|
QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Luật số: 12/2026/QH16
|
Hà Nội, ngày 23 tháng 8 năm 2026
|
LUẬT
PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Chương I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ, nội
dung, hình thức, trách nhiệm quản lý nhà nước, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,
cá nhân, điều kiện bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính
sách.
Điều 2. Quyền,
nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền
thông chính sách
1. Công dân có quyền tiếp cận pháp luật;
thụ hưởng, tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông
chính sách; được hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng
chính sách, pháp luật.
2. Công dân có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có trách nhiệm chủ động
học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
Điều 3. Chính sách
của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
1. Bảo đảm công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị và xã hội, trong đó Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, nòng cốt trong chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện, xây
dựng văn hóa thượng tôn pháp luật trở thành giá trị cốt lõi và nền tảng của đời
sống xã hội.
2. Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù; tạo điều kiện thuận
lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài học tập, tìm hiểu pháp luật Việt
Nam; lồng ghép nguồn lực trong các chương trình, đề án có liên quan.
3. Bảo đảm nội dung giáo dục pháp luật
trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; trang bị kiến thức
pháp luật phù hợp với từng cấp học và ngành, nghề đào tạo của người học.
4. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật,
ý thức chấp hành pháp luật nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương, tính gương mẫu của
cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, cá nhân khác
trong lực lượng vũ trang nhân dân trong hoạt động công vụ, hoạt động nghề nghiệp
và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
5. Ưu tiên, khuyến khích thực hiện chuyển
đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền
thông chính sách; có chính sách phát triển nguồn nhân lực số, bồi dưỡng kỹ năng
số cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính
sách.
Điều 4. Xã hội hóa
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá
nhân tham gia, hỗ trợ nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của
từng thời kỳ, Chính phủ quy định chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham
gia, hỗ trợ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Ngoài các chính sách quy định tại
khoản 2 Điều này, căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh được quyền quyết định chính sách khác để khuyến khích tổ chức,
cá nhân tham gia, hỗ trợ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương.
Điều 5. Nguyên tắc
phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
1. Kịp thời, thường xuyên, liên tục,
chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, công khai và minh bạch.
2. Nội dung, hình thức phù hợp với đặc
điểm, nhu cầu, văn hóa, ngôn ngữ và địa bàn cư trú; lấy người dân, doanh nghiệp
làm trung tâm; đa dạng và kết hợp hài hòa giữa hình thức truyền thống và hiện đại;
đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
3. Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ
chức thi hành pháp luật, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh và hoạt động khác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
4. Bảo đảm tuân thủ pháp luật về bảo vệ
bí mật nhà nước, an ninh mạng, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu
cá nhân và quy định khác của pháp luật có liên quan.
5. Ngoài quy định tại các khoản 1, 2, 3
và 4 Điều này, hoạt động truyền thông chính sách còn phải bảo đảm nguyên tắc
sau đây:
a) Phù hợp với chủ trương, chính sách của
Đảng, nhiệm vụ chính trị, mục tiêu và yêu cầu của chính sách, dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật (sau đây gọi là dự thảo văn bản); bảo đảm tương tác đa chiều,
phản hồi, tiếp thu và giải trình ý kiến, kiến nghị;
b) Khách quan, thiết thực, vì lợi ích
chung, không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động xây dựng, hoàn thiện chính sách, dự
thảo văn bản, chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, trật tự, an toàn xã hội.
Điều 6. Quản lý
nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 7. Hội đồng
phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục
pháp luật là tổ chức có chức năng tư vấn cho Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan, tổ chức ở trung ương, Ủy ban nhân dân về công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, truyền thông chính sách, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và
các giải pháp huy động nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Các
thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật hoạt động kiêm nhiệm.
2. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục
pháp luật được thành lập ở trung ương, cấp tỉnh và cấp xã như sau:
a) Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến,
giáo dục pháp luật ở cấp mình.
3. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục
pháp luật có thể được thành lập ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở
trung ương do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó quyết định.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 8. Ngày Pháp luật
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Ngày 09 tháng 11 hằng năm là Ngày
Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến
pháp, pháp luật, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, xây dựng văn hóa thượng
tôn pháp luật trong xã hội.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Điều 9. Các hành
vi bị nghiêm cấm
1. Cung cấp, trích dẫn, chỉnh sửa, sử dụng,
truyền đạt nội dung pháp luật, nội dung chính sách nhằm làm sai ý nghĩa, nội
dung pháp luật, nội dung chính sách; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật,
trái pháp luật, trái đạo đức xã hội và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
2. Sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ
nhân tạo hoặc các phương tiện khác để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả
mạo hoặc làm sai lệch nội dung pháp luật, nội dung chính sách.
3. Lợi dụng hoạt động phổ biến, giáo dục
pháp luật, truyền thông chính sách để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xuyên
tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động,
gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; ảnh hưởng chính trị, quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng kinh tế, xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
4. Cản trở tổ chức, cá nhân tiếp cận,
tìm hiểu pháp luật; cản trở việc thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật,
truyền thông chính sách của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Lợi dụng hoạt động xã hội hóa công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chính sách ưu tiên, khuyến khích, hỗ trợ của
Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách để trục lợi
hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Chương II
NỘI DUNG,
HÌNH THỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH
Mục 1. PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHUNG CHO TỔ CHỨC,
CÁ NHÂN
Điều 10. Nội dung
phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Hiến pháp, bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác (sau
đây gọi chung là văn bản).
2. Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế.
3. Thông tin về gương người tốt, việc tốt
trong tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
4. Các nội dung khác phù hợp với yêu cầu
quản lý nhà nước, nhu cầu tìm hiểu pháp luật hoặc theo quy định của pháp luật
có liên quan.
Điều 11. Hình thức
phổ biến, giáo dục pháp luật
Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện phổ
biến, giáo dục pháp luật bằng các hình thức sau đây:
1. Cổng Pháp luật quốc gia; cổng, trang
thông tin điện tử; báo chí, phương tiện thông tin đại chúng;
2. Nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng
trí tuệ nhân tạo;
3. Hướng dẫn, giải đáp pháp luật;
4. Thông qua công tác điều tra, thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, xét xử, thi hành án, hoạt động
tổ chức thi hành pháp luật;
5. Thông qua trợ giúp pháp lý, tư vấn
pháp luật, hòa giải, trọng tài thương mại, dịch vụ có liên quan đến pháp lý, đối
thoại, thiết chế thông tin, văn hóa, pháp luật; lồng ghép vào các hoạt động và
sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và hoạt động khác tại cơ sở;
6. Tổ chức diễn đàn, hội nghị, hội thảo,
tọa đàm, họp báo, thi tìm hiểu pháp luật; tủ sách pháp luật, tài liệu pháp luật;
7. Thông qua hoạt động giáo dục pháp luật
trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; hoạt động bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức;
8. Hình thức khác phù hợp với quy định
của pháp luật.
Điều 12. Phổ biến,
giáo dục pháp luật trên cổng, trang thông tin điện tử, báo chí, phương tiện
thông tin đại chúng
1. Cổng, trang thông tin điện tử của cơ
quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và báo chí
phải có chuyên mục, chuyên trang ở vị trí dễ tiếp cận, thời lượng phù hợp, phát
sóng trên khung giờ thu hút đông đảo khán giả, thính giả để thực hiện phổ biến,
giáo dục pháp luật; ưu tiên các nội dung có tác động lớn đến xã hội, liên quan
trực tiếp đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật
trên cổng, trang thông tin điện tử, báo chí, phương tiện thông tin đại chúng thực
hiện theo quy định của Luật này, Luật Báo chí
và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 13. Phổ biến,
giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo
1. Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng
số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực, tạo điều kiện cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân, người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật, phổ biến,
giáo dục pháp luật. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, các cơ quan nhà nước có
trách nhiệm chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ, quản lý dữ liệu pháp luật thuộc phạm
vi quản lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
2. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm
thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, ứng
dụng trí tuệ nhân tạo, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân chủ động tiếp cận
pháp luật.
3. Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham
gia, hỗ trợ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng
xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo; khai thác, sử dụng dữ liệu pháp luật trên Cổng
Pháp luật quốc gia theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện
phổ biến, giáo dục pháp luật trên mạng xã hội thông qua tài khoản chính thức đã
được định danh và xác thực theo quy định của pháp luật.
5. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phổ
biến, giáo dục pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ
nhân tạo và các quy định sau đây:
a) Bảo đảm kiểm soát, cập nhật dựa trên
các nguồn thông tin, dữ liệu chính thức của các cơ quan nhà nước và tính chính
xác của nội dung pháp luật;
b) Thực hiện kiểm chứng thông tin trước
khi cung cấp, gắn nhãn cảnh báo, đính chính thông tin theo quy định của pháp luật;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát triển,
vận hành trí tuệ nhân tạo chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đầu
vào và thông tin do hệ thống của mình cung cấp.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện
phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trí
tuệ nhân tạo có trách nhiệm bảo đảm an toàn về dữ liệu cá nhân theo quy định của
pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
7. Việc giám sát, kiểm tra, thanh tra,
phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động phổ
biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ
nhân tạo thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 14. Phổ biến,
giáo dục pháp luật thông qua hướng dẫn, giải đáp pháp luật
1. Trong phạm vi lĩnh vực được giao phụ
trách, cơ quan, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm hướng dẫn, giải đáp các quy định của pháp luật có liên
quan trực tiếp đến vụ việc khi cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có yêu cầu.
2. Khuyến khích tổ chức cung cấp dịch vụ
pháp lý, dịch vụ khác có liên quan đến pháp lý; cơ sở đào tạo ngành luật; cơ sở
nghiên cứu ngành luật và các tổ chức khác tham gia hướng dẫn, giải đáp pháp luật
miễn phí cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 15. Phổ biến,
giáo dục pháp luật thông qua công tác điều tra, thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp, xét xử, thi hành án và hoạt động tổ chức thi hành pháp luật
1. Cơ quan, người đứng đầu cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp cho đối tượng có liên quan
thông qua công tác điều tra, thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp, xét xử và thi hành án.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện
phổ biến, giáo dục pháp luật cho tổ chức, cá nhân có liên quan thông qua hoạt động
xử lý vi phạm hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đối thoại
với Nhân dân và hoạt động tổ chức thi hành pháp luật khác.
Mục 2. PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỐI TƯỢNG ĐẶC
THÙ
Điều 16. Đối tượng
đặc thù
1. Người dân tộc thiểu số; người dân cư
trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
2. Người lao động trong khu công nghiệp,
khu chế xuất; người lao động có thu nhập thấp.
3. Người bị bạo lực, người có hành vi bạo
lực trong vụ việc bạo lực gia đình, bạo lực học đường hoặc bạo lực khác; nạn
nhân của hành vi mua bán người.
4. Người khuyết tật.
5. Người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ
cận nghèo.
6. Người cao tuổi.
7. Người đang chấp hành án phạt tù, người
được hưởng án treo, người đang chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người
chấp hành xong án phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng; người đang bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính.
8. Đối tượng khác do Chính phủ quy định
căn cứ vào mức độ khó khăn trong tiếp cận pháp luật, nhu cầu phổ biến, giáo dục
pháp luật đặc thù để thực hiện chính sách ưu tiên của Nhà nước phù hợp với từng
thời kỳ.
Điều 17. Chính
sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù
1. Xây dựng và tổ chức thực hiện các
chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng thời kỳ.
2. Tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật,
kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên biệt theo từng nhóm đối tượng đặc
thù cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, người biết tiếng
dân tộc thiểu số, người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 18. Trách nhiệm
phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù
1. Các cơ quan quản lý nhà nước có liên
quan đến đối tượng đặc thù có trách nhiệm hướng dẫn nội dung, hình thức phổ biến,
giáo dục pháp luật, bố trí kinh phí hằng năm và chỉ đạo, tổ chức phổ biến, giáo
dục pháp luật cho đối tượng đặc thù thuộc phạm vi quản lý.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức
chính trị - xã hội và các cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn,
chủ động hoặc phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện phổ biến,
giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm
tổ chức hoặc phối hợp tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật và hỗ trợ, tạo điều
kiện cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện phổ biến, giáo
dục pháp luật cho người lao động của tổ chức, doanh nghiệp mình là đối tượng đặc
thù quy định tại Điều 16 của Luật này, bảo đảm thời gian, địa
điểm phù hợp với tính chất, quy mô, điều kiện sản xuất, kinh doanh.
