán tăng thêm nêu trong đoạn 15 tính cho các cổ phiếu được mua lại
hoặc được chuyển đổi được dùng để xác định xem những cổ phiếu ưu đãi còn lại có
tác động suy giảm hay không. Các cổ phiếu đã được mua lại hoặc chuyển đổi được
xem xét độc lập với các cổ phiếu không được mua lại hoặc chuyển đổi.
Cổ phiếu phổ thông
phát hành có điều kiện
50. Khi tính lãi cơ bản trên cổ
phiếu, cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện được coi như đang lưu hành và
được sử dụng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu nếu như các điều kiện đã được
thỏa mãn. Cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện được tính vào từ đầu kỳ
(hoặc từ ngày thỏa thuận cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện). Trường hợp
các điều kiện không được thỏa mãn, số lượng cổ phiếu phổ thông phát hành có điều
kiện để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu được dựa vào số cổ phiếu có thể được
phát hành nếu ngày kết thúc kỳ báo cáo là ngày kết thúc thời hạn của điều kiện.
Doanh nghiệp không được tính lại số lượng cổ phiếu phát hành có điều kiện nếu
như các điều kiện phát hành không được thỏa mãn vào ngày kết thúc thời hạn của
điều kiện.
51. Trường hợp điều kiện phát hành
yêu cầu phải đạt được hoặc duy trì một lượng lãi cố định cho kỳ báo cáo kể cả
khi đã đạt được vào cuối kỳ nhưng phải được giữ lại cho kỳ báo cáo tiếp theo
thì số cổ phiếu phổ thông tăng thêm được phản ánh như đang lưu hành nếu có tác
động mang tính suy giảm khi tính lãi suy giảm trên cổ phiếu. Khi đó, doanh
nghiệp tính lãi suy giảm trên cổ phiếu dựa trên số cổ phiếu phổ thông có thể
được phát hành nếu như số lãi tại thời điểm cuối kỳ báo cáo bằng số lãi tại
thời điểm cuối của điều kiện. Số lãi có thể thay đổi vào kỳ sau nên khi tính
lãi cơ bản trên cổ phiếu không được tính tới những cổ phiếu phát hành có điều
kiện cho đến khi kết thúc thời hạn của điều kiện vì đến thời điểm này chưa thỏa
mãn hết mọi điều kiện.
52. Số lượng cổ phiếu phổ thông phát
hành có điều kiện có thể dựa trên giá thị trường của cổ phiếu phổ thông trong
tương lai. Nếu có tác động suy giảm, việc tính lãi suy giảm trên cổ phiếu được
dựa trên số cổ phiếu phổ thông sẽ phát hành khi giá trị thị trường của cổ phiếu
vào ngày cuối kỳ bằng giá trị thị trường của cổ phiếu vào ngày kết thúc thời
hạn của điều kiện. Nếu điều kiện phát hành cổ phiếu dựa trên giá thị trường
bình quân cho một giai đoạn kết thúc sau ngày kết thúc kỳ báo cáo thì doanh
nghiệp sử dụng giá bình quân cho đến ngày kết thúc kỳ báo cáo. Giá thị trường
có thể thay đổi vào kỳ sau, nên khi tính lãi cơ bản trên cổ phiếu không được
tính những cổ phiếu phát hành có điều kiện cho tới khi kết thúc thời hạn của
điều kiện vì đến thời điểm này chưa thỏa mãn hết mọi điều kiện.
53. Số lượng cổ phiếu phổ thông phát
hành có điều kiện có thể dựa trên lãi và giá của cổ phiếu phổ thông trong tương
lai. Trong trường hợp này, số lượng cổ phiếu phổ thông để tính lãi suy giảm
trên cổ phiếu được dựa trên cả hai điều kiện là lãi và giá thị trường tại ngày
cuối của kỳ báo cáo. Cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện chỉ được dùng để
tính lãi suy giảm trên cổ phiếu khi cả hai điều kiện trên được thỏa mãn.