4. Cơ quan thi hành án, Ủy ban nhân
dân, cơ quan, tổ chức có liên quan chủ động hoặc phối hợp với các cơ quan quy định
tại khoản 1 Điều này thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc
thù quy định tại khoản 7 Điều 16 của Luật này, ưu tiên hướng
dẫn tìm hiểu pháp luật để hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Mục 3. GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC CỦA
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Điều 19. Mục đích,
nội dung, hình thức giáo dục pháp luật
1. Giáo dục pháp luật nhằm trang bị kiến
thức pháp luật, nâng cao kỹ năng sử dụng pháp luật và xây dựng văn hóa thượng
tôn pháp luật cho người học.
2. Giáo dục pháp luật được thực hiện
thông qua chương trình giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa.
3. Nội dung giáo dục pháp luật chính
khóa phải phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo; được lồng ghép trong
chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; thiết kế thành môn học, học
phần riêng hoặc tích hợp phù hợp trong các môn học, học phần khác tại cơ sở
giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
4. Nội dung giáo dục pháp luật ngoại
khóa được lồng ghép thông qua các hoạt động trải nghiệm, giáo dục ngoài giờ
chính khóa của cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
5. Người học tại cơ sở giáo dục đại học,
cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức pháp luật phù hợp với ngành,
nghề đào tạo.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 20. Trách nhiệm
trong giáo dục pháp luật
1. Cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề
nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có
trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho người học phù hợp với từng
cấp học, trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho giáo viên, giảng viên thuộc phạm
vi quản lý được bồi dưỡng về pháp luật.
2. Cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục
nghề nghiệp có trách nhiệm đưa nội dung pháp luật có liên quan đến ngành, nghề
đào tạo của người học vào chương trình đào tạo để tổ chức giảng dạy.
3. Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về giáo dục và đào tạo, Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phổ biến,
giáo dục pháp luật xây dựng, ban hành, triển khai cơ chế phối hợp về giáo dục
pháp luật và hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Mục 4. TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH
Điều 21. Mục đích,
nội dung, hình thức, thời điểm truyền thông chính sách
1. Truyền thông chính sách là hoạt động
cung cấp thông tin và tương tác đa chiều về chính sách, dự thảo văn bản trong
quá trình đề xuất và soạn thảo.
2. Truyền thông chính sách nhằm các mục
đích sau đây:
a) Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách,
pháp luật; tạo sự đồng thuận xã hội trong tổ chức thi hành pháp luật;
b) Cung cấp thông tin kịp thời, chính
xác về nội dung, tác động dự kiến của chính sách giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân
hiểu rõ, tham gia góp ý, hoàn thiện chính sách, dự thảo văn bản và chuẩn bị các
điều kiện cần thiết cho việc tổ chức thi hành văn bản;
c) Tiếp nhận ý kiến, phản hồi của cơ
quan, tổ chức, cá nhân để hoàn thiện chính sách, dự thảo văn bản bảo đảm phù hợp,
khả thi, góp phần nâng cao chất lượng văn bản;
d) Định hướng thông tin để kịp thời đấu
tranh, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật.
3. Nội dung truyền thông chính sách bao
gồm:
a) Sự cần thiết, mục đích, quan điểm
xây dựng, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của chính sách, dự thảo văn bản;
b) Nội dung cơ bản của chính sách, dự
thảo văn bản, ưu tiên nội dung có tác động lớn đến xã hội, có nhiều ý kiến khác
nhau, được dư luận xã hội quan tâm;
c) Nội dung mới hoặc sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ so với quy định hiện hành về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan; quyền,
lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân;
d) Nội dung khác cần thông tin rộng rãi
đến cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.
4. Truyền thông chính sách được thực hiện
thông qua Cổng Pháp luật quốc gia; cổng, trang thông tin điện tử; báo chí; nền
tảng số, mạng xã hội hoặc hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
5. Thời điểm truyền thông chính sách thực
hiện theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 22. Trách nhiệm
thực hiện truyền thông chính sách
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn,
cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm
chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện truyền thông
chính sách bằng hình thức phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 21 của
Luật này; tiếp nhận, tổng hợp, giải trình đầy đủ, công khai và kịp thời các
ý kiến góp ý, phản hồi.