54. Trong một số trường hợp khác, số
lượng cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện có thể dựa trên các điều kiện
không phải là lãi hoặc giá thị trường của cổ phiếu. Trong những trường hợp này,
nếu các điều kiện hiện tại không thay đổi cho tới khi kết thúc thời hạn của
điều kiện, cổ phiếu phổ thông phát hành có điều kiện được dùng để tính lãi suy
giảm trên cổ phiếu căn cứ vào tình trạng thực tế tại thời điểm kết thúc kỳ báo
cáo.
55. Cổ phiếu phổ thông phát hành có
điều kiện được doanh nghiệp tính vào cổ phiếu bình quân lưu hành trong kỳ để
tính lãi suy giảm trên cổ phiếu (Không phải là thỏa thuận cổ phiếu có điều
kiện, như là công cụ có thể chuyển đổi phát hành có điều kiện) theo phương pháp
sau:
a) Doanh nghiệp tự xác định cổ phiếu
phổ thông tiềm năng với giả định là có thể phát hành trên cơ sở các điều kiện
cho việc phát hành cổ phiếu phát hành có điều kiện quy định tại các đoạn từ 50
- 54; và
b) Nếu những cổ phiếu phổ thông tiềm
năng được sử dụng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu, doanh nghiệp phải xác
định ảnh hưởng của chúng tới lãi suy giảm trên cổ phiếu bằng các bước thực hiện
quyền chọn mua, chứng quyền quy định trong các đoạn từ 43 - 46, các bước thực
hiện cho công cụ có thể chuyển đổi quy định trong các đoạn từ 47 - 49, các bước
thực hiện cho hợp đồng có thể được thanh toán bằng cổ phiếu phổ thông hoặc bằng
tiền quy định trong các đoạn từ 56 - 59, hoặc các bước thực hiện phù hợp khác.
Tuy nhiên, việc thực hiện hoặc chuyển
đổi của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng không được giả định cho mục đích tính
lãi suy giảm trên cổ phiếu trừ trường hợp việc thực hiện hoặc việc chuyển đổi
các cổ phiếu phổ thông tiềm năng đang lưu hành không phải là phát hành có điều
kiện.
Hợp đồng có thể
được thanh toán bằng cổ phiếu phổ thông hoặc bằng tiền
56. Khi phát hành hợp đồng có thể
được thanh toán bằng cổ phiếu phổ thông hoặc bằng tiền mặt, doanh nghiệp giả
định trước rằng hợp đồng được thanh toán bằng cổ phiếu phổ thông và số cổ phiếu
phổ thông tiềm năng từ việc thanh toán sẽ được sử dụng để tính lãi suy giảm
trên cổ phiếu nếu có tác động mang tính suy giảm.
57. Khi hợp đồng được trình bày với
mục đích kế toán như là một tài sản hay một khoản nợ phải trả riêng biệt hoặc
là một bộ phận của vốn chủ sở hữu hay nợ phải trả, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh
các thay đổi về lợi nhuận hoặc lỗ trong kỳ nếu như hợp đồng đó được phân loại
toàn bộ là vốn chủ sở hữu. Việc điều chỉnh thực hiện tương tự như quy định
trong đoạn 31.
58. Đối với các hợp đồng có thể được
thanh toán bằng cổ phiếu phổ thông hoặc bằng tiền, tùy theo lựa chọn của người
nắm giữ, doanh nghiệp sử dụng cách thanh toán có suy giảm lớn hơn để tính lãi
suy giảm trên cổ phiếu.
59. Ví dụ hợp đồng có thể được thanh
toán bằng cổ phiếu phổ thông hoặc bằng tiền:
a) Công cụ nợ khi đáo hạn cho phép
doanh nghiệp quyền tùy ý lựa chọn việc thanh toán nợ gốc bằng tiền hoặc bằng cổ
phiếu phổ thông của chính doanh nghiệp.
b) Quyền chọn bán đã phát hành, cho
phép người nắm giữ lựa chọn giữa việc thanh toán bằng cổ phiếu hoặc thanh toán
bằng tiền.