2. Cơ quan báo chí chủ động hoặc phối hợp
với cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản thực hiện
truyền thông chính sách theo quy định của Luật này, Luật Báo chí và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Chương III
TRÁCH
NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Điều 23. Trách nhiệm
của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa
thuận quốc tế
1. Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có
trách nhiệm sau đây:
a) Xây dựng thông cáo báo chí, tài liệu
giới thiệu về văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; biên soạn tài liệu
phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản;
b) Đăng tải thông cáo báo chí, tài liệu
quy định tại điểm a khoản này trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng, trang thông
tin điện tử của cơ quan mình;
c) Cử báo cáo viên pháp luật, người có
trình độ chuyên môn thuộc phạm vi quản lý hoặc giới thiệu chuyên gia tham gia
phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
2. Cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa
thuận quốc tế nhân danh Nhà nước và Chính phủ có trách nhiệm xây dựng thông cáo
báo chí, biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về điều ước quốc tế,
thỏa thuận quốc tế và đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng, trang
thông tin điện tử của cơ quan mình.
3. Cơ quan đề xuất thỏa thuận quốc tế
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này có trách nhiệm biên soạn,
đăng tải tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về thỏa thuận quốc tế trên cổng,
trang thông tin điện tử của cơ quan mình.
4. Chính phủ quy định việc xây dựng
thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản không thuộc trường hợp quy định
tại điểm a khoản 1 Điều này; thời hạn đăng tải thông cáo báo chí, tài liệu giới
thiệu về văn bản và tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều
này.
Điều 24. Trách nhiệm
tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước
1. Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật; phân công Bộ, cơ quan ngang Bộ tổ chức phổ biến,
giáo dục pháp luật đối với các văn bản không do Chính phủ trình hoặc ban hành,
không do Thủ tướng Chính phủ ban hành, không do Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn
thảo hoặc ban hành và điều ước quốc tế không do Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất.
2. Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm
tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản, điều ước quốc tế, thỏa
thuận quốc tế thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách
nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương đối với văn bản của
các cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh và do mình ban hành; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế được ký
kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ và do địa phương mình ký kết.
4. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm
tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về các nội dung thuộc trách nhiệm, phạm vi
quản lý của chính quyền địa phương cấp xã hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện phổ biến, giáo
dục pháp luật tại địa phương.
5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách
nhiệm về kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi
quản lý; chỉ đạo tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức,
viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý.
Điều 25. Trách nhiệm
của cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, đại biểu Quốc hội
1. Cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc
hội có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội do mình chủ trì soạn thảo và các thỏa thuận quốc tế do mình ký kết.
Đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội do đại biểu Quốc hội trình thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội
phân công Văn phòng Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc hoặc Thường trực Ủy
ban của Quốc hội thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật
này;
b) Phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ được
phân công theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này để
phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình chủ trì soạn thảo;
c) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho cán bộ,
công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý chủ động nghiên cứu,
tìm hiểu, học tập pháp luật có liên quan.
2. Đại biểu Quốc hội thực hiện phổ biến,
giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri; tiếp công dân, tiếp nhận
và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; lồng ghép trong hoạt động giám
sát; hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 26. Trách nhiệm
của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước
1. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội do mình trình, các văn bản do mình ban hành, điều ước quốc tế do
mình đề xuất;
b) Phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ được
phân công theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này để
phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình chủ trì soạn thảo, ban
hành hoặc liên tịch ban hành và điều ước quốc tế do mình đề xuất;
c) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho cán bộ,
công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý chủ động nghiên cứu,
tìm hiểu, học tập pháp luật có liên quan.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán nhà nước
có trách nhiệm chủ trì tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do
mình ban hành; phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn,
nghiệp vụ.
Điều 27. Trách nhiệm
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm
sau đây:
a) Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 23 của Luật này đối với văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội do mình trình, thỏa thuận quốc tế do mình ký kết;
b) Phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ được
phân công theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này để
phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản do mình chủ trì soạn thảo, liên tịch
ban hành;
c) Hướng dẫn, tạo điều kiện cho cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động thuộc phạm vi quản lý, hội viên, đoàn viên
của tổ chức mình chủ động nghiên cứu, tìm hiểu, học tập pháp luật có liên quan.
2. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật
cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình; vận động tổ chức, doanh
nghiệp, cá nhân tham gia, hỗ trợ hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; vận động
Nhân dân chấp hành pháp luật.
3. Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước,
cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận
quốc tế, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức khác có liên quan để phổ biến,
giáo dục pháp luật cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình và Nhân
dân theo quy định của Luật này, Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho báo
cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật của cơ quan, tổ chức mình.
Điều 28. Trách nhiệm
của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và
căn cứ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Hội đồng nhân dân
có trách nhiệm sau đây:
a) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành
cơ chế bảo đảm nguồn lực, kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại
địa phương;
b) Hội đồng nhân dân các cấp quyết định
các biện pháp bảo đảm thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, đại
biểu Hội đồng nhân dân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động
tiếp xúc cử tri; tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh; lồng ghép trong hoạt động giám sát; hình thức khác phù hợp với quy định
của pháp luật.
Điều 29. Trách nhiệm
của cơ quan báo chí
1. Chủ động hoặc phối hợp với cơ quan
có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật để phổ biến, giáo dục pháp luật
theo quy định tại Điều 12 của Luật này, Luật Báo chí và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
2. Phản ánh các ý kiến, kiến nghị về nội
dung, vấn đề dư luận xã hội quan tâm để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tăng cường
phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Kịp thời đấu tranh, phản bác các
thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật.
Điều 30. Trách nhiệm
của người sử dụng lao động
1. Chủ động, phối hợp với tổ chức công
đoàn, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội để phổ biến, giáo dục
pháp luật cho người lao động thuộc phạm vi quản lý về quyền, nghĩa vụ của người
lao động, người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
2. Tạo điều kiện cho người lao động
tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật tại doanh nghiệp phù hợp với
điều kiện thực tế.
Điều 31. Trách nhiệm
của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về
pháp luật; cơ sở đào tạo ngành luật, cơ sở đào tạo và bồi dưỡng chức danh tư
pháp và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
1. Tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về pháp luật và tổ chức cung cấp dịch vụ
pháp lý, dịch vụ khác có liên quan đến pháp lý có trách nhiệm sau đây:
a) Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật
thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp;
b) Phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo
văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và cơ quan, tổ chức
có liên quan tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho thành viên, hội viên của
tổ chức mình và Nhân dân.
2. Cơ sở đào tạo ngành luật, cơ sở đào
tạo và bồi dưỡng chức danh tư pháp có trách nhiệm sau đây:
a) Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật
thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp;
b) Phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo
văn bản, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và cơ quan, tổ chức
có liên quan tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho giảng viên, học viên và
sinh viên thuộc phạm vi quản lý;
c) Tham gia bồi dưỡng, nâng cao năng lực
cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;
d) Tạo điều kiện cho giảng viên, học
viên, sinh viên tham gia làm báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật,
người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và hoạt động tình nguyện
phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành pháp luật; giáo dục, tạo điều kiện
cho thành viên khác tìm hiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp
hành pháp luật và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với quy định
của pháp luật.
5. Khuyến khích luật sư, luật gia, tư vấn
viên pháp luật, cá nhân khác thuộc các tổ chức quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật; tham gia bồi dưỡng kiến thức
pháp luật và kỹ năng cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo đề
nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Điều 32. Trách nhiệm
của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp và cá nhân khác trong lực lượng vũ trang nhân dân
1. Tích cực, chủ động tìm hiểu, học tập
pháp luật, chú trọng pháp luật liên quan đến nhiệm vụ được giao; tham gia các
khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và gương mẫu chấp hành
pháp luật.
2. Chủ động, tích cực lồng ghép việc phổ
biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp; hướng dẫn,
giải đáp pháp luật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình giải quyết thủ
tục hành chính và thực hiện nhiệm vụ khác được giao.
3. Phối hợp, hỗ trợ cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến lĩnh vực,
địa bàn công tác.
4. Tiếp nhận, phản ánh ý kiến, kiến nghị
của Nhân dân trong quá trình thực thi công vụ; đề xuất giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 33. Báo cáo
viên pháp luật
1. Báo cáo viên pháp luật là cán bộ,
công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân, luật sư, luật
gia được lựa chọn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật khi đáp ứng đủ các tiêu
chuẩn sau đây:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường
tư tưởng vững vàng và có uy tín trong công tác;
b) Có khả năng truyền đạt;
c) Có trình độ cử nhân luật trở lên và
thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm; trường hợp không
có trình độ cử nhân luật, nhưng có trình độ cử nhân khác thì phải có thời gian
công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.
2. Thẩm quyền lựa chọn báo cáo viên
pháp luật được quy định như sau:
a) Người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ,
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức
chính trị - xã hội lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật của cơ
quan, tổ chức mình.
Người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ
chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp về pháp luật, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
về pháp luật lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật của tổ chức
mình trên cơ sở sự đồng ý của cá nhân được lựa chọn;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa
chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh của địa phương mình;
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa
chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật cấp xã của địa phương mình.
3. Báo cáo viên pháp luật có các quyền
sau đây:
a) Được cung cấp thông tin; được cơ
quan, tổ chức quản lý tạo điều kiện tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật;
b) Được hưởng thù lao theo quy định của
pháp luật;
c) Được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức
pháp luật và kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm
thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.
4. Báo cáo viên pháp luật có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật
theo phân công của cơ quan, tổ chức lựa chọn mình hoặc theo đề nghị của cơ
quan, tổ chức có liên quan; tuân thủ các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật
và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Báo cáo về hoạt động phổ biến, giáo
dục pháp luật đã thực hiện với cơ quan, tổ chức lựa chọn mình.
5. Người đứng đầu Bộ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật quy định chi tiết Điều
này và biện pháp quản lý, bảo đảm cho hoạt động của báo cáo viên pháp luật.
Điều 34. Tuyên
truyền viên pháp luật
1. Tuyên truyền viên pháp luật là người
cư trú hoặc làm việc trên địa bàn cấp xã có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật,
khả năng truyền đạt và được lựa chọn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên
địa bàn cấp xã.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa
chọn, công bố danh sách tuyên truyền viên pháp luật của địa phương mình trên cơ
sở sự đồng ý của cá nhân được lựa chọn.
3. Tuyên truyền viên pháp luật có các
quyền quy định tại khoản 3 và các nghĩa vụ quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật này.
4. Người đứng đầu Bộ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật quy định chi tiết Điều
này và biện pháp quản lý, bảo đảm cho hoạt động của tuyên truyền viên pháp luật.
Điều 35. Người được
mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Người được mời tham gia phổ biến,
giáo dục pháp luật là chuyên gia, người có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu
pháp luật được cơ quan, tổ chức mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Người được mời tham gia phổ biến,
giáo dục pháp luật có các quyền quy định tại điểm a và điểm b
khoản 3, có nghĩa vụ quy định tại điểm a khoản 4 Điều 33 của
Luật này.
Chương IV
CÁC
ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Điều 36. Bảo đảm tổ
chức, nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí cho công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật
1. Người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ,
Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ
quan, tổ chức khác có liên quan có trách nhiệm phân công, bố trí nhân lực, báo
cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật và bảo đảm cơ sở vật chất,
phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật
cho cán bộ, công chức, viên chức được lồng ghép và ưu tiên nội dung trong
chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hằng năm, bảo đảm phù hợp với
yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức.
3. Kinh phí cho công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân
sách nhà nước và huy động từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của
pháp luật; ưu tiên kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 37. Đánh giá
hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
1. Cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến,
giáo dục pháp luật tổ chức đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân theo định kỳ hoặc đột xuất theo quy định của Chính phủ.
2. Người đứng đầu Bộ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật ban hành tiêu chí đánh
giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật dựa trên mức độ tiếp cận pháp luật,
hiểu biết và tuân thủ pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các nội
dung khác phù hợp.
Chương V
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
Điều 38. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 3 năm 2027.
2. Luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 hết
hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật này.
Điều 39. Điều khoản
chuyển tiếp
1. Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật đã được công nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì
tiếp tục làm báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.
2. Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền
viên pháp luật đang làm thủ tục miễn nhiệm, cho thôi theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13
mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành vẫn chưa hoàn thành việc miễn nhiệm,
cho thôi thì tiếp tục thực hiện việc miễn nhiệm, cho thôi theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13.
Luật này được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất
thông qua ngày 23 tháng 8 năm 2026.
|
|
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|