Các quyền chọn
đã được mua
60. Các hợp đồng như quyền chọn mua
hoặc quyền chọn bán đã được doanh nghiệp mua vào (Quyền chọn đối với cổ phiếu
của doanh nghiệp do chính doanh nghiệp nắm giữ) không được sử dụng để tính lãi
suy giảm trên cổ phiếu vì gây ra tác động suy giảm ngược. Quyền chọn bán có thể
được thực hiện chỉ khi giá thỏa thuận bán lớn hơn giá thị trường và quyền chọn
mua chỉ được thực hiện khi giá thỏa thuận mua nhỏ hơn giá thị trường.
Quyền chọn bán
đã phát hành
61. Những hợp đồng yêu cầu doanh
nghiệp phải mua lại cổ phiếu của chính mình (Quyền chọn bán đã phát hành và hợp
đồng mua kỳ hạn) được sử dụng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu nếu như có tác
động suy giảm. Nếu những hợp đồng đó tạo ra lợi nhuận trong kỳ (Giá thực hiện
hoặc giá thanh toán lớn hơn giá thị trường trung bình trong kỳ) thì tác động
suy giảm tiềm năng cho lãi trên cổ phiếu sẽ được tính như sau:
a) Giả định vào đầu kỳ, cổ phiếu phổ
thông sẽ được phát hành đủ (theo giá thị trường trung bình trong kỳ) để thu
tiền nhằm thực hiện các điều kiện hợp đồng;
b) Giả định tiền thu được từ phát
hành được sử dụng để thực hiện các điều kiện hợp đồng (tức là để mua lại cổ
phiếu phổ thông); và
c) Số lượng cổ phiếu tăng thêm (Số
chênh lệch giữa số lượng cổ phiếu phổ thông được giả định là phát hành và số
lượng cổ phiếu phổ thông thu về từ việc thỏa mãn các điều kiện hợp đồng) sẽ
được sử dụng để tính lãi suy giảm trên cổ phiếu.
Điều chỉnh hồi tố
62. Lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi
suy giảm trên cổ phiếu cho tất cả các kỳ báo cáo sẽ được điều chỉnh hồi tố nếu
số lượng cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu phổ thông tiềm năng đang lưu hành
tăng lên do vốn hóa, phát hành cổ phiếu thưởng, tách cổ phiếu hoặc giảm đi do
gộp cổ phiếu. Nếu những thay đổi đó xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm
nhưng trước ngày phát hành báo cáo tài chính, số liệu được tính trên mỗi cổ
phiếu của kỳ báo cáo hiện tại và mỗi kỳ báo cáo trước đó trên báo cáo tài chính
được tính lại dựa trên số lượng cổ phiếu mới. Doanh nghiệp phải trình bày kết
quả tính trên mỗi cổ phiếu phản ánh sự thay đổi về số lượng cổ phiếu. Ngoài ra,
lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu sẽ được điều chỉnh cho
tác động của các sai sót và kết quả điều chỉnh phát sinh từ việc áp dụng hồi tố
thay đổi chính sách kế toán.
63. Đối với việc thay đổi các giả
định sử dụng trong việc tính lãi trên cổ phiếu, hoặc việc chuyển đổi cổ phiếu
phổ thông tiềm năng thành cổ phiếu phổ thông, doanh nghiệp không tính lại lãi
suy giảm trên cổ phiếu của các kỳ báo cáo trước đó được trình bày trên báo cáo
tài chính.
Trình bày báo cáo
tài chính
64. Doanh nghiệp trình bày trên Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên
cổ phiếu từ lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của
công ty mẹ trong kỳ đối với mỗi loại cổ phiếu phổ thông có quyền nhận lợi nhuận
khác nhau cho kỳ báo cáo. Doanh nghiệp phải trình bày lãi cơ bản trên cổ phiếu
và lãi suy giảm trên cổ phiếu cho tất cả các kỳ báo cáo.
65. Lãi trên cổ phiếu được trình bày
trên Báo cáo kết quả kinh doanh cho tất cả các kỳ báo cáo. Nếu lãi suy giảm trên
cổ phiếu được trình bày cho ít nhất 1 kỳ báo cáo, thì số liệu này cũng phải
được báo cáo cho các kỳ khác nêu trong báo cáo, kể cả khi lãi suy giảm trên cổ
phiếu bằng với lãi cơ bản trên cổ phiếu. Doanh nghiệp có thể trình bày chung
một số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nếu lãi cơ bản trên cổ
phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu bằng nhau.
66. Doanh nghiệp trình bày lãi cơ bản
trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu kể cả trong trường hợp giá trị này
là một số âm (Lỗ trên cổ phiếu).
Trình bày trong
Bản thuyết minh báo cáo tài chính
67. Doanh nghiệp phải trình bày
các thông tin sau:
a) Lợi nhuận hoặc lỗ để tính lãi cơ
bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu, bản đối chiếu lợi nhuận hoặc
lỗ phân bổ cho công ty mẹ trong kỳ. Bản đối chiếu gồm các ảnh hưởng của từng
loại công cụ có tác động tới lãi trên cổ phiếu.
b) Số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ
thông sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu,
bản đối chiếu giữa các số bình quân gia quyền. Bản đối
chiếu sẽ bao gồm ảnh hưởng của từng loại công cụ có tác động tới lãi trên cổ
phiếu.
c) Các công cụ (bao gồm cả cổ phiếu
phát hành có điều kiện) có thể có tác động suy giảm lãi trên cổ phiếu trong
tương lai nhưng không được đưa vào tính lãi suy giảm trên cổ phiếu vì chúng có
tác dụng suy giảm ngược cho kỳ hiện tại hoặc các kỳ được trình
bày.
d) Trình bày các giao
dịch cổ phiếu phổ thông hoặc giao dịch cổ phiếu phổ thông tiềm năng,
không phải là loại giao dịch được hạch toán tuân theo đoạn 62, xảy ra sau ngày
kết thúc kỳ kế toán năm. Nếu những giao dịch đó xảy ra trước ngày kết thúc kỳ
kế toán năm thì sẽ có tác động đáng kể tới số lượng cổ phiếu phổ thông hoặc cổ
phiếu phổ thông tiềm năng lưu hành tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo.
68. Ví dụ về các giao dịch trình bày
trong đoạn 67(d) bao gồm:
a) Phát hành cổ phiếu thu tiền;
b) Phát hành cổ phiếu khi tiền thu
được dùng để trả nợ hoặc thanh toán cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành tại ngày kết
thúc kỳ kế toán năm;
c) Mua lại cổ phiếu phổ thông đang
lưu hành;
d) Chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm
năng đang lưu hành tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm thành cổ phiếu phổ thông;
e) Phát hành quyền chọn, đảm bảo,
hoặc các công cụ chuyển đổi; và
f) Đạt được các điều kiện để phát
hành cổ phiếu có điều kiện.
Doanh nghiệp không phải điều chỉnh
lãi trên cổ phiếu đối với các giao dịch xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm
vì những giao dịch đó không làm ảnh hưởng tới số vốn sử dụng trong việc tạo ra
lợi nhuận hay lỗ trong kỳ.
69. Các công cụ tài chính hay các hợp
đồng khác tạo ra cổ phiếu phổ thông tiềm năng có thể có các điều khoản và điều
kiện gây ảnh hưởng tới việc xác định lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm
trên cổ phiếu. Những điều khoản và điều kiện đó có thể xác định cổ phiếu phổ
thông tiềm năng có tác động suy giảm hay không, cụ thể là xác định tác động lên
số bình quân gia quyền cổ phiếu lưu hành và những điều chỉnh đối với lợi nhuận
hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông.
70. Trường hợp doanh nghiệp
công bố thêm, ngoài lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy giảm trên cổ phiếu, các
số liệu trên cổ phiếu có sử dụng các chỉ tiêu trình bày trên Báo
cáo kết quả kinh doanh không tuân theo quy định của Chuẩn mực này thì những
thông tin trên cổ phiếu đó phải được tính theo số bình quân gia quyền cổ phiếu
phổ thông được xác định theo yêu cầu của Chuẩn mực này. Các số liệu cơ bản và
suy giảm trên cổ phiếu liên quan đến các chỉ tiêu đó phải được trình bày rõ
ràng trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Doanh nghiệp trình bày các cơ sở
để tính lợi nhuận, trong đó bao gồm các số liệu trên cổ phiếu là trước
thuế hay sau thuế./